5
phát hiện phù hợp với mục đích nghiên cứu cũng như trong điều kiện thực tế tại Việt
Nam. Mặt khác, bộ số liệu (VLSS 2008) lần đầu tiên được chúng tôi sử dụng cho mục
đích nghiên cứu về chủ đề này. Trước đó, không có nhiều nghiên cứu về các yếu tố
quyết định đến sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân ở Việt Nam. Có ý nghĩa như là kim
chỉ nam, tài liệu hướng dẫn cho mỗi cá nhân khi quyết định tự làm chủ (làm thuê cho
chính mình) hay khởi đầu một doanh nghiệp. Bài nghiên cứu của chúng tôi phần nào bổ
xung những thiếu sót này.
6
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 9
1.1. Lý do nghiên cứu 9
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 10
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 10
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 11
1.3 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và số liệu 11
1.3.1 Phương pháp luận 11
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu. 12
1.3.3 Số liệu 12
1.3.4 Biến 12
1.3.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu 13
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC 14
2.1. Tiềm lực tài chính 16
2.2. Hoàn cảnh gia đình 18
2.3. Giáo dục 19
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, DOANH NGHIỆP VÀ
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VIỆT NAM. 29
3.1. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM 29
3.2. DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 34
3.3. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 40
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHÂN TÍCH SỐ LIỆU VÀ KẾT QUẢ THỰC
NGHIỆM 45
4.1. Phương pháp luận 45
4.2 . Số liệu 46
4.3. Biến 46
4.4. Phân tích số liệu 47
4.5 . Kết quả phân tích thực nghiệm 49
4.5.1. Gia cảnh cá nhân: 50
4.5.2. Tài chính: 51
7
4.5.3. Trình độ học vấn 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 58
1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu 58
2. Khuyến nghị chính sách 59
3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 59
3.1 Hạn chế 59
3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
8
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước 24
Bảng 2: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm 30
Bảng 3 : Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm 31
Bảng 4: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm
phân theo ngành kinh tế 32
Bảng 5 : Tỉ lệ lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật phân chia
theo khu vực 33
Bảng 6: Tỉ trọng lao động trong nền kinh tế Việt Nam qua các năm: 34
Bảng 7 : Số lượng doanh nghiệp phân theo quy mô vốn đến 31/12/2007 35
Bảng 8: Số lượng doanh nghiệp phân theo quy mô lao động đến 31/12/2007 35
Bảng 9: Số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh sản xuất tại thời điểm 31/12 hàng năm:
35
Bảng 10: Đóng góp vào GDP (tính theo %) của các khu vực: 37
Bảng 11: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế
(theo %): 37
Bảng 12: Thu nhập lao động theo thành phần sở hữu (đơn vị: triệu đồng) 38
Bảng 13: Cơ cấu vốn đầu tư và GDP theo thành phần kinh tế: 39
Bảng 14: Xếp hạng báo cáo môi trường kinh doanh của WB 2008 và (2009) 40
Bảng 15: Thống kê số liệu hồi quy. 49
Bảng 16: Kết quả hồi quy biến phụ thuộc = 1 nếu làm chủ doanh nghiệp trong khu vực
tư nhân 52
Bảng 17: Kết quả hồi quy biến phụ thuộc = 1 nếu làm thuê trong khu vực tư nhân… 53
9
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do nghiên cứu
Doanh nghiệp tư nhân đã trở thành một lực lượng chính cho sự tăng trưởng kinh
tế nhanh và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Bên cạnh một số
lượng lớn doanh nghiệp hộ gia đình (trong khu vực không chính thức), rất nhiều doanh
nghiệp đăng ký mới trong thập kỷ qua là kết quả của sự ra đời Luật Doanh nghiệp trong
năm 2000 và 2005. Theo đó, số doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới đã tăng 160.000
doanh nghiệp trong suốt giai đoạn 2000 – 2005 (Tô Trung Thành và cộng sự, 2009). Sự
bùng nổ của những doanh nghiệp tư nhân đã hấp thụ số lượng lớn số người thât nghiệp
trong những thành phố lớn và những nông dân dư thừa ở khu vực nông thôn, do đó đã
có những đóng góp tuyệt vời cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua
(Perkins và cộng sự, 2008).
Nhận thức được tầm quan trọng của những doanh nghiệp nhỏ đối với tăng trưởng
kinh tế; chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích phát triển doanh
nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, vẫn có sự thiếu hụt những chính sách đồng bộ nhắm tới
những cá nhân đang phải đối mặt với sự lựa chọn việc trở thành doanh nhân (tự làm
chủ) hay trở thành người làm công ăn lương.
Những yếu tố quyết định sự lựa chọn nghề nghiệp giữa việc tự làm chủ và làm
thuê được đề cập nhiều trong lý thuyết nghiên cứu. Thành tựu giáo dục và các kênh
truyền dẫn mà thành tựu giáo dục tác động đến xác suất trở thành doanh nhân, được đề
cập nhiều trong những nghên cứu như Evans và Jovanovic (1989), De Wit (1993),
Bernhardt (1994) và Lee (1999). Kinh nghiệm thị trường, tuổi tác thái độ đối với rủi ro,
trạng thái hôn nhân, qui mô hộ gia đình, đặc điểm hộ gia đình và quá trình đào tạo…
những nhân tố khác có tác động đến sự chọn lựa nghề nghiệp vủa cá nhân (Rees và
Shah (1986), Dewit (1993), và Lee (1999)). Một số nhân tố như là nhóm dân tộc, tôn
giáo, nhóm nhân tố nhập cư, cá nhân là người nhập cư hay người địa phương cũng đóng
vai trò quan trọng trong việc chọn lựa nghề nghiệp (Borjas và Bronars, 1989). Ngoài ra,
không chỉ những nhân tố về vốn con người, biến vốn tài chính cũng là những nhân tố
được phân tích trong nhiều lý thuyết việc làm, bao gồm Kidd (1993), Bernhardt (1994),
Blanchower và Oswald (1998) và Constant và Zimmermann (2006).
10
Đề tài này không chỉ nghiên cứu trong lý thuyết, mà còn nghiên cứu thực nghiệm,
đã có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này. Tuy nhiên, hầu hết các công việc là những
vấn đề tự làm chủ công việc của dân cư trong các quốc gia phát triển như Rees and Shah
(1986), Borjas and Bronars (1989), Evans and Leighton (1989), Constant and
Zimmermann (2006). Trong khi đó, lĩnh vực này vẫn còn đang được nghiên cứu ở các
quốc đang phát triển nói chung và đặc biệt là ở Việt Nam.
Hiện thiếu hụt nghiêm trọng các nghiên cứu về những nhân tố đằng sau sự lựa
chọn kinh doanh ở Việt Nam. Nghiên cứu của Vijverberg và Haughton (2002) là một
trong những nghiên cứu hiếm hoi về chủ đề này, nhưng các tác giả tập trung vào sự tồn
tại và tăng trưởng của những doanh nghiệp hộ gia đình, còn những nhà lãnh đạo doanh
nghiệp hoặc các doanh nhân không phải là trung tâm trong những nghiên cứu của họ.
Do đó, các yếu tố quan trọng đằng sau sự quyết định tự kinh doanh hay là làm công ăn
lương chỉ được thảo luận vắn tắt trong những nghiên cứu này. Sự thiếu sót trong những
nghiên cứu thực nghiệm này ở Việt Nam đã dẫn đến sự thiếu kiến thức về sự chọn lựa
của các cá nhân để trở thành doanh nhân và do đó chính sách hướng tới doanh nhân ở
Việt Nam đã bỏ lỡ một khía cạnh quan trọng cho sự phát triển của doanh nghiệp tư
nhân. Có kiến thức tốt về những yếu tố quyết định tới sự lựa chọn của các cá nhân này,
các nhà chức trách có thể cung cấp thông tin phù hợp hơn, có sức thuyết phục và tập
trung hỗ trợ cho những doanh nhân tiềm năng thực sự và do đó tạo ra nhiều cơ hội hơn
cho họ để thành công trong kinh doanh.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định vai trò quan trọng của khu vực việc làm tự chủ (self-employment) và khu
vực doanh nghiệp trong thị trường lao động tại Việt Nam, nghiên cứu này cố gắng bổ
sung những khoảng trống nghiêm trọng bằng việc nghiên cứu thực nghiệm và tập trung
vào những yếu tố quyết định sự lựa chọn nghề nghiệp của những cá nhân giữa sự tự chủ
việc làm hay doanh nhân với người làm công ăn lương. Kết quả của nghiên cứu này có
thể sẽ rất hữu ích và quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách để thực hiện và đưa
ra những chính sách phù hợp cho sự phát triển doanh nghiệp và doanh nhân.
11
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Với mục tiêu tổng quát ở trên, đề tài nghiên cứu này sẽ hướng vào các mục tiêu cụ
thể sau:
- Đánh giá chung các doanh nghiệp tư nhân và thị trường lao động Việt Nam,
- Tìm hiều và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của các cá
nhân giữa việc trở thành doanh nhân và đi làm thuê,
- Những yếu tố nào là quan trọng nhất tác động đến lựa chọn nghề nghiệp, và có mối
liên hệ gì đến môi trường kinh doanh mà chính phủ xác lập,
- Dựa trên các kết quả nghiên cứu để đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm tạo
điều kiện thuận lợi ban đầu cho các doanh nghiệp tư nhân phát triển.
1.3 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và số liệu
1.3.1 Phương pháp luận
Xem xét hành vi sự lựa chọn giải thích cho việc quyết định việc làm trong thị trường
lao động tại Việt Nam để trở thành một doanh nhân. Và để đánh giá những yếu tố tác
động đến xác suất quyết định lựa chọn tự làm chủ (làm thuê cho chính mình) hoặc làm
thuê (làm công ăn lương) thì mô hình logit như của Hout M. và Rosen H. (2000) được
sử dụng.
Hàm Logit sau được sử dụng :
1 2 2 3 3 4 4 5
( )
1
i
i i i i i
i
P
Ln Z C E F H
p
Trong đó, biến phụ thuộc: SE
i
(SE = 1, nếu cá nhân quyết định tự làm chủ; SE = 0,
nếu cá nhân quyết định làm công ăn lương). Nhóm các biến điều chỉnh trong mô hình
(C); nhóm các biến đại diện cho trình độ học vấn (E); nhóm các biến đại diện cho tiềm
lực tài chính (F); và nhóm biến đại diện cho gia cảnh cá nhân (H).
12
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Để có được kết quả ước lượng thuyêt phục nhất, chúng tôi sẽ cố gắng để thiết lập các
mẫu là thuần nhất có thể. Vì vậy, chúng tôi tập trung vào hành vi tiền lương nhân viên
toàn thời gian hoặc doanh nhân trong tất cả các khu vực đô thị, và do vậy loại trừ thu
nhập từ tiền lương bán thời gian, cá nhân trong những khu vực nông thôn hoặc hoạt
động trong nông nghiệp. Trên cơ sở mẫu đó, nghiên cứu sẽ tập trung vào hành vi của
những cá nhân trong khu vực thành thị trong việc quyết định trở thành người làm công
ăn lương (hưởng tiền lương toàn thời gian) hay là một doanh nhân (kinh doanh tự chủ).
1.3.3 Số liệu
Nguồn dữ liệu chính cho nghiên cứu này là cuộc khảo sát mức sống chuẩn hộ gia đình
Việt Nam (VHLSS) tiến hành năm 2008 bởi tổng cục thống kê (GSO) với sự hỗ trợ kỹ
thuật bởi Ngân hàng Thế Giới (WB). VHLSS bao gồm mẫu đại diện là 9189 hộ gia đình
tại tám khu vực địa lý của đất nước. Khảo sát này bao gồm một loạt các cá nhân và
thuộc tính của các hộ gia đình như tuổi tác, giáo dục, tình trạng việc làm, ngề nghiệp, y
tế, thu nhập và chi tiêu, tiết kiệm, nhà ở, tiếp cận với các dịch vụ công, cũng như các
đặc tính vật lý và nhân khẩu học cơ bản, hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng,… ở mức độ
chung. Giữ liệu lấy từ cuộc khảo sát này thực sự là đầy đủ và rất hữu ích cho việc phân
tích ước lượng.
1.3.4 Biến
Những biến được sử dụng trong nghiên cứu này được chọn dựa trên các đề xuất từ
các nghiên cứu tổng quan như Bernhardt (1994), Evans và Jovanovic (1989), và
Blanch_ower và Oswald (1998), Hout M. và Rosen H. (2000) và các dữ liệu có sẵn
trong nguồn mà chúng tôi lựa chọn.
Các biến này có thể là cấp độ học vấn, kinh nghiệm làm việc trong thị trường lao
động, vị trí, hoạt động kinh tế, trạng thái hôn nhân, số lượng và độ tuổi của trẻ em, giới
tính, các nguồn tài chính (sở hữu nhà, những thu nhập từ lương, những thu nhập từ vốn,
và thu nhập khác).
13
1.3.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu
Cấu trúc của bài nghiên cứu theo như 7 chương sau:
Chương 1: Chương này sẽ cung cấp những lý do cho việc nghiên cứu. chương này
cũng đề cập đến mục tiêu, phạm vi của bài nghiên cứu và mô tả ngắn gọn phương pháp
luận và dữ liệu cho nghiên cứu. Một vài giả thuyết cũng sẽ được đề cập đến.
Chương 2: Chương này sẽ cung cấp hình ảnh về thị trường lao động Việt Nam, cả
trong lĩnh vực tiền lương nhân viên và trong khu vực tự kinh doanh và khu vực doanh
nghiệp. Chương này cũng sẽ cung cấp bối cảnh chung cho các nghiên cứu.
Chương 3: Lý thuyết và nhận xét phân tích thực nghiệm sẽ được đề cập đến trong
chương này. Việc xem xét sẽ kiểm tra những thiếu sót trong lý thuyết và phân tích thực
nghiệm sẽ được bổ xung trong nghiên cứu này. Ngoài ra, chương cũng khuyến cáo một
số kỹ thuật, phương pháp luận và các biến ứng dụng trong nghiên cứu này.
Chương 4: Chương này được dành cho mô tả cẩn thận phương pháp luận, dữ liệu,
biến đo lường cụ thể cho việc phân tích và kết quả ước lượng.
Chương 5: Chương này trình bày tóm tắt các kết quả ước lượng và khuyến nghị chính
sách. Cuối cùng, các hạn chế của đề tài sẽ được nêu ra và phân tích kỹ lưỡng, đi kèm
với hướng nghiên cứu đề xuất trong tương lai.
14
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Sự thiếu hụt nghiên cứu về đề tài này ở Việt Nam cũng là nguyên nhân khiến các
tác giả thực hiện bài nghiên cứu. Đa phần các nghiên cứu mới được thực hiện ở các
nước phát triển, như của Rees và Shah (1986), Blanchflower và Oswald (1990) hay Le
(1999) về Liên hiệp Anh; Evans và Jovanovic (1989) nghiên cứu về Mỹ; Evans (1989)
và sau đó là Kidd (1993) ở Australia; de Wit và Van Winden (1993) ở Hà Lan;
Bernhardt (1994) tại Canada, Constant và Zimmermann (2006) về Đức. Trong khi đó,
lĩnh vực này vẫn còn đang được nghiên cứu ở các quốc đang phát triển nói chung và đặc
biệt là ở Việt Nam. Không có nhiều các nghiên cứu tương tự tại các nước đang phát
triển, mà trong số ít này có Cunningham và Maloney (1999) về Mexico, Earle and
Sakova (2000) về các nền kinh tế chuyển đổi hay của Destré và V. Henrard (2004) về
Colombia, Tamvada (2010) về Ấn Độ. Nghiên cứu bởi Vijverberg và Haughton (2002)
hay của Trang Do và Duchêne (2007) là hai bài viết hiếm hoi về chủ đề này ở Việt
Nam. Sau đây, chúng ta sẽ cùng điểm lại các nghiên cứu trước để xem những vấn đề gì
đã được giải quyết và nghiên cứu của chúng tôi có thể lấp khoảng trống học thuật nào.
Điểm qua một số lý thuyết về tự kinh doanh thì nhiều nghiên cứu xem xét sự khác
nhau trong thái độ với rủi ro là nhân tố tác động chính đến quyết định lựa chọn này.
Hamilton (1995) cho rằng việc tự kinh doanh vốn đã mang nhiều rủi ro hơn là làm thuê,
vì vậy mà người ghét rủi ro sẽ tránh tự đứng ra kinh doanh. Phái tân cổ điển lại chỉ ra
rằng di dân là nhóm người dám chấp nhận rủi ro để cải thiện thu nhập và cuộc sống của
mình nên họ có nhiều khả năng tự làm chủ hơn các nhóm dân số khác. Một hướng tiếp
cận khác là tập trung vào sự khác biệt trong khả năng quản trị doanh nghiệp, như
Jovanovic (1982) nhận định người có kỹ năng quản lý – lợi thế tương đối để điều hành
doanh nghiệp– có khuynh hướng mở doanh nghiệp từ khi bắt đầu sự nghiệp và cũng tồn
tại được lâu hơn trong thương trường. Lý thuyết thứ ba nhấn mạnh vai trò của khả năng
tài chính (Evans và Jovanovic, 1989), cho rằng việc thành lập và vận hành doanh nghiệp
cần phải có đủ vốn, mà do nhiều lí do, không phải ai cũng dễ dàng tiếp cận được.
Lý thuyết về những yếu tố quyết định sự lựa chọn và tiến hành kinh doanh đã
được kiểm định trong thực tế. Phương pháp được sử dụng nhiều nhất là hồi quy mô hình
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét