Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Về một số khái niệm và vùng văn hoá châu thổ bắc bộ

Đây là vùng đất đai trù phú, bởi vậy nó từng là cái nôi của văn hoá Đông
sơn thời thượng cổ, văn hoá Đại Việt thời trung cổ với những thành tựu
rất phong phú về mọi mặt. Nó cũng là cội nguồn của văn hoá Việt ở nam
Trung Bộ và Nam Bộ sau này.
4. Vùng văn hoá Trung Bộ
Vùng văn hoá Trung bộ ở trên một dải đất hẹp chạy dài theo ven
biển từ quảng Bình tới Bình thuận. Do khí hậu khắc nghiệt, đất đai khô
cằn, nên con người ở đây đặc biệt cần cù, hiếu học. Họ thạo nghề đi
biển, bữa ăn của con người cũng giàu chất biển; dân vùng này thích ăn
cay (để bù cho cá lạnh). Trước khi người Việt tới sinh sống, trong một
thời gian dài nơi đây từng là địa bàn cư trú của người Chăm với một nền
văn hoá đặc sắc, đến nay còn để lại sừng sững những tháp Chàm.
5. Vùng văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên
Vùng văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên nằm trên sườn đông của
dải Trường Sơn, bắt đầu từ vùng núi Bình-Trị -thiên với trung tâm là bốn
tỉnh Gia Lai, Kontum, Đắc Lắc, Lâm Đồng. ở đây có trên 20 tộc người
nói các ngôn ngữ Mô-Khmer và Nam Đảo cư trú. Đây là vùng văn hoá
đặc sắc với những trường ca (khan, H’ămon), những lễ hội đâm trâu, với
loại nhạc cụ không thể thiếu được là những dàn cồng chiêng phát ra
những phức hợp âm thanh hùng vĩ đặc thù cho núi rừng Tây Nguyên
6. Vùng Văn hoá Nam Bộ.
Vùng Văn hoá Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đông Nai và hệ
thống sông Cửu Long, với khí hậu hai mùa (khô - mưa), với mênh mông
sông nước và kênh rạch. Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá đã
nhanh chóng hoà nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa
(Khmer, Ma, Xtiêng, Chơro. Mnông). Nhà ở có khuynh hướng trải dài
ven kênh, ven lộ; bữa ăn giàu thủy sản; tính cách còn người ưa phóng
khoáng; tín ngưỡng tôn giáo hết sức phong phú và đa dạng; sớm tiếp cận
và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hoá phương Tây -
đó chỉ là vài nét phác thảo những đặc trưng văn hoá của vùng này.
5
IV. Tiểu vùng văn hoá.
Trong mỗi một vùng văn hoá, lại có thể chia làm nhiều tiểu vùng
văn hoá.
Khái niệm tiểu vùng văn hoá để chỉ những bộ phận hợp thành vùng
văn hoá. Mỗi tiểu vùng được xác định với những nét đặc thù bị chi phối
bởi không gian địa lí, khí hậu và lịch sử hình thành, phát triển của vùng.
Việc phân loại tiểu vùng văn hoá hoàn toàn không phá vỡ tính
thống nhất của tổng thể một vùng văn hoá.
B. Vùng văn hoá châu thổ Bắc bộ:
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực sông Hồng và
sông Mã, là cái nôi hình thành dân tộc Việt, cũng là nơi sinh ra các nền
văn hoá lớn phát triển nối tiếp nhau như: Văn hoá Đông Sơn, Văn hoá
Đại Việt và văn hoá Việt Nam. Do vậy, văn hoá châu thổ Bắc Bộ vừa có
những nét đặc trưng của văn hoá Việt lại vừa mang những nét riêng đặc
sắc về văn hoá của vùng. ngoài ra văn hoá Bắc Bộ là sự giao hoà giữa
thiên nhiên và con người, phát triển dựa trên sự kế thừa và phát huy bản
sắc dân tộc kết hợp tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá khu vực và
nhân loại. PGS.TS. Ngô Đức Thịnh đã từng nhận xét: “Trong các sắc
thái phong phú và đa dạng của văn hoá Việt Nam, đồng bằng Bắc Bộ như
là một vùng văn hoá độc đáo và đặc sắc”.
6
I. Đặc điểm môi trường tự nhiên, xã hội.
1. Môi trường tự nhiên.
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực các con sông:
sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã. Khi nói tới vùng văn hoá Bắc Bộ
là nói tới vùng văn hoá thuộc địa phận các tỉnh Hà Tây, Nam Định, Hà
Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình; thành phố Hà Nội, thành phố
Hải Phòng; phần đồng bằng của tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc
Giang, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Về vị trí địa lý, vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường
giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây - Đông và Bắc - Nam. Vị trí
này khiến nó trở thành mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả bon xâm
lược muốn bành trướng thế lực vào lãnh thổ Đông Nam á. Nhưng nó
cũng tạo điều kiện cho vùng có thuận lợi về giao lưu và tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại.
Vùng có địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và
bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Địa hình của vùng
cao thấp không đều.
Về mặt địa hình, châu thổ Bắc Bộ là địa hình núi xen kẽ đồng bằng
hoặc thung lũng, thấp và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông
Nam, từ độ cao 10 - 15m giảm dần đến độ cao mặt biển. Toàn vùng cũng
như trong mỗi vùng, địa hình cao thấp không đều, tại vùng có địa hình
cao vẫn có nơi thấp úng như Gia Lương (Bắc Ninh), có núi Thiên Thai,
nhưng vẫn là vùng trũng, như Nam Định, Hà Nam là vùng thấp nhưng
vẫn có núi như Chương Sơn, núi Đọi v.v…
Đặc biệt, Bắc Bộ có khí hậu độc đáo, khác hẳn các vùng khác. Đây
là vùng duy nhất có một mùa đông lạnh kéo dài ba tháng. Khí hậu Bắc
bộ phân hoá thành bốn mùa tương đối rõ nét. Khí hậu lại rất thất thường,
hay có bão, năm mưa nhiều, nằm mưa ít, mưa sớm, mưa muộn… Chính
điều này làm cho sản xuất nông nghiệp của vùng không ổn định.
7
ở Bắc Bộ, vấn đề đất và nước là hai yếu tố đan quyện vào nhau.
Một đặc điểm nữa là môi trường nước, đồng bằng Bắc Bộ có một mạng
lưới sông ngòi khá dày, khoảng 0,5 - 1,0km/km
2
, gồm các dòng sông lớn
như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, cùng các mương máng tưới
tiêu dày đặc.
Đất đai trong vùng tương đối màu mỡ, thích hợp cho nền nông
nghiệp lúa nước phát triển. Hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và sông
Mã cùng các nhánh của chúng là nguồn cung cấp nước thường xuyên cho
hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, chế độ nước sông phân hoá theo mùa:
mùa lũ dòng chảy lớn, nước đục, mùa cạn dòng chảy nhỏ, nước trong.
Chính yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư
trú, tâm lý ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu
vực, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có cái chung của văn minh khu
vực, vừa có cái riêng độc đáo.
2. Môi trường xã hội.
Dựa vào những điều kiện tự nhiên thuận lợi và các thành tựu kinh
tế đạt được, những cư dân vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả -
được gọi chung là cư dân Việt cổ, đã phát huy sức lao động và óc phát
minh sáng tạo của mình để đẩy nhanh sự phát triển của xã hội, vượt qua
những hạn chế của thời nguyên thuỷ, đạt đến thời đại văn minh vào
khoảng các thế kỷ VII - VI trước công nguyên. Tồn tại trong khoảng hơn
5 thế kỷ, nền văn minh đó được mệnh danh là văn minh Văn Lang - Âu
Lạc, tương ứng với 2 quốc gia nối tiếp tồn tại trên đất bắc Việt Nam
đương thời.
Dựa vào các thành tựu của khảo cổ học, nhân học, chúng ta có thể
biết cư dân nguyên thuỷ sống trên các vùng đồng bằng Bắc Việt Nam
đương thời đều thuộc các chủng tộc Nam á (Việt - Mường, Môn -
Khơme), Hán - Thái. Với thời gian, các nhóm tộc người đó ít nhiều hoà
lẫn vào nhau, có tiếng nói gần gũi nhau, pha trộn. Những di chỉ được
8
phát hiện chứng tỏ rằng, bấy giờ các nhóm cùng sống với nhau hoặc
sống gần gũi nhau đã có số lượng khá đông, cùng lấy nghề nông trồng
lúa nướcl àm nền kinh tế chủ yếu và cũng có ít nhiều những phong tục,
tập quán giống nhau.
Do yêu cầu phát triển sản xuất và tiêu dùng hàng ngày tăng lên
cùng với sự gia tăng dân số, do tính phức tạp của một số ngành nghề,
trong xã hội thời đó đã nẩy sinh sự phân công lao động, nghề luyện kim,
đúc đồng ngày càng phát triển. Thông qua các di vật tìm ược ở các di chỉ
sau Phùng Nguyên như Đồng Đậu, Gò Mun rồi tiếp đến Thiệu Dương,
Đông Sơn, chúng ta hiểu rằng hồi ấy đã có hàng loạt công cụ sản xuất,
vũ khí, nhạc cụ bằng đồng. Trong số này, đáng chú ý nhất là hàng loạt
lưỡi cày đồng với nhiều hình dáng khác nhau: cánh bướm, hình thoi,
v.v… Cũng với hình con bò trang trí trên mặt trống đồng, sự xuất hiện
của lưỡi cày chứng tỏ rằng, người ương thời đã chuyển từ nghề nông
dùng cuốc sang nghề nông dùng cày. Nguồn sử liệu cổ Trung Quốc Giao
Châu ngoại vực kỷ thừa nhận: “Giao chỉ (tức là Bắc Việt Nam) khi chưa
đặt thành quận, huyện, đất đai có ruộng gọi là ruộng lạc, theo nước triều
lên xuống mà làm, dân khẩn lấy ruộng mà ăn” Nông nghiệp lúa nước
trên vùng châu thổ các con sông lớn (Hồng, Mã, Cả, Chu) đã trở thành
ngành kinh tế chủ yếu, vừa tạo cơ sở cho định cư lâu dài, vừa tạo ra thứ
lương thực cần thiết hàng ngày của người dân ở đây. Tất nhiên, để có
được những vụ mùa vững chắc, con người phải thích nghi với sông nước
và từng bước xây dựng mối quan hệ làng với làng. Cũng từ đây, nảy sinh
những sinh hoạt văn hoá phản ánh mối quan hệ giữa các cộng đồng
người với tự nhiên, giữa người với người ở các cộng đồng nông nghiệp.
Bên cạnh nghề nông, việc trồng rau, trồng cà, trồng cây ăn quả,
trồng dâu chăn tằm, nuôi gà, lợn, chó, trâu bò v.v… cũng ngày càng phát
triển. Lương thực thực phẩm tăng lên và ngày thêm đa dạng. Đời sống
của người dân cũng được đảm bảo hơn, vui tươi, ổn định hơn.
9
Như trên đã nói, các nghề thủ công như luyện kim và sau này là
rèn sắt, làm đồ gốm, dệt lụa, đan lát ngày càng toạ ra nhiều sản phẩm
hơn, phcụ vụ tốt hơn nhu cầu con người. Số lượng đồ đồng tăng lên so
với nhiều loại dụng cụ như rìu, mũi giáo, mũi tên, liềm, dao; các nhạc cụ
bằng đồng như chiêng, trống, và tượng đồng, v.v số lượng đồ gồm
cũng phong phú: bát, đĩa, bình, nồi, võ, chõ v.v
Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp với sự hỗ trợ đắc lực của
nghề luyện kim đồng thau đã tạo nên cái nền cần thiết và cơ bản cho sự
chuyển biến của xã hội từ trạng thái nguyên thuỷ sang thời đại văn minh.
Tuy nhiên, cũng cần thấy thêm rằng, mặc dầu còn nhiều hạn chế, bấy giờ
đã có sự giao lưu, trao đổi sản phẩm giữa các vùng, nhất là công cụ bằng
đồng, các bát đĩa, bình gốm. Giao lưu là sợi dây nối liền các làng, các
vùng tạo điều kiện cho sự ra đời của các tổ chức chính trị.
Tất cả những đặc điểm trên sẽ góp phần tạo ra những đặc điểm
riêng của vùng văn hoá Bắc Bộ.
II. Đặc điểm văn hoá châu thổ Bắc bộ.
1. Nhà ở.
Văn hoá nhà ở là một đặc trưng trong nền văn hoá Bắc Bộ. Nhà ở
của cư dân Bắc Bộ thường sử dụng các vật liệu nhẹ, bền. Người nông
dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu bền
chắc, tó đẹp, tuy nhiên vẫn hoà hợp với cảnh quan, vì đối với họ, ngôi
nhà là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo một cuộc
sống ổn định.
Hình dáng nhà.
Nhà của người dân Bắc Bộ thường có mái cong truyền thống. Sau
này, mái nhà bình thườgn được làm thẳng cho giản tiện, chỉ có những
công trình kiến trúc lớn mới làm mái cong cầu kì. Ngoài ra, các đầu đao
ở bốn góc đình chùa, cung điện cũng được làm cong vút như con thuyền
rẽ sóng lướt tới, tạo nên dáng vẻ thanh thoát đặc biệt và gợi cảm giác
10
bay bổng cho ngôi nhà vốn được trải rộng trên mặt bằng để hoà mình vào
thiên nhiên.
Một sô nơi ở Bắc Bộ (ví dụ như Nghệ An) cũng thiết kế ngôi nhà
của mình theo kiểu nàh sản để đối phó với lũ lụt, độ ẩm và ngăn côn
trùng. Vào thế kỷ XVII, nhiều ngôi đình như đình Đình Bảng (Bắc
Ninh), đình Chu Quyến (Hà Tây) vẫn làm theo lối nhà san.
Cấu trúc.
Tiêu chuẩn ngôi nhà Việt Nam nói chung và của vùng Bắc Bộ nói
riêng là “nhà cao cửa rộng”, cấu trúc mở. Nhà cao gồm hai yếu tố: sàn
(nền) cao so với mặt đất và mái cao xo với sàn (nền). Nhà sàn đáp ứng
yêu cầu thứ nhất, có tác dụng ứng phó với môi trường. Nhà Việt Nam
nay đã chuyển sang nhà đất, nhưng nhà đất lí tưởng vẫn phải có nền cao.
Cửa nhà không cao mà phải rộng, tránh nắng chiếu và mưa hắt, đón gió
mát. Đầu dưới mái nhà (giọt gianh) thường được đưa ra khá xa so với
mái hiên. Đầu hồi nhà thường có khoảng trống hình tam giác để thoát
hơi nóng và khói. Dân Bắc Bộ có kinh nghiệm không làm cửa và cổng
thằng hàng tránh gió độc, gió mạnh.
Chọn hướng nhà, chọn đất:
Đây là biện pháp quan trọng thứ hai để ứng phó với môi trường tự
nhiên. Hướng nhà tiêu biểu ở Bắc Bộ là hướng Nam. Vì Bắc Bộ ở gần
biển, trong khu vực gió mùa. Hướng Nam (hoặc Đông Nam) vừa tránh
được nóng từ phía Tây, bão phía Đông và gió rét từ phía Bắc lại vừa tận
dụng được gío mát vào mùa nóng (gió nồm).
Tuỳ thuộc vào địa hình, địa vật xung quanh, vào sự có mặt của núi,
của sông, của con đường mà ảnh hưởng của gió nắng sẽ khác nhau. Vì
thế, phải chọn đất làm nhà. Khi chọn đất, người Bắc Bộ chú ý tới phong
thuỷ, vì khí hậu của ngôi nhà. Ngoài ra, người Việt Bắc Bộ thường có
câu: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, chọn đất cũng phải quan tâm
đến việc chọn hàng xóm láng giềng. Trong thời kì phát triển nền kinh tế
11
hàng hoá, khi chọn đất, người ta thường chọn những nơi gần đường giao
thông, thuận lợi cho đi lại, làm ăn, buôn bán.
Cách thức kiến thúc.
Nhà ở của người Bắc Bộ có đặc điểm là rất đông và linh hoạt,
thường là loại nhà không có chái, hình thức nhà vì kéo phát triển. Bộ
khung của nhà thường được liên kết với nhau theo một không gian ba
chiều: đứng, gnang, dọc. theo chiều đứng, lực dồn vào đá tảng, theo
chiều ngang các cột nối với nhau tạo các vì kèo; theo chiều dọc, các vì
kèo được nối với nhau bằng xà, tạo thành bộ khung. Các chi tiết của ngôi
nhà được ghép với nhau bằng mộng.
Hình thức kiến trúc.
Ngôi nhà Bắc bộ phản ánh truyền thống văn hoá của vùng. Tính
cộng đồng thể hiện ở việc không chia phòng biệt lập. Giữa hai nhà ngăn
bằng rào cây thấp để dễ liên hệ với nhau. Truyền thống thờ cúng tổ tiên
và hiếu khách thể hiện ở bàn thờ ở gian giữa (phía trong là bàn thờ, phía
ngoài là bàn ghế tiếp khác). sau nữa là truyền thống coi trọng bên trái
(phía Đông) với chiếc đòn nóc có đầu gốc ở phía Đông, bếp ở phía
đông, Trong kiến trúc nhà ở Bắc Bộ, nguyên tắc coi trọng số lẻ cũng
được tôn trọng, thể hiện qua số gian, số cổng, số toà đều là số lẻ (có câu:
Ngọ Môn 5 cửa 9 lầu, Cột cờ 3 cấp). Đây là do quan niệm của người
xưa: lẻ là số dương, dành cho người sống.
2. ẩm thực.
ẩm thực cũng là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hoă
Bắc Bộ. Giống như ở mọi vùng miền khác trên đất Việt, cơ cấu bữa ăn
của cư dân Việt trên châu thổ Bắc Bộ bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền
thống văn hoá nông nghiệp lúa nước, bao gồm có cơm, rau, cá, thịt, cơm
là thức ăn cho cơ thể. Đặc biệt, ở đây các gia vị có tính chất chua, cay,
đắng không được ưa chuộng như ở vùng Trung Bộ vf Nam Bộ. Có người
12
đã từng nói rằng Bắc Bộ là “nơi quần tụ văn hoá ẩm thực, văn hoá vùng
miền”.
Không thể kể hết những món ăn Bắc Bộ vô cùng đa dạng và độc
đáo. Nào là bánh cáy Thái Bình, bánh dứa Hưng Yên, bánh đậu xanh Hải
Dương, bánh phu thê Bắc Ninh, bánh tôm Hà Nội, bánh nhãn Nam
Định, Mỗi loại bánh mang những hương vị khác nhau, đặc trưng cho
mỗi miền quê. Đến với vùng văn hoá này, người ta cũng không thể quên
có một nghệ thuật ẩm thực Hà Nội sành điệu, tinh tế, ngon từ chế biến
khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hài hoà đến sự sạch sẽ, tinh khiết.
Người Hà Nội coi trọng chất ít nhưng phải ngon. Một là bánh cuốn
Thanh Trì, một bìa đậu Mơ rán giòn, một bát bún ốc chua cay bốc khói,
một gói cốm vòng xanh mướt để lại dư vị khó quên tỏng lòng thực
khách.
3. Trang phục:
Cách ăn mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn, thích
ứng với thiên nhiên châu thổ Bắc Bộ.
Vào thời kỳ Hùng Vương, sự phát triển của nghề trồng dâu nuôi
tằm, kéo tơ, dệt lụa giúp cho người Việt cổ Bắc Bộ ăn mặc ngày càng
đẹp hơn. Nữ thường mặc váy, loại ngắn hoặc dài, đôi lúc có khâu thêm
một mảnh vải vuông vắn có trang trí hoa văn ở trước bụng; phụ nữ
thường mặc yếm; áo cánh hoặc áo chui đầu. Ngày lễ hội, họ mặc váy
xoè, cắm thêm lông chim hoặc cả lá cây. Tóc ít khi để oax mà thường
ược búi lên ở đỉnh đầu hoặc tết theo nhiều kiểu khác nhau. Có lúc họ
buộc một tấm khăn cởi trần, mặc khố, đầu cạo trọc. Dân sống ven sông
thường có tục vẽ mình để tránh “giao long” làm hại. Các lạc hầu, lạc
tướng có áo giáp đồng hộ than khi đi chiến đấu. Nối tiếp truyền thống
làm đẹp của tổ tiên, người Việt cổ thích trang sức các dây chuyền bằng
vỏ ốc, hạt đá hoặc đeo hoa tai, vòng tay bằng đá.
13
Thời phong kiến, trang phục của phụ nữ Bắc Bộ là: váy đen, yếm
trắng, áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lưng hoa lý. Đàn ông với y
phục đi làm là chiếc quần lá toạ, áo cánh màu nông sồng. Phụ nữ cũng
chiếc váy thâm, chiếc áo nâu, khi đi làm, Bộ lễ phục củ phụ nữ gồm ba
chiếc áo, ngoài cùng là áo dài tứ thân bằng the thâm hay màu nâu non,
kế đến là chiếc áo màu mỡ gà và trong cùng là chiếc áo màu cánh sen.
Khi mặc, cả ba chiếc áo chỉ cài khuy bên sườn, phần từ ngực đến cổ lật
chéo để lộ ba màu áo. Bên trong chiếc yếm thắm. Đầu đội nón trông rất
duyên dáng và kín đáo. Lễ phục của đàn ông là chiếc quần trắng, áo dài
the, chít khăn đen.
Tới nay, trang phục truyền thống của người Việt Bắc Bộ đã thay
đổi. Bộ âu phục dần thay thế cho bộ đồ truyền thống của đàn ông. Chiếc
áo dài của phụ nữ ngày càng được cải tiến và hoàn thiện hơn như ngày
nay, mặt khác do yêu cầu của lao động, công việc, không phải lúc nào
phụ nữ cũng mặc áo dài mà chỉ những ngày trang trọng, ngày vui thì
mới có dịp để “thể hiện mình”.
4. Làng nghề:
Khi nói về nét đẹp văn hoá vùng châu thổ Bắc Bộ, người ta không
thể không nhắc đến những làng nghề thủ công đã có lịch sử phát triển
cách đây hàng trăm năm.
Đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu Piere Gourou đã đếm được 108
nghề thủ công ở 7000 làng thuộc vùng châu thổ sông Hồng. ở đây có tới
500 làng nghề, tập trung nhiều nhất ở Nam Định, Hà tây, Thái Bình, Bắc
Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hà Nội. Đặc biệt,
Thăng Long - Hà Nội là nơi “đát lành chim đậu”, hội tụ tài hoa, thu hút
những thợ cả, thợ giỏi từ mọi miền đến sinh cơ lập nghiệp. Hà Nội có
Ngũ Xã Tràng, nổi tiếng với nghề đúc đồng, do dân năm làng gốc ở
huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc lập nên từ thế kỷ XVII, là tác giả của
những pho tượng đồng vào loại quý giá nhất nước Nam. Đó là tượng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét