Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh NHCT Ba Đình

Chuyên đề thực tập
hạn sau khi phần nào kiềm chế được lạm phát, các NHTM lại tiếp tục mở
rộng tín dụng và quá trình mở rộng tín dụng này ở các NHTM càng cần
được quan tâm nhiều hơn nữa, để nhằm đáp ứng nhu cầu vốn thiếu hụt của
các doanh nghiệp, góp phần khôi phục, phát kinh tế đất nước sau một thời
gian chịu sự ảnh hưởng nặng nề của lạm phát. Bởi vậy, việc nghiên cứu “
Giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNVVN’’ là rất cần thiết và là tất yếu
của các NHTM nói chung và NHCT Ba Đình nói riêng. NHCT Ba Đình
cũng đã đưa ra biện pháp nhằm mở rộng tín dụng đối với DNVVN. Xuất
phát từ lý do đó, trong thời gian thực tập tại chi nhánh NHCT Ba Đình em
đã chọn đề tài “ Giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh
NHCT Ba Đình” với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào
việc thúc đẩy hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
2.Mục đích nghiên cứu.
Đề tài đi vào phân tích cơ sở lý luận cơ bản về việc mở rộng tín dụng
đối với DNVVN. Từ đó phân tích đánh giá thực trạng tín dụng đối với
DNVVN tại chi nhánh NHCT Ba Đình. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn
trên, chuyên đề đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần mở
rộng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh NHCT Ba Đình.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Là vấn đề mở rộng tín dụng đối với DNVVN và tại chi nhánh NHCT
Ba Đình từ năm 2005 đến năm 2007.
4.Kết cấu chuyên đề.
Đề tài bao gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận.
Trong đó, phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: DNVVN và vấn đề mở rộng tín dụng NH đối với DNVVN.
Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh
NHCT Ba Đình.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng tín dụng đối với
DNVVN tại NHCT Ba Đình.
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
5
Chuyên đề thực tập
KẾT LUẬN
Việc mở rộng tín dụng đối với DNVVN là một vấn đề trọng tâm và
cần thiết đối với các NHTM nói chung và chi nhành NHCT Ba Đình nói
riêng trong điều kiện các DNVVN đang phát triển rất nhanh như hiện nay,
với nhu cầu vốn của doanh nghiệp này là rất lớn, nếu như Ngân hàng hạn
chế việc đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp thì dứt khoát sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
ảnh hưởng tức thời đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nhận thức được vai
trò quan trọng của DNVVN trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Đảng và
Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách hỗ trợ, thúc đẩy DNVVN
phát triển. Cùng với những chủ trương, chính sách đó của Đảng và Nhà
nước, ngành Ngân hàng nói chung, chi nhánh NHCT Ba Đình nói riêng
cũng đã có những định hướng mở rộng tín dụng sang cho vay đối với
DNVVN. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, mô hình hiện đại hóa Ngân hàng của
chi nhánh mới thực sự bắt đầu vào tháng 1 năm 2004 cho nên mối quan hệ
của chi nhánh với các DNVVN còn rất nhiều hạn chế về cả số lượng và
chất lượng, vẫn còn tồn tại những bất cập cần tháo gỡ trong công tác mở
rộng tín dụng đối với DNVVN. Chính vì vậy, việc tìm ra những giải pháp
nhằm mở rộng tín dụng đối với những DNVVN tại chi nhánh đang là vấn
đề cấp thiết cần đặt ra trong giai đoạn hiện nay.
Với mong muốn góp phần nhỏ đưa ra một số giải pháp để mở rộng
tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh NHCT Ba Đình, chuyên đề đã tập
trung hoàn thành một số nội dung cơ bản sau:
Một là: Chuyên đề đã trình bày được những lý luận chung, khái quát
nhất về tầm quan trọng của DNVVN trong nền kinh tế thị trường và vai trò
của Ngân hàng trong việc mở rộng tín dụng đối với DNVVN, sự cần thiết
phải mở rộng tín dụng đối với DNVVN. Đồng thời, chuyên đề cũng nêu lên
được những kinh nghiệm quý báu của một số nước đã thành công trong
việc tìm ra giải pháp để mở rộng tín dụng đối với DNVVN, từ đó rút ra bài
học kinh nghiệm áp dụng với thực tiễn Việt Nam.
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
6
Chuyên đề thực tập
Hai là: Trên cơ sở lý luận đã trình bày, chuyên đề cũng đã đi vào
phân tích thực trạng đầu tư tín dụng của chi nhánh NHCT Ba Đình đối với
DNVVN, đánh giá được kết quả đã đạt được những hạn chế và nguyên
nhân của nó.
Ba là: Từ cơ sở lý luận mà thực tiễn đã nghiên cứu, chuyên đề đã đi
vào nghiên cứu những định hướng của NHCT Việt Nam từ đó mạnh dạn
đưa ra một số những biện pháp cụ thể nhằm mở rộng tín dụng đối với
DNVVN, để góp phần thực hiện nghiêm túc, hiệu quả những giải pháp đưa
ra, chuyên đề cũng đã đưa ra những kiến nghị đối với Nhà nước, NHNN,
NHCT Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng tín dụng
đối với DNVVN của chi nhánh NHCT Ba Đình.
Việc mở rộng tín dụng đối với DNVVN nhằm giúp DNVVN tiếp cận
được với nguồn vốn của Ngân hàng, thực hiện sản xuất kinh doanh, tăng
trưởng và bền vững, thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH công nghiệp hóa đất
nước là một vấn đề lâu dài đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các Cấp, các
Ngành có liên quan cũng như của chính các doanh nghiệp. Mặc dù, với sự
nỗ lực cố gắng của bản thân và được sự giúp đỡ của các anh chị cán bộ tín
dụng NHCT Ba Đình đã giúp em hoàn thành bài chuyên đề này nhưng do
thời gian có hạn cùng với những hạn chế về năng lực, nhận thức về mặt lý
luận và thực tiễn của bản thân cũng như sự hạn chế về mặt tài liệu tham
khảo, chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận
được sự phê bình, góp ý của các thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn
chỉnh hơn.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cán bộ tín
dụng Phạm Gia Tú trong thời gian qua đã tận tình giúp đỡ hướng dẫn em
hoàn thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
7
Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ VẤN ĐỀ MỞ RỘNG
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ
1.1. DNVVN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1. Thực trạng DNVVN ở Việt Nam
Sự hình thành và phát triển DNVVN trong quá trình phát triển kinh
tế là một xu thế khách quan. Các DNVVN ở Việt Nam gồm 2 loại:
DNVVN thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và DNVVN quốc doanh.
Hiện nay nhà nước đang thực hiện cải cách mạnh mẽ doanh nghiệp
thuộc khu vực nhà nước, do đó số lượng doanh nghiệp thuộc khu vực này
ngày càng giảm. Cụ thể năm 2004 có 4597 doanh nghiệp nhà nước thì đến
ngày 31-12-2006 chỉ còn 3708 doanh nghiệp giảm 19,33% (nguồn: Tổng
cục thống kê). Việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước là do nhiều doanh
nghiệp làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, gây thất thoát vốn đầu tư. Bên cạnh
việc giảm số lượng, nhà nước đã có những biện pháp nâng cao khả năng
cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn
lại. Nhiều doanh nghiệp được nhà nước cấp bổ sung vốn, đổi mới khoa học
công nghệ, tinh giảm bộ máy quản lý. Theo số liệu thống kê tổng hợp cho
thấy, tỷ trọng các DNVVN ở khu vực quốc doanh theo quy mô lao động
giảm từ 17,21% năm 2004 xuống còn 11,61% năm 2006 (nguồn: Tổng cục
thống kê).
Trong khi đó với sự khuyến khích của Đảng và Nhà nước, khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng có bước phát triển mạnh mẽ. Năm 2004
đã có 84003 doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đây là khu vực cung cấp số
lượng DNVVN chủ yếu cho nền kinh tế. Do tính chất nhỏ lẻ và phân tán trong
dân cư các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tận dụng triệt để mọi tiềm năng
trong dân cư phục vụ nhu cầu phát triển nền kinh tế. Hiện nay các DNVVN
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
8
Chuyên đề thực tập
ngoài quốc doanh theo quy mô lao động chiếm khoảng 76,88% tổng số doanh
nghiệp ngoài quốc doanh (nguồn: Tổng cục thống kê).
Theo Nghị định 90/NĐ- CP/ 2001, ngày 23/11/2001, DNVVN được
định nghĩa như sau: “ DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành có vốn không quá 10 tỷ đồng
hoặc số lao động không quá 300 người”.
Bảng 1: Số DNVVN phân theo quy mô lao động
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm 2004 2005 2006
Tổng số doanh nghiệp 91756 112950 131318
Tổng số doanh nghiệp nhà nước 4597 4086 3708
Tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh 84003 105167 123392
Số doanh nghiệp nhà nước có quy mô lao động
<300 người
1688 1507 1356
Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô lao
động < 300 người
7079 8254 8977
Tỷ trọng số doanh nghiệp nhà nước trên tổng số
doanh nghiệp
5,01% 3,62% 2.80%
Tỷ trọng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
tổng số doanh nghiệp
91,55% 93,11% 93,96%
Tỷ trọng DNVVN trong khu vực kinh tế quốc
doanh theo quy mô lao động
17,21% 13,78% 11,61%
Tỷ trọng DNVVN trong khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh
72,18% 75,50% 76,88%
Tỷ lệ tăng trưởng DNVVN trong khu vực kinh tế
nhà nước theo quy mô lao động
-3,43% -2,17%
Tỷ lệ tăng trưởng DNVVN trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh theo quy mô lao động
+5,32% +1,38%
Nguồn: Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm 2004, 2005,
2006- Tổng cục thống kê
Bảng 2: Số DNVVN phân theo quy mô vốn.
Đơn vị: Tỷ đồng.
Năm 2004 2005 2006
Tổng số doanh nghiệp 91756 112950 131318
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
9
Chuyên đề thực tập
Tổng số doanh nghiệp nhà nước 4597 4086 3708
Tổng số doanh nghiệp ngoài quốc
doanh
84003 105167 123392
Số doanh nghiệp nhà nước có quy mô
vốn < 10 tỷ
630 397 319
Số doanh nghiệp ngoài quốc doanh có
quy mô vốn < 10 tỷ
23785 40936 63226
Tỷ trọng số doanh nghiệp nhà nước trên
tổng số doanh nghiệp
5,01% 3,62% 2,8%
Tỷ trọng số doanh nghiệp ngoài quốc
doanh trên tổng số doanh nghiệp
91,55% 93,11% 93,96%
Tỷ trọng DNVVN trong khu vực kinh tế
quốc doanh theo quy mô vốn
2,55% 0,95% 0,50%
Tỷ trọng DNVVN trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh theo quy mô vốn
96,15% 97,8% 98,60%
Tỷ lệ tăng trưởng DNVVN trong khu
vực kinh tế nhà nước theo quy mô vốn
-1,6% -0,45%
Tỷ lệ tăng trưởng DNVVN trong khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh theo quy
mô vốn
+1,65% +0,8%
Nguồn: thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm 2004, 2005,
2006- Tổng cục thống kê
Qua bảng số liệu trên ta thấy, số lượng DNVVN trong khu vực nhà
nước giảm, trong khi đó số lượng DNVVN tăng khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh tăng lên. Điều này phản ánh chính sách phát triển kinh tế của
Nhà nước: Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cắt giảm DNVVN thuộc khu
vực kinh tế quốc doanh. Bên cạnh đó trong những năm vừa qua, Việt Nam
luôn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, nền kinh tế thị trường ngày
càng phát triển, cơ hội đầu tư nhiều khiến cho số lượng doanh nghiệp thành
lập mới ngày càng tăng, đặc biệt là số lượng DNVVN thuộc khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh – một loại hình doanh nghiệp rất dễ thành lập bởi quy
mô vừa và nhỏ của nó. Việc có ngày càng nhiều DNVVN được thành lập,
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
10
Chuyên đề thực tập
mà chủ yếu là thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là một tín hiệu đáng
mừng để khu vực kinh tế này từng bước đi vào cuộc sống, góp phần thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh
đó DNVVN cũng là một nhân tố hết sức quan trọng thu hút lực lượng lao
động trong xã hội. Sự lớn mạnh của các DNVVN đặc biệt là các DNVVN
ngoài quốc doanh đang thể hiện là nơi giải quyết việc làm cho người lao
động một cách hiệu quả nhất, hạn chế tệ nạn xã hội, nâng cao đời sống văn
hóa, vật chất cho mọi tầng lớp dân cư.
1.1.2 Đặc điểm của DNVVN
Nhìn chung các DNVVN ở Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm cơ
bản sau:
Một là: DNVVN có tính nhậy cảm cao với các hoạt động sản xuất
kinh doanh, linh hoạt và ứng phó kịp thời trước tình hình biến động của thị
trường.
Thật vậy, bởi quy mô của nó nhỏ, vốn tự có ít nên dễ dàng thay đổi
loại hình kinh doanh của mình khi tài chính biến động. Mặt khác, DNVVN
tồn tại ở mọi loại hình kinh tế nên chỉ cần không thích ứng được với nhu
cầu của thị trường, với tình hình kinh tế - xã hội ở loại hình này thì nó sẽ
chuyển hướng sản xuất sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường.
Hai là: DNVVN có khả năng chấp nhận mọi rủi ro mạo hiểm có thể
xảy ra: Cũng xuất phát từ quy mô nhỏ, vốn tự có ít nên doanh nghiệp có thể
mạnh dạn đầu tư vào những ngành mới, những ngành mà lúc đầu đem lại
lợi nhuận ít và những ngành sản xuất ra những sản phẩm chỉ đáp ứng
những nhu cầu cá biệt.
Ba là: DNVVN có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh và hiệu
quả.
Số vốn kinh doanh ban đầu ủa DNVVN không quá 10 tỷ đồng và
chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngắn nên khả năng thu hồi
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
11
Chuyên đề thực tập
vốn nhanh, tăng tốc độ quay vòng vốn để đầu tư vào công nghệ mới, tiên
tiến hiện đại tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả.
Bốn là: DNVVN tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, các thành phần
kinh tế, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Các DNVVN hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh
tế, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Các DNVVN hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: Thương
mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông-lâm-ngư nghiệp,…và hoạt động
dưới mọi hình thức: DNNN, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ
sở kinh tế cá thể.
Năm là: DNVVN có bộ máy tổ chức sản xuất, quản lý gọn nhẹ: Với
quy mô nhỏ, số lượng lao động ít, hầu hết mọi người đều được bố trí công
việc hợp lý, công tác quản lý điều hành mang tính trực tiếp, quan hệ giữa
người quản lý với người lao động khá chặt chẽ, từ đó tinh giảm được sự
cồng kềnh của bộ máy so với các doanh nghiệp có quy mô lớn.
Sáu là: Hiệu suất tạo việc làm cao: Với một số vốn đầu tư nhỏ nhưng
doanh nghiệp lại cần một số lượng lao động lớn hơn rất nhiều so với cùng số
vốn đó ở các doanh nghiệp lớn.
Bảy là: Khả năng cạnh tranh thấp: Một trong những đặc điểm quan
trọng mà Ngân hàng cần quan tâm khi mở rộng tín dụng cho DNVVN đó là
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này kém. Do hạn chế về năng
lực quản lý, vốn, trình độ công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc
điểm này chính là yếu tố tiềm ẩn rủi ro khi Ngân hàng thực hiện cho
DNVVN vay.
1.1.3. Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế thị trường
Từ những đặc điểm trên ta thấy DNVVN có vai trò rất quan trọng,
đóng góp rất lớn cho sự tăng trưởng, phát triển của đất nước.
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
12
Chuyên đề thực tập
Thứ nhất: DNVVN thu hút lao động, đóng góp vào thu nhập quốc dân
của đất nước.
Bởi vì kỹ thuật sản xuất của DNVVN chủ yếu là nửa cơ giới, lao
động sống chiếm tỷ lệ khá cao. Mặt khác, phần lớn các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến
nông, lâm, hải sản,…nên có khả năng thu hút nguồn lao động, tạo công ăn
việc làm cho xã hội và tăng thu nhập đảm bảo đời sống cho người lao động.
Giúp giải quyết được vấn đề xã hội của mọi quốc gia.
Thứ hai: DNVVN đáp ứng tích cực nhu cầu tiêu dùng xã hội ngày
càng phong phú đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được.
Như chúng ta đã biết, hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN
vô cùng phong phú và đa dạng trên hầu khắp các lĩnh vực kinh tế. Trong
thực tế không phải mặt hàng nào cũng có nhu cầu tiêu dùng lớn, có những
mặt hàng mà người tiêu dùng chỉ có những nhu cầu ít thậm chí cá biệt.
Song chất lượng, chủng loại, mẫu mã, kiểu cách lại không ngừng thay đổi.
Trong trường hợp đó các doanh nghiệp lớn không thể đáp ứng được. Trái
lại các DNVVN do quy mô sản xuất nhỏ, có khả năng điều chỉnh hoạt động
nên có thể đáp ứng những yêu cầu nói trên của người tiêu dùng một cách
nhanh chóng, thuận tiện. Đặc biệt có những mặt hàng mà người tiêu dùng
có nhu cầu không thể sản xuất được ở những doanh nghiệp có quy mô lớn,
kỹ thuật hiện đại mà chỉ có thể sản xuất bằng lao động thủ công, phân tán
trên cơ sở sản xuất nhỏ và hộ gia đình.
Thứ 3: DNVVN có vai trò quan trọng trong phân phối lưu thông.
Trong quá trình tái sản xuất xã hội, hàng hóa từ khâu sản xuất đến
khâu tiêu dùng phải qua khâu trung gian đó là khâu lưu thông. Các doanh
nghiệp lớn khó có thể tổ chức riêng một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng
hóa của mình mà phải thông qua mạng lưới bán lẻ của các DNVVN, do lợi
thế của các DNVVN rất thích hợp với lĩnh vực kinh doanh thương mại và
thực hiện các dịch vụ bán lẻ, chỉ cần một số vốn ban đầu nhỏ cũng có thể
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
13
Chuyên đề thực tập
hoạt động được, còn nơi làm cửa hàng có thể sử dụng ngay nhà của mình,
nhân viên bán hàng thường cũng là người trong gia đình. Do đó, chi phí lưu
thông hàng hóa thấp. Chính vì vậy, mà hệ thống cửa hàng kinh doanh
thương mại- dịch vụ vừa và nhỏ được đặt ở hầu khắp các khu vực công
nghiệp, tụ điểm dân cư để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân một
cách nhanh chóng và thuận tiện.
Thứ tư: DNVVN có vai trò đối với sự phát triển kinh tế địa phương,
khai thác tiềm năng và thế mạnh của từng vùng.
Do quy mô vừa và nhỏ nên các DNVVN có thể đặt văn phòng, nhà
xưởng, nhà kho ở khắp mọi nơi trên đất nước, cả những nơi cơ sở hạ tầng
chưa phát triển như vùng núi cao, hải đảo, ở vùng nông thôn rộng lớn nhằm
khai thác tiềm năng và thế mạnh của từng vùng. Nhất là tài nguyên trên mặt
đất thuộc ngành nông, lâm, hải sản. Để khai thác có hiệu quả lao động, tài
nguyên và ngành nghề đang còn rất lớn của từng địa phương, từng vùng
lãnh thổ cần tập trung đẩy nhanh sự phát triển của một số ngành mà nước ta
còn nhiều tiềm năng như: các ngành nông-lâm-hải sản và ngành công
nghiệp chế biến nông-lâm-hải sản. Trong những năm trước mắt, chúng ta
còn gặp nhiều khó khăn về vốn và kỹ thuật nên trong việc đầu tư khai thác
các nguồn lực của đất nước Đảng ta đã “ chú trọng quy mô vừa và nhỏ, vốn
đầu tư ít” thu hồi nhanh theo phương châm “lấy ngắn nuôi dài”.
DNVVN với đặc điểm ít vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém nên tỷ
lệ lao động trong các DNVVN thường lớn rất thích hợp với những ngành
cần nhiều lao động thủ công như chế biến thủy sản đông lạnh, may mặc,
giày da, công nghệ chế biến.
Thứ năm: DNVVN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH đất nước.
Phát triển DNVVN sẽ đem lại những chuyển biến hết sức quan trọng
về cơ cấu kinh tế, từ nền sản xuất thuần nông sang nền kinh tế công nghiệp
phát triển mạnh, kéo theo sự phát triển của các ngành thương mại, dịch vụ,
Trần Thu Trang Lớp:
NHDCD22
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét