2. Khu vực đất phi nông nghiệp mà chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng:
a) Các thành phố lớn, các khu vực có các thửa đất nhỏ hẹp, xây dựng chưa theo quy hoạch, khu
vực giá trị kinh tế sử dụng đất cao tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:200 hoặc 1:500.
b) Các thành phố, thị xã, thị trấn lớn, các khu dân cư có ý nghĩa kinh tế, văn hoá quan trọng tỷ lệ
đo vẽ cơ bản là 1:500 hoặc 1:1000.
c) Các khu dân cư nông thôn tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:1000 hoặc 1:2000.
3. Khu vực đất lâm nghiệp, đất trồng cây công nghiệp tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:5000 hoặc 1:10000.
4. Khu vực đất chưa sử dụng: thường nằm xen kẽ giữa các loại đất trên nên được đo vẽ và biểu
thị trên bản đồ địa chính đo vẽ cùng tỷ lệ. Khu vực đất đồi, núi, khu duyên hải có diện tích đất
chưa sử dụng lớn tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:10000.
5. Khu vực đất chuyên dùng, đất tôn giáo, tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất sông, suối,
đất có mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp: thường nằm xen kẽ giữa các loại đất trên nên
được đo vẽ và biểu thị trên bản đồ địa chính đo vẽ cùng tỷ lệ cho toàn khu vực.
Ngoài qui định chung về tỷ lệ cơ bản của bản đồ địa chính nêu trên, trong mỗi đơn vị hành chính
cấp xã khi thành lập bản đồ địa chính do có những thửa đất nhỏ, hẹp xen kẽ có thể trích đo riêng
từng thửa đất nhỏ hẹp đó hoặc một cụm thửa hay một khu vực ở tỷ lệ lớn hơn.
Cở sở để chọn tỷ lệ đo vẽ cơ bản và tỷ lệ trích đo phải nêu chi tiết trong thiết kế kỹ thuật - dự toán
công trình (viết tắt là TKKT-DT) thành lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính của đơn vị hành
chính hay khu vực (sau đây gọi chung là khu vực) cần lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính.
Trong trường hợp thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ lớn hơn hoặc nhỏ hơn dãy tỷ lệ nêu trên, phải
tính cụ thể các chỉ tiêu kỹ thuật nhằm đảm bảo yêu cầu về quản lý đất đai và đảm bảo độ chính
xác của các yếu tố nội dung bản đồ ở tỷ lệ lựa chọn trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình của
khu vực.
1.8. Trước khi thành lập bản đồ địa chính phải tiến hành thu thập, phân tích và đánh giá các tư
liệu, tài liệu có liên quan; lập dự án, thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình thành lập bản đồ địa
chính, hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai theo quy định của Bộ Tài nguyên và
Môi trường trên nguyên tắc:
1. Dự án xây dựng hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu quản lý đất đai của tỉnh hoặc dự án thành lập
bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu quản lý đất đai của tỉnh lập trên phạm vi hành
chính của tỉnh, một số huyện thuộc tỉnh hoặc một huyện.
2. Trên cơ sở dự án thành lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý
đất đai đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiến hành khảo sát thực địa, lập thiết kế kỹ thuật -
dự toán công trình. Thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình đo đạc, thành lập bản đồ địa chính, xây
dựng cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính là một phần trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình thành
lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai.
1.9. Dự án, thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình thành lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính, xây
dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, được sử dụng
trong suốt quá trình thi công; là cơ sở pháp lý để kiểm tra, nghiệm thu các sản phẩm đã hoàn
thành và thanh quyết toán công trình.
Khi áp dụng các giải pháp kỹ thuật ngoài quy định của Quy phạm này, cần phải trình bày rõ các
giải pháp kỹ thuật đó trong dự án, thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình.
Trong quá trình thi công nếu phát hiện những vấn đề không phù hợp giữa thiết kế kỹ thuật - dự
toán công trình và thực tế sản xuất, đơn vị sản xuất (hoặc người sản xuất) phải báo cáo bằng văn
bản cho cơ quan duyệt thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình, đồng thời đề xuất biện pháp giải
quyết. Cơ quan duyệt thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình nghiên cứu, giải quyết các vấn đề phát
sinh bằng văn bản để làm cơ sở nghiệm thu các sản phẩm hoàn thành và làm cơ sở thanh quyết
toán công trình.
1.10. Tất cả các loại thiết bị kỹ thuật sử dụng trong thi công phải được kiểm nghiệm chặt chẽ, đầy
đủ trước khi sử dụng và phải bảo quản đúng quy trình, quy định cho từng thiết bị. Số liệu kiểm
nghiệm thiết bị phải được lưu trữ cùng các tài liệu gốc khác.
Quy định kiểm tra các thiết bị kỹ thuật phải được thực hiện trong các trường hợp sau: trước khi
đưa thiết bị kỹ thuật mới vào sử dụng; sau một thời gian dài thiết bị không được sử dụng; khi phát
hiện thiết bị có biến động và kiểm tra định kỳ theo quy định của từng loại thiết bị.
1.11. Quy cách sổ sách, biểu mẫu tính toán sử dụng trong quá trình thi công phải tuân theo đúng
mẫu quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
1.12. Công tác giám sát, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm đo vẽ, lập bản đồ địa chính phải được tiến
hành kịp thời và chặt chẽ theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
1.13. Các phương pháp thành lập bản đồ địa chính gốc
Căn cứ vào mục đích, yêu cầu thành lập bản đồ; tỷ lệ bản đồ; diện tích, hình dạng, kích thước của
thửa đất; mức độ đầy đủ, chính xác và độ tin cậy của các nguồn tài liệu hiện có; điều kiện thời
gian; vật tư kỹ thuật; thiết bị kỹ thuật; công nghệ và trình độ của lực lượng cán bộ kỹ thuật để xác
định phương pháp thành lập bản đồ địa chính gốc cho phù hợp.
Bản đồ địa chính gốc được thành lập bằng các phương pháp chính như sau:
1. Thành lập bằng các phương pháp đo đạc trực tiếp trên mặt đất hay còn gọi là phương pháp đo
vẽ trực tiếp ở thực địa.
2. Thành lập bằng các phương pháp đo vẽ ảnh chụp từ máy bay hoặc các thiết bị bay khác (sau
đây gọi tắt là ảnh máy bay) kết hợp với phương pháp đo vẽ bổ sung trực tiếp ở thực địa hay còn
gọi là phương pháp đo vẽ ảnh máy bay hoặc đo vẽ ảnh hàng không.
Riêng đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000, phương pháp thành lập bản đồ địa chính gốc trên cơ
sở đo vẽ ảnh máy bay được thực hiện qua 2 bước sau:
a) Đo vẽ thành lập bản đồ địa chính cơ sở;
b) Đo vẽ bổ sung bản đồ địa chính cơ sở để thành lập bản đồ địa chính gốc.
Dù bản đồ địa chính gốc được thành lập bằng phương pháp nào cũng phải áp dụng công nghệ số
để đo vẽ bản đồ địa chính gốc.
1.14. Phương pháp thành lập bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính xã
Bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính xã (sau đây gọi là bản đồ địa chính) được biên tập trên
cơ sở bản đồ địa chính gốc quy định ở khoản 1.13 Quy phạm này, đảm bảo thể hiện trọn thửa đất,
các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được xét
duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan trên nguyên tắc mỗi mảnh bản đồ địa chính gốc biên tập thành
một mảnh bản đồ địa chính. Bản đồ địa chính phải được thành lập bằng công nghệ số.
1.15. Phương pháp thành lập bản trích đo địa chính
Bản trích đo địa chính được thành lập chủ yếu bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa và
phải sử dụng thống nhất hệ thống tọa độ ở khoản 1.5 Quy phạm này. Trong trường hợp cá biệt
được phép sử dụng tọa độ tự do nhưng phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý đất đai cấp
tỉnh. Bản trích đo địa chính phải được thực hiện bằng công nghệ số.
1.16. Bản đồ địa chính gốc, bản đồ địa chính, bản trích đo địa chính phải được thể hiện ở dạng
bản đồ số (file dữ liệu) và bản in ra giấy ở tỷ lệ tương ứng kèm theo.
Toàn bộ các yếu tố nội dung bản đồ, khung bản đồ, các ghi chú ngoài khung, ghi chú trên bản đồ
phải biểu thị bằng các ký hiệu tương ứng trong quyển “Ký hiệu bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500,
1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000” do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Trong file số và
trên bản đồ địa chính dạng giấy phải có sự phân biệt giữa các thửa đất đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, những thửa đất đã đăng ký đất đai nhưng chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và những thửa đất chưa đăng ký đất đai.
1.17. Khoảng cách, diện tích, toạ độ các điểm, chiều dài cạnh thửa đất để làm số liệu trong hồ sơ
địa chính phải sử dụng dữ liệu số của số liệu đo gốc hoặc được tính trên cơ sở số liệu đo gốc.
Trường hợp sử dụng bản đồ địa chính vào mục đích không phải là mục đích quy định ở khoản 1.6
Quy phạm này và nếu không sử dụng dữ liệu số thì sai số các yếu tố nội dung xác định trên bản
đồ dạng giấy phụ thuộc vào sai số biến dạng của giấy và sai số xác định các yếu tố đó trong quá
trình đo vẽ ở thực địa và phải xác định cụ thể sai số này ở từng mảnh bản đồ.
1.18. Bản đồ địa chính, bản trích đo địa chính được chỉnh lý khi có thay đổi sau:
1. Xuất hiện thửa đất mới;
2. Thay đổi ranh giới thửa;
3. Thay đổi diện tích;
4. Thay đổi mục đích sử dụng;
5. Xuất hiện mới các đường giao thông, công trình thuỷ lợi và các công trình khác theo tuyến;
6. Thay đổi về mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp;
7. Thay đổi về mốc giới và hành lang an toàn công trình, chỉ giới quy hoạch sử dụng đất;
8. Thay đổi hoặc mới duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất mà có ảnh hưởng đến
thửa đất;
9. Thay đổi về địa danh và các ghi chú trên bản đồ;
10. Thay đổi về địa hình mà có ảnh hưởng đến ranh giới sử dụng đất;
11. Đã thành lập nhưng chưa sử dụng để đăng ký quyền sử dụng đất, kê khai hiện trạng đất đai
hoặc đã sử dụng để đăng ký quyền sử dụng đất, kê khai hiện trạng đất đai nhưng bị gián đoạn
thời gian dài chưa tổ chức xét, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
12. Đã là tài liệu trong hồ sơ địa chính nhưng không được cập nhật đầy đủ thường xuyên những
thay đổi như quy định ở khoản 1.18 này.
1.19. Biên tập lại bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính phải biên tập lại khi có trên 40% tổng số thửa đất trên tờ bản đồ địa chính đã
được chỉnh lý.
Bản đồ địa chính được sử dụng để biên tập lại phải được quản lý cùng hồ sơ địa chính theo quy
định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
1.20. Điểm địa chính phải được xác định bằng hệ thống mốc cố định, ổn định lâu dài. Trường hợp
bắt buộc phải chọn điểm địa chính trong khu vực mà sẽ bị thay đổi do đã có quy hoạch, trong hành
lang mở rộng các công trình dạng tuyến, trong khu vực đang xây dựng thì được phép sử dụng cọc
gỗ, đinh sắt và phải quy định cụ thể trong TKKT-DT công trình. Vị trí điểm địa chính (khôi phục
hoặc mới xây dựng) khi chôn mốc cố định, lâu dài phải có sự thoả thuận giữa chủ sử dụng đất
(nơi chôn mốc) với đơn vị thi công bằng văn bản theo quy định tại mẫu ở phụ lục 3; khi chọn, chôn
mốc ở khu vực đất công, đất chưa sử dụng, đơn vị thi công phải thông báo bằng văn bản cho Ủy
ban nhân dân xã sở tại theo mẫu ở phụ lục 5b.
Điểm địa chính phải chôn mốc cố định, ổn định lâu dài đảm bảo mật độ quy định ở khoản 2.12
Quy phạm này.
1.21. Các quy định ở các mục tiếp theo trong Quy phạm này áp dụng chung cho công tác đo đạc,
thành lập bản đồ địa chính gốc, bản đồ địa chính, bản trích đo địa chính và sẽ gọi chung là bản đồ
địa chính. Trường hợp nào cần nêu riêng cho loại hình công việc, sản phẩm mới nêu riêng.
2. CƠ SỞ TOÁNHỌC VÀ ĐỘ CHÍNH XÁC ĐO ĐẠC, LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH
2.1. Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000 được thành lập ở múi
chiếu 3o trên mặt phẳng chiếu hình, trong hệ toạ độ Quốc gia VN-2000 và độ cao Nhà nước hiện
hành (xem phụ lục 1a). Kinh tuyến gốc (00) được quy ước là kinh tuyến đi qua GRINUYT. Điểm
gốc của hệ toạ độ mặt phẳng (điểm cắt giữa kinh tuyến trục của từng tỉnh và xích đạo) có X = 0
km, Y = 500 km. Điểm gốc của hệ độ cao là điểm độ cao gốc ở Hòn Dấu - Hải Phòng. Kinh tuyến
trục của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quy định ở phụ lục 1b.
Trường hợp có sự chia tách, sáp nhập thành tỉnh mới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ quy định
kinh tuyến trục cho tỉnh mới trên cơ sở đảm bảo yêu cầu của quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh và
chuyển đổi dữ liệu quản lý đất đai (nếu có) là ít nhất.
2.2. Chia mảnh, đánh số hiệu mảnh và ghi tên gọi của mảnh bản đồ địa chính gốc theo nguyên tắc
sau:
1. Chia mảnh và đánh số hiệu mảnh bản đồ
a) Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10000
Dựa vào lưới kilômet (km) của hệ toạ độ mặt phẳng theo kinh tuyến trục cho từng tỉnh và xích đạo,
chia thành các ô vuông. Mỗi ô vuông có kích thước thực tế là 6 x 6 km tương ứng với một mảnh
bản đồ tỷ lệ 1:10000. Kích thước hữu ích của bản đồ là 60 x 60 cm tương ứng với diện tích là
3600 ha.
Số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10000 gồm 8 chữ số: 2 số đầu là 10, tiếp sau là dấu gạch nối (-),
3 số tiếp là số chẵn kilômet (km) của toạ độ X, 3 chữ số sau là 3 số chẵn kilômet (km) của toạ độ Y
của điểm góc trái trên của mảnh bản đồ (xem phụ lục 2). Trục toạ độ X tính từ xích đạo có giá trị X
= 0 km, trục toạ độ Y có giá trị Y = 500km trùng với kinh tuyến trục của tỉnh (xem phụ lục 1b).
b) Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000
Chia mảnh bản đồ 1:10000 thành 4 ô vuông. Mỗi ô vuông có kích thước thực tế là 3 x 3 km tương
ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000. Kích thước hữu ích của bản đồ là 60 x 60 cm tương ứng
với diện tích 900 ha.
Số hiệu mảnh bản đồ đánh theo nguyên tắc tương tự như đánh số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10000
nhưng không ghi số 10 (xem phụ lục 2).
c) Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000
Chia mảnh bản đồ 1:5000 thành 9 ô vuông. Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 1 x 1 km tương ứng
với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000. Kích thước hữu ích của bản đồ là 50 x 50 cm tương ứng với
diện tích 100 ha.
Các ô vuông được đánh số thứ tự theo chữ số Ả Rập từ 1 đến 9 theo nguyên tắc từ trái sang phải,
từ trên xuống dưới. Số hiệu của mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 bao gồm số hiệu mảnh 1:5000, gạch nối
và số thứ tự ô vuông (xem phụ lục 2).
d) Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000
Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 thành 4 ô vuông. Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,5 x 0,5 km
tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000. Kích thước hữu ích của bản đồ là 50 x 50 cm tương
ứng với diện tích 25 ha.
Các ô vuông được đánh thứ tự bằng các chữ cái a, b, c, d theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ
trên xuống dưới. Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000,
gạch nối và số thứ tự ô vuông (xem phụ lục 2).
đ) Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500
Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 thành 16 ô vuông. Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,25 x 0,25
km tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500. Kích thước hữu ích của bản đồ là 50 x 50 cm
tương ứng với diện tích 6,25 ha.
Các ô vuông được đánh số thứ tự từ 1 đến 16 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống
dưới. Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000, gạch nối và số
thứ tự ô vuông trong ngoặc đơn (xem phụ lục 2).
e) Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:200
Chia mảnh bản đồ 1:2000 thành 100 ô vuông. Mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,10 x 0,10 km
tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:200. Kích thước hữu ích của bản đồ là 50 x 50 cm tương
ứng với diện tích 1,00 ha.
Các ô vuông được đánh số thứ tự từ 1 đến 100 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống
dưới. Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:200 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1: 2000, gạch nối và số
thứ tự ô vuông (xem phụ lục 2).
2. Tên gọi của mảnh bản đồ: tên gọi của mảnh bản đồ địa chính gốc là tên của đơn vị hành chính
(Tỉnh - Huyện - Xã) đo vẽ bản đồ.
3. Phá khung bản đồ
Khi lập bản đồ địa chính gốc, trong trường hợp khu vực đo vẽ có biển, phần lãnh thổ của nước
láng giềng hoặc đơn vị hành chính bên cạnh không cùng một khu đo (đã có hoặc chưa có bản đồ
địa chính) chiếm phần lớn diện tích của mảnh bản đồ mà phần đất liền (hoặc phần lãnh thổ Việt
Nam) hay phần diện tích của đơn vị hành chính cần đo vẽ bản đồ chỉ chiếm khoảng 1/5 diện tích
hoặc nhỏ hơn thì cho phép ghép vào mảnh bản đồ kề sát. Mảnh bản đồ kề sát được phép mở
rộng kích thước khung (gọi là phá khung) nhưng đường khung mở rộng này vẫn phải lấy chẵn 10
hoặc 20 cm trên bản đồ.
Kích thước của mảnh bản đồ vẽ phá khung quy định trên cơ sở khả năng cho phép, thuận tiện cho
quản lý, sử dụng. Kích thước các mảnh bản đồ vẽ phá khung phải quy định rõ trong thiết kế kỹ
thuật - dự toán công trình.
2.3. Chia mảnh, đánh số phiên hiệu mảnh và ghi tên gọi của mảnh bản đồ địa chính theo đơn vị
hành chính cấp xã (gọi là bản đồ địa chính)
Bản đồ địa chính được phân mảnh cơ bản theo nguyên tắc một mảnh bản đồ địa chính gốc là một
mảnh bản đồ địa chính. Kích thước khung trong của bản đồ địa chính lớn hơn kích thước khung
trong theo hệ thống chia mảnh ở khoản 2.2 Quy phạm này là 10 hoặc 20 cm (nghĩa là các mảnh
bản đồ địa chính trong đơn vị hành chính xã có độ gối phủ là 20 hoặc 40 cm ở mỗi cạch khung
bản đồ).
Tên gọi của mảnh bản đồ địa chính là tên của đơn vị hành chính (Tỉnh - Huyện - Xã) lập bản đồ.
Số hiệu mảnh bản đồ địa chính bao gồm số hiệu của mảnh bản đồ địa chính gốc đánh số theo
khoản 2.2 (xem phụ lục 2) và số thứ tự của tờ bản đồ địa chính đánh theo đơn vị hành chính xã
bằng số Ả Rập từ 01 đến hết theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới cho tất cả các
tỷ lệ đo vẽ và không trùng nhau trong một đơn vị hành chính xã.
Trong trường hợp có các bản trích đo địa chính thì chia mảnh, đánh số hiệu, ghi tên gọi của bản
trích đo địa chính theo khoản 2.4 Quy phạm này.
Đối với các địa phương có tập quán quản lý địa chính ở cấp xã theo làng, thôn, ấp, bản được
phép phân mảnh bản đồ địa chính phù hợp với tình hình quản lý của địa phương theo nguyên tắc
tương tự như quy định trên, đảm bảo mỗi làng, thôn, ấp, bản có một số tờ bản đồ địa chính cho
phần diện tích được giao quản lý. Trong trường hợp này tên gọi của mảnh bản đồ địa chính phải
thêm tên làng, thôn, ấp, bản và nếu có yêu cầu này phải có quy định cụ thể trong thiết kế kỹ thuật -
dự toán công trình thành lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính của khu vực.
2.4. Chia mảnh, đánh số hiệu, ghi tên gọi của bản trích đo địa chính
Trong trường hợp trên một mảnh bản đồ địa chính có khu vực trích đo hoặc đo vẽ ở tỷ lệ lớn hơn
tỷ lệ bản đồ địa chính cơ bản của đơn vị hành chính (sau đây gọi chung là bản trích đo địa chính),
phương pháp chia mảnh, đánh số hiệu, ghi tên gọi cho bản trích đo địa chính phải căn cứ vào quy
mô (độ lớn) của khu vực trích đo để chọn một trong hai phương pháp sau:
1. Phương pháp thứ nhất: chia mảnh, đánh số hiệu mảnh, ghi tên gọi của bản trích đo địa chính
tuần tự từ tỷ lệ bản đồ địa chính đến tỷ lệ trích đo địa chính theo quy định ở các khoản 2.2, 2.3
Quy phạm này.
2. Phương pháp thứ hai: chia mảnh tự do theo chẵn lưới kilômét 10 x 10 cm của bản đồ địa chính
nhưng vẫn phải có lưới kilômet ở tỷ lệ trích đo. Ngoài số hiệu, tên gọi của mảnh bản đồ địa chính
phải có thêm: trích đo thửa hoặc trích đo khu đất số. . . . Kích thước mảnh trích đo không quá 70 x
70 cm.
Trường hợp các thửa nhỏ ở rải rác có thể trích đo riêng từng thửa ở ngoài khung bản đồ; số thứ
tự thửa đất trích đo phải đúng như số thứ tự thửa đất trên bản đồ.
Trường hợp theo yêu cầu của người sử dụng đất mà phải trích đo khi trên địa bàn địa phương
chưa có bản đồ địa chính thì cơ quan tài nguyên môi trường cấp tỉnh quy định phương pháp đánh
số hiệu bản trích đo phù hợp với tình hình quản lý đất đai ở địa phương.
2.5. Đánh số phiên hiệu bản trích đo địa chính, ghi tên gọi của bản trích đo trong trường hợp được
phép sử dụng tọa độ tự do
Chia mảnh tự do theo chẵn lưới kilômet 10 x 10 cm ở tỷ lệ trích đo địa chính. Tên gọi và số hiệu
của bản trích đo địa chính là : Bản trích đo địa chính số . . . năm . . . . . Số của bản trích đo địa
chính tọa độ tự do đánh liên tục từ 01 đến hết trong một năm. Sang năm tiếp theo lại quay lại từ 01
đến hết trong năm tiếp theo.
2.6. Tọa độ của các điểm góc khung bản đồ, của giao điểm lưới kilômet, của các điểm khống chế
toạ độ Nhà nước, các điểm địa chính, các điểm khống chế đo vẽ, điểm trạm đo và các điểm mia
chi tiết phải được tính tọa độ ở múi 3o theo kinh tuyến trục cho từng tỉnh, thành phố.
2.7. Trên bản đồ địa chính phải có giao điểm của lưới kilômet, chẵn từng 10cm một.
2.8. Về nguyên tắc, yếu tố địa hình chỉ thể hiện trên bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000, trên bản đồ địa
chính tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 không thể hiện yếu tố địa hình. Trong trường hợp
có yêu cầu thể hiện địa hình thì trên mỗi mảnh bản đồ chỉ thể hiện khái quát địa hình bằng một
khoảng cao đều cơ bản hoặc dùng hình thức ghi chú độ cao đối với vùng bằng phẳng. Khoảng
cao đều đường bình độ cơ bản có thể là 1 m, 2 m, 5 m hoặc 10 m tuỳ khu vực thành lập bản đồ.
Nếu dùng hình thức ghi chú độ cao thì trên 1 dm2 bản đồ phải có không ít hơn 5 điểm.
Việc cần thiết hay không cần thiết biểu thị địa hình trên bản đồ địa chính do cơ quan tài nguyên
môi trường cấp tỉnh quyết định trên nguyên tắc các yếu tố biểu thị trên bản đồ mà bị biến dạng do
ảnh hưởng của địa hình đều phải được cải chính ảnh hưởng của địa hình.
2.9. Cơ sở khống chế toạ độ, độ cao trong đo vẽ bản đồ địa chính gồm:
1. Lưới toạ độ và độ cao Nhà nước các hạng.
2. Lưới địa chính, lưới độ cao kỹ thuật.
3. Lưới khống chế đo vẽ, điểm khống chế ảnh (gọi chung là lưới khống chế đo vẽ).
2.10. Trong trường hợp lưới toạ độ và độ cao Nhà nước các hạng bị mất hoặc chưa đủ mật độ
cần chêm dày lưới toạ độ Nhà nước. Quy định chêm dày và độ chính xác của lưới phải tuân theo
các quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
2.11. Mật độ các điểm toạ độ các hạng I, II, III, IV, điểm địa chính cơ sở (gọi chung là điểm toạ độ
Nhà nước) phục vụ cho xây dựng lưới địa chính, lưới khống chế đo vẽ, lưới khống chế ảnh khi đo
vẽ bản đồ địa chính được xác định dựa trên yêu cầu về quản lý đất đai, mức độ phức tạp, khó
khăn trong đo vẽ bản đồ, phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ và công nghệ thành lập bản đồ địa chính.
Để đo vẽ bản đồ tỷ lệ 1:5000 - 1:10000 trên diện tích từ 20 - 30 km2 có tối thiểu một điểm toạ độ
Nhà nước.
Để đo vẽ bản đồ tỷ lệ 1:200 - 1:2000 trên diện tích từ 10 - 15 km2 có tối thiểu một điểm toạ độ Nhà
nước.
Riêng ở khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu có cấu trúc xây dựng dạng đô thị, khu đất có giá trị
kinh tế cao, trên diện tích trung bình 5 - 10 km2 có tối thiểu một điểm toạ độ Nhà nước.
Để đo vẽ bản đồ địa chính bằng phương pháp sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ ở thực
địa trên diện tích 20 đến 30 km2 có một điểm toạ độ Nhà nước (không phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ).
Lưới toạ độ Nhà nước hiÖn nay đã phủ trùm toàn quốc với mật độ điểm trung bình từ 10 - 20 km2
có một điểm. Mật độ này đảm bảo để phục vụ công tác đo đạc địa chính.
2.12. Mật độ các điểm toạ độ Nhà nước, điểm địa chính phục vụ cho đo vẽ bản đồ địa chính được
quy định như sau:
1. Thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa
Để đo vẽ bản đồ tỷ lệ 1:5000 - 1:10000, trên diện tích khoảng 5 km2 có một điểm từ địa chính trở
lên.
Để đo vẽ bản đồ tỷ lệ 1:500 - 1: 2000, trên diện tích từ 1 đến 1,5 km2 có một điểm từ địa chính trở
lên.
Để đo vẽ bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, bản đồ địa chính ở khu công nghiệp, khu có cấu trúc xây
dựng dạng đô thị, khu đất có giá trị kinh tế cao, khu đất ở đô thị có diện tích các thửa nhỏ, đan xen
nhau, trên diện tích trung bình 0,3km2 (30 ha) có một điểm từ địa chính trở lên.
Quy định trên áp dụng cho cả trường hợp có trích đo khu dân cư hoặc trích đo các thửa, các cụm
thửa ở tỷ lệ lớn hơn tỷ lệ bản đồ cơ bản của khu vực.
Trường hợp đặc biệt, khi đo vẽ lập bản đồ địa chính mà diện tích nhỏ hơn 30 ha đến trên 5 ha,
mật độ từ điểm địa chính trở lên tối thiểu để phục vụ đo vẽ là 2 điểm.
2. Thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000; 1:5000; 1:10000 bằng phương pháp có sử dụng ảnh
máy bay kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa
Để thành lập bản đồ địa chính bằng các phương pháp có sử dụng ảnh máy bay kết hợp với đo vẽ
bổ sung ở thực địa chỉ cần mật độ điểm (các cấp, hạng) theo quy định ở khoản 2.11 của Quy
phạm này.
Để phục vụ việc trích đo các khu vực trong phạm vi đo vẽ bản đồ địa chính bằng các phương pháp
có sử dụng ảnh chụp từ máy bay, nếu diện tích trích đo lớn hơn 5 ha thì được phép lập lưới địa
chính bổ sung. Mật độ điểm từ điểm địa chính trở lên theo quy định ở điểm 1 khoản 2.12 này.
2.13. Các điểm toạ độ Nhà nước đã được đồng thời xác định độ cao. Các điểm địa chính phải
được xác định độ cao với độ chính xác độ cao kỹ thuật.
Mật độ điểm khống chế toạ độ mặt phẳng và độ cao nêu trên là mật độ trung bình phục vụ cho đo
vẽ chi tiết. Khi thiết kế lưới toạ độ, độ cao cần khảo sát tỷ mỉ, bố trí điểm phù hợp và chọn phương
pháp đo thích hợp để giảm bớt số lượng điểm nhưng phải đảm bảo độ chính xác đo vẽ chi tiết và
thuận tiện cho thi công.
Trong trường hợp sử dụng công nghệ GPS để lập lưới khống chế đo vẽ, cho phép không nhất
thiết phải thiết lập lưới điểm địa chính, lưới độ cao kỹ thuật trên phạm vi khu đo nhưng phải trình
bày rõ trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình.
2.14. Sai số trung bình vị trí mặt phẳng của điểm khống chế đo vẽ sau bình sai so với điểm khống
chế toạ độ từ điểm địa chính trở lên gần nhất không quá 0,10 mm tính theo tỷ lệ bản đồ thành lập.
Đối với khu vực đất ở đô thị sai số nói trên không vượt quá 6 cm cho tỷ lệ 1:500; 1:1000 và 4 cm
cho 1:200.
Sai số trung bình về độ cao của điểm khống chế đo vẽ (nếu có yêu cầu thể hiện địa hình) sau bình
sai so với điểm độ cao kỹ thuật gần nhất không quá 1/10 khoảng cao đều đường bình độ cơ bản.
Trong trường hợp thành lập bản đồ bằng các phương pháp đo vẽ ảnh hàng không thì độ chính xác
xác định toạ độ mặt phẳng và độ cao của điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp phục vụ cho công tác
tăng dày điểm đo vẽ ảnh phải tương đương với độ chính xác xác định toạ độ của điểm khống chế
đo vẽ nêu trên.
Trong trường hợp bay chụp ảnh có xác định tọa độ tâm chiếu hình thì độ chính xác xác định toạ độ
tâm chiếu hình phải tương đương với độ chính xác xác định điểm khống chế đo vẽ.
2.15. Sai số đưa các điểm góc khung bản đồ, giao điểm của lưới kilômét, các điểm tọa độ Nhà
nước, các điểm địa chính, các điểm có toạ độ khác lên bản đồ địa chính số được quy định là bằng
không (không có sai số).
2.16. Trên bản đồ địa chính in trên giấy sai số độ dài cạnh khung bản đồ không vượt quá 0,2 mm,
đường chéo bản đồ không vượt quá 0,3 mm, khoảng cách giữa điểm tọa độ và điểm góc khung
bản đồ (hoặc giao điểm của lưới kilômét) không vượt quá 0,2 mm so với giá trị lý thuyết. Trường
hợp vượt các hạn sai quy định, khi sử dụng các số liệu đo trên bản đồ in trên giấy phải cải chính
độ biến dạng của giấy vào kết quả đo.
2.17. Sai số trung bình vị trí các điểm trên ranh giới thửa đất biểu thị trên bản đồ địa chính số so
với vị trí của điểm khống chế đo vẽ (hoặc điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp) gần nhất không được
vượt quá:
5 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200
7 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500
15 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000
30 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000
150 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000
300 cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000
Quy định sai số nêu trên ở tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000 áp dụng cho trường hợp đo vẽ đất đô
thị và đất khu vực có giá trị kinh tế cao; trường hợp đo vẽ đất khu dân cư nông thôn ở tỷ lệ 1:500,
1:1000, 1:2000 các sai số nêu trên được phép tới 1,5 lần; trường hợp đo vẽ đất nông nghiệp ở tỷ
lệ 1:1000 và 1:2000 các sai số nêu trên được phép tới 2 lần.
2.18. Sai số trung bình vị trí các điểm trên ranh giới thửa đất biểu thị trên bản đồ địa chính in trên
giấy (sau khi đã cải chính độ biến dạng của giấy in bản đồ) so với vị trí của điểm khống chế đo vẽ
(hoặc điểm khống chế ảnh) gần nhất không được vượt quá 0,3 mm đối với bản đồ tỷ lệ 1:200,
1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và không vượt quá 0,4 mm đối với bản đồ tỷ lệ 1:10000.
2.19. Sai số trung bình độ dài giữa các điểm trên cùng cạnh thửa đất, sai số trung bình độ dài
cạnh thửa đất, sai số tương hỗ trung bình giữa các điểm trên hai cạnh thửa đất trên bản đồ địa
chính số và trên bản đồ địa chính in trên giấy không vượt quá 1,5 lần quy định tại các khoản 2.17,
2.18 nêu trên tương ứng với từng dạng bản đồ địa chính.
2.20. Sai số trung bình về độ cao của đường bình độ, độ cao của điểm đặc trưng địa hình, độ cao
của điểm ghi chú độ cao biểu thị trên bản đồ địa chính (nếu có yêu cầu biểu thị) so với độ cao của
điểm khống chế độ cao ngoại nghiệp gần nhất không quá 1/3 khoảng cao đều đường bình độ cơ
bản ở vùng đồng bằng và không quá 1/2 khoảng cao đều đường bình độ cơ bản ở vùng đồi núi,
núi cao, vùng ẩn khuất.
2.21. Sai số giới hạn của vị trí điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm của lưới khống chế đo vẽ
không vượt quá hai lần các sai số quy định ở khoản 2.14. Khi kiểm tra, sai số lớn nhất về vị trí
điểm khống chế ảnh, điểm của lưới đo vẽ không được vượt quá sai số giới hạn và số lượng sai số
có giá trị bằng hoặc gần bằng (từ 70 đến 100%) sai số giới hạn không được vượt quá:
Về mặt phẳng: 5% tổng số các trường hợp kiểm tra.
Về độ cao (nếu có): 5% tổng số các trường hợp kiểm tra ở vùng quang đãng và 10% tổng số các
trường hợp kiểm tra ở vùng ẩn khuất.
Trong mọi trường hợp các sai số nêu trên không được mang tính hệ thống.
2.22. Sai số giới hạn vị trí điểm trên ranh giới thửa đất, điểm đỉnh thửa đất, độ dài cạnh thửa đất;
sai số giới hạn độ cao đường bình độ, độ cao điểm đặc trưng địa hình, điểm ghi chú độ cao (khi có
yêu cầu biểu thị) quy định là 2 lần sai số nêu ở các khoản 2.17, 2.18, 2.19, 2.20 nêu trên và không
quá 3 lần đối với các điểm địa vật khác không nằm trên ranh giới thửa đất. Khi kiểm tra, sai số lớn
nhất không được vượt quá sai số giới hạn. Số lượng sai số có giá trị bằng hoặc gần bằng (từ 70%
đến 100%) sai số giới hạn không quá 5 % tổng số các trường hợp kiểm tra. Trong mọi trường hợp
các sai số nêu trên không được mang tính hệ thống.
2.23. Trong trường hợp có nhu cầu đo tọa độ điểm, đo chiều dài cạnh thửa đất, đo chiều dài giữa
2 điểm trên bản đồ địa chính in trên giấy mà sai số độ dài cạnh khung bản đồ, sai số đường chéo
bản đồ vượt quá quy định ở khoản 2.16 Quy phạm này thì phải cải chính sai số biến dạng giấy in
bản đồ vào kết quả đo.
2.24. Sau khi có dữ liệu số của bản đồ địa chính, mỗi thửa đất đều phải lập hồ sơ kỹ thuật thửa
đất. Mẫu hồ sơ kỹ thuật thửa đất quy định ở phụ lục 11. Độ chính xác tọa độ điểm trên ranh giới
thửa đất, điểm đỉnh thửa đất, chiều dài cạnh thửa đất quy định ở khoản 2.17 và 2.19 tương ứng
với độ chính xác đo đạc, thành lập bản đồ địa chính số. Khoảng cách, tọa độ trong hồ sơ kỹ thuật
thửa đất thể hiện đến centimét (cm) đối với mọi tỷ lệ bản đồ thành lập.
Khi đo kiểm tra, số chênh giữa tọa độ và kích thước thửa đất ghi trong hồ sơ kỹ thuật thửa đất và
số đo kiểm tra không được vượt quá 1,5 lần giá trị quy định ở khoản 2.17, 2.19. Số lượng độ lệch
xấp xỉ giới hạn (70% đến 100% giá trị giới hạn) không được vượt quá 5% tổng các tọa độ hoặc
khoảng cách được kiểm tra.
Các số chênh trong mọi trường hợp không được mang tính hệ thống.
Hồ sơ kỹ thuật thửa đất phải đính kèm với bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất (phụ lục 10a) và
là một thành phần không tách rời bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính.
Đối với các thửa đất sau khi đã đăng ký quyền sử dụng đất, đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì hồ sơ kỹ thuật thửa đất phải phù hợp với số liệu về thửa đất đã được đăng ký
quyền sử dụng đất, ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2.25. Số liệu đo kiểm tra các yếu tố nội dung bản đồ địa chính phải được so sánh với số liệu trên
bản đồ địa chính số, không được so sánh với số liệu đo lại trên bản đồ địa chính in trên giấy.
3. NỘI DUNG BẢN ĐỒ. NGUYÊN TẮC BIỂU THỊ NỘI DUNG BẢN ĐỒ
3.1. Các yếu tố nội dung phải biểu thị trên bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200,1:500, 1: 1000, 1:2000,
1:5000 và 1:10000 bao gồm:
1. Cơ sở toán học của bản đồ;
2. Điểm khống chế toạ độ, độ cao Nhà nước các hạng, điểm địa chính, điểm độ cao kỹ thuật; điểm
khống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc ổn định;
3. Địa giới hành chính (sau đây viết tắt là ĐGHC) các cấp, mốc ĐGHC; đường mép nước thủy
triều trung bình thấp nhất (đường mép nước triều kiệt) trong nhiều năm (đối với các đơn vị hành
chính giáp biển);
4. Mốc quy hoạch, chỉ giới quy hoạch, ranh giới hành lang an toàn giao thông, thuỷ lợi, điện và các
công trình khác có hành lang an toàn; ranh giới quy hoạch sử dụng đất;
5. Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất và các yếu tố nhân tạo, tự
nhiên chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các tài sản gắn liền với đất;
6. Dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao (nếu có yêu cầu thể hiện);
7. Các ghi chú thuyết minh, thông tin pháp lý của thửa đất (nếu có).
3.2. Khi biểu thị các yếu tố nội dung quy định ở khoản 3.1 nêu trên lên bản đồ địa chính phải tuân
theo các quy định trong “Ký hiệu bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và
1:10000” do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.
3.3. Độ chính xác biểu thị nội dung bản đồ phải đảm bảo các quy định tại các khoản 2.14, 2.15,
2.17, 2.18, 2.19, 2.20 Quy phạm này.
3.4. Những yếu tố xã hội, tự nhiên đã có quy hoạch được duyệt đã công bố công khai và đã thể
hiện tính quy hoạch trên thực địa bằng mốc, chỉ giới quy hoạch hoặc quy định phân vạch quy
hoạch mới xác định và biểu thị trên bản đồ. Các trường hợp quy hoạch còn lại chỉ biểu thị khi có
yêu cầu cụ thể.
Trường hợp chuyển các nội dung quy hoạch từ bản đồ quy hoạch mà các yếu tố này chưa được
thể hiện ở thực địa phải nêu rõ độ chính xác của bản đồ quy hoạch, độ chính xác chuyển vẽ và độ
tin cậy thể hiện các yếu tố quy hoạch này trên bản đồ địa chính. Tài liệu này được đính kèm bản
đồ địa chính và là một thành phần không tách rời của bản đồ địa chính có liên quan đến yếu tố quy
hoạch được chuyển vẽ.
3.5. Về nguyên tắc, trên bản đồ địa chính không được vẽ gộp các thửa đất. Tất cả các thửa đất
nhỏ khó thể hiện trên bản đồ địa chính hoặc thể hiện có thể gây nhầm lẫn đều phải có bản trích đo
hoặc vẽ cụ thể, chi tiết cho từng thửa ở ngoài khung bản đồ. Trường hợp bắt buộc phải vẽ gộp thì
phải có bản trích đo kèm theo. Các bản trích đo này phải đính kèm bản đồ địa chính và là một
phần của bản đồ địa chính.
Không được xê dịch ranh giới sử dụng đất, chỉ giới quy hoạch, mốc quy hoạch, địa giới hành chính
các cấp để biểu thị các yếu tố khác khi vẽ trên bản đồ. Trường hợp ranh giới sử dụng đất trùng với
địa giới hành chính thì phải ưu tiên thể hiện ranh giới sử dụng đất.
Các yếu tố nội dung không phải là ranh giới sử dụng đất, ĐGHC các cấp, chỉ giới quy hoạch, mốc
quy hoạch được phép tổng hợp lấy, bỏ phù hợp với quy định nội dung bản đồ.
3.6. Điểm khống chế toạ độ, độ cao Nhà nước các hạng, điểm địa chính, điểm độ cao kỹ thuật và
các điểm khống chế đo vẽ, các điểm chi tiết
Tất cả các điểm khống chế toạ độ Nhà nước các cấp hạng, các điểm địa chính cấp I, II, các điểm
toạ độ của các Bộ, Ngành đã được Tổng cục Địa chính trước đây hoặc Bộ Tài nguyên và Môi
trường đánh giá tương đương với các cấp, hạng của Nhà nước, các điểm địa chính theo quy định
của Quy phạm này, các điểm trong lưới khống chế đo vẽ, các điểm khống chế ảnh, điểm trạm đo,
các điểm mia chi tiết đều phải đưa lên bản đồ bằng toạ độ hoặc bằng các số liệu đo trực tiếp ở
thực địa (sau khi đã được cải chính do ảnh hưởng của địa hình).
Tất cả các điểm độ cao đều phải đưa lên bản đồ bằng toạ độ (nếu có toạ độ mặt phẳng) hoặc xác
định tương quan giữa các địa vật khi được cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh chấp thuận
và phải được quy định trong TKKT-DT công trình.
3.7. Địa giới hành chính các cấp
Biên giới Quốc gia và cột mốc chủ quyền Quốc gia thể hiện trên bản đồ phải phù hợp với Hiệp
định đã được ký kết giữa Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước lân cận; ở
khu vực chưa có Hiệp ước, Hiệp định thể hiện theo quy định của Bộ Ngoại giao.
Địa giới hành chính các cấp biểu thị trên bản đồ địa chính phải phù hợp với hồ sơ địa giới hành
chính; các văn bản pháp lý có liên quan đến việc điều chỉnh địa giới hành chính các cấp. Riêng
ranh giới sử dụng đất của các đơn vị hành chính tiếp giáp với biển, của các đảo tính đến đường
thủy triều trung bình thấp nhất trong nhiều năm.
Các mốc địa giới hành chính phải xác định toạ độ với độ chính xác như điểm trên ranh giới thửa
đất và thể hiện lên bản đồ.
Đối với các đơn vị hành chính giáp biển, các đảo nếu trong hồ sơ địa giới hành chính không khép
kín ranh giới hành chính thì trên bản đồ địa chính thể hiện ranh giới sử dụng đất đến đường mép
nước triều kiệt. Đường mép nước triều kiệt (đường thủy triều trung bình thấp nhất trong nhiều
năm) thể hiện theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trường hợp chưa xác định được
đường mép nước triều kiệt thì trên bản đồ địa chính thể hiện ranh giới sử dụng đất đến tiếp giáp
với biển ở thời điểm đo vẽ bản đồ địa chính.
Khi biểu thị địa giới hành chính thì địa giới hành chính cấp cao thay cho địa giới hành chính cấp
thấp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét