Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tổ chức trong nền kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu
tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ trở
thành những người cần bổ sung vốn, và các cá nhân và tổ chức thặng dư
trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho
hàng hoá và dịch vụ do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Do đó ngân hàng là một
tổ chức trung gian chuyển lượng tiền từ nhóm thặng dư sang cho nhóm thâm
hụt.
1.1.2.2.Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng
nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể
chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm
hiện đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận là tiền giấy trong lưu thông và
số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn
của khách hàng tại các ngân hàng.
Khi ngân hàng cho vay số dư trên tài khoản thanh toán của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hoá, dịch vụ. Do đó,
bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện
thanh toán.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ
sở cho vay. Toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra một khối lượng tiền
gửi (tạo phuơng tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay.
1.1.2.3.Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các Quốc gia. Thay mặt khách hàng ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị
hàng hoá và dịch vụ. Để việc thanh toán qua ngân hàng nhanh chóng thuận
tiện và tiết kiệm chi phí ngân hàng đưa ra nhiều hình thức thanh toán như
- 5 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thanh toán bằng séc, thẻ, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi . . . cung cấp mạng lưới
thanh toán tiện tử và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng
còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương
(NHTW) hoặc thông qua các Trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán
hiện đại qua ngân hàng được mở rộng, nhiều hình thức thanh toán được
chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các
ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới.
Các Trung tâm thanh toán quốc tế được thành lập đã làm tăng hiệu quả của
thanh toán qua ngân hàng biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán
quan trọng và có hiệu quả phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3.Các hoạt động chính của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế,
đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội đồng thời cũng là nguồn cung
cấp vốn chủ yếu cho các cá nhân, doanh nghiệp và một phần đối với Nhà
nước.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một
tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Xuất phát từ lịch sử hình thành hệ thống Ngân hàng trên thế giới với
nghiệp vụ đầu tiên là mua bán ngoại tệ đến nay số lượng các dịch vụ mà
ngân hàng cung cấp đã trở nên đa dạng, phong phú, góp phần quan trọng vào
quá trình lưu thông các nguồn vốn trong nền kinh tế. Các dịch vụ ngân hàng
đang có hiện nay bao gồm:
- Mua bán ngoại tệ: Đây được xem là một trong những dịch vụ đầu
tiên được thực hiện tại các ngân hàng, ở đây ngân hàng đóng vai trò là một
- 6 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trung gian mua, bán các loại ngoại tệ và được hưởng phần chênh lệch giữa
giá mua vào với giá bán ra cùng một khoản phí dịch vụ. Tuy nhiên, nghiệp
vụ này thường mang tính rủi ro cao, chịu tác động của nhiều nhân tố nên chỉ
những ngân hàng lớn nhất mới được phép cung cấp.
- Nhận tiền gửi: Với chức năng là một trung gian tài chính trong nền
kinh tế, các ngân hàng không ngừng tăng lượng tiền cho vay và để thoả mãn
nhu cầu đó các ngân hàng đồng thời cũng phải tìm kiếm các nguồn tiền nhàn
rỗi để thu hút, kêu gọi họ gửi vào ngân hàng. Nguồn tiền nhàn rỗi mà các
ngân hàng nhận được chủ yếu là các khoản tiền gửi tiết kiệm từ dân cư hoặc
khoản tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế.
- Bảo quản vật có giá: Các Ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và
các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản và nhận được các
khoản phí dịch vụ đóng góp vào nguồn thu nhập của Ngân hàng.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi các
doanh nhân gửi tiền vào Ngân hàng, họ nhận thấy Ngân hàng không chỉ bảo
quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán
qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người
gửi tiền không cần phải đến Ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi
trả cho khách (còn gọi là séc), khách hàng mang giấy đến Ngân hàng sẽ
nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn,
chính xác, nhanh chóng, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian
kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Điều này đã khuyến
khích các doanh nhân gửi tiền vào Ngân hàng để nhờ Ngân hàng thanh toán
hộ. Như vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất được phát triển đó là tài
khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho
việc mua hàng hoá và dịch vụ.
- 7 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Quản lý ngân quỹ: Các Ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần
lớn các doanh nghiệp và cá nhân. Nhờ đó, Ngân hàng thường có mối liên hệ
chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ
và khả năng trong việc thu ngân, nhiều Ngân hàng đã cung cấp cho khách
dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi
của công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời
vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng
cần tiền mặt để thanh toán.
- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Do nhu cầu chi tiêu lớn và
thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn
tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng. Các Ngân hàng được cấp
giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ
nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các Ngân
hàng mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền
gửi mà Ngân hàng huy động được, hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu
đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.
- Bảo lãnh: Các Ngân hàng với uy tín và khả năng thanh toán của
mình đã giành được lòng tin của công chúng, vì vậy khi khách hàng có nhu
cầu và thoả mãn được các điều kiện Ngân hàng yêu cầu thì sẽ được Ngân
hàng thực hiện bảo lãnh cho giao dịch như bảo lãnh phát hành chứng khoán,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo
lãnh vay vốn nước ngoài…
- Cho thuê thiết bị trung, dài hạn: Trong dịch vụ này, các Ngân hàng
chỉ là trung gian trong việc thoả mãn một nhu cầu sử dụng máy móc, thiết bị
của các doanh nghiệp với các nhà sản xuất các loại thiết bị đó. Ngân hàng sẽ
dùng vốn của mình mua các thiết bị và cho thuê lại các doanh nghiệp thông
- 8 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
qua hợp đồng thuê trung và dài hạn. Để thực hiện hợp đồng này người thuê
phải đảm bảo yêu cầu phải trả tới hơn 2/3 giá trị tài sản cho thuê.
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác đầu tư và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh
vực tài chính nên các Ngân hàng thường có rất nhiều chuyên gia về quản lý
tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và các doanh nghiệp đã nhờ Ngân hàng
quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển
sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu
tư… Nhiều Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về
thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Nhiều Ngân hàng
đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả
mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến cho các Ngân
hàng bắt đầu đưa ra các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách
hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không
phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong điều kiện cho phép các
Ngân hàng sẽ thành lập ra Công ty chứng khoán hoặc Công ty môi giới
chứng khoán có thể hoạt động độc lập với hoạt động ngân hàng nhằm ngăn
ngừa rủi ro.
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Cùng với sự phát triển của ngành
bảo hiểm, các Ngân hàng đã nắm bắt cơ hội kinh doanh thông qua việc chấp
nhận làm đại lý bán bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm lớn, nhờ đó làm tăng
thu nhập cho Ngân hàng bằng các khoản hoa hồng đại lý và phí cung cấp
dịch vụ.
- Cung cấp các dịch vụ đại lý: Nhiều Ngân hàng trong quá trình hoạt
động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Trong
khi đó, các Ngân hàng lớn sẵn sàng cung cấp dịch vụ Ngân hàng đại lý cho
- 9 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
các Ngân hàng có nhu cầu như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ
tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong hoạt động đồng tài trợ.
Tất cả các dịch vụ trên đều mang lại cho Ngân hàng các khoản thu
nhập nhưng cho đến nay nguồn thu nhập chủ yếu của các Ngân hàng vẫn là
từ các khoản cho vay. Vì vậy, cho vay được xem là một trong những nghiệp
vụ chủ yếu và quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại, nó vừa giúp
cho Ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh tín dụng, tăng thêm lợi
nhuận, vừa giúp cho các đơn vị vay có đủ vốn để duy trì quá trình sản xuất
kinh doanh.
Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng thương mại không chỉ là quy
luật tất yếu mà còn là yêu cầu khách quan của nền kinh tế bởi nó góp phần
quan trọng trong tiến trình đi lên của quốc gia. Ngành công nghiệp Ngân
hàng cũng đang ra sức tận dụng sự phát triển của ngành công nghệ thông tin
để cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích, chính xác, an toàn và
nhanh chóng hơn nữa. Cho đến nay các Ngân hàng thương mại vẫn là nơi
cung cấp nguồn vốn đầu tư chủ yếu cho nền kinh tế, vì vậy việc phát triển
hoạt động cho vay của Ngân hàng là một nhân tố quan trọng không chỉ đối
với các doanh nghiệp mà còn mang lại nhiều lợi ích cho bản thân Ngân
hàng.
1.1.4.Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.4.1.1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy nhiên
khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (hoặc các trung gian
khác) - ví dụ như tín dụng ngân hàng - thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng
cho vay. Việc xác định như thế này là rất cần thiết để định lượng tín dụng
trong các hoạt động kinh tế.
- 10 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Theo luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, điều 49 ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá
nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
khác, bảo lãnh, cho thuế tài chính và các hình thức khác theo qui định của
Ngân hàng Nhà nước
1.4.1.2.Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định
nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được
cụ thể hoá trong các qui định của ngân hàng Nhà nước và các NHTM.
• Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian
xác định: Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các
khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân
hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam kết. Do vậy,
ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết
này. Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển.
• Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được
thoả thuận với ngân hàng, không trái với các qui định của pháp luật và các
qui định khác của ngân hàng cấp trên. Luật pháp qui định phạm vi hoạt động
cho các ngân hàng. Bên cạnh đó mỗi ngân hàng có thể có mục đích và phạm
vi hoạt động riêng. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm
bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ
đó là phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng.
• Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả.
Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất.
Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng
thu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ ngân hàng. Các khoản tài trợ của
ngân hàng phải găn liền với việc hình thành tài sản của người vay. Trong
- 11 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trường hợp xét thấy kém an toàn, ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài
sản đảm bảo khi vay.
1.2.Phân tích tín dụng trong hoạt động tín dụng của NHTMCP
1.2.1. Khái niệm, mục tiêu và nội dung của phân tích tín dụng
1.2.1.1.Khái niệm phân tích tín dụng
Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho
NHTM… Rủi ro này, có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất,
làm giảm thu nhập của ngân hàng. Có nhiều khoản tài trợ mà tổn thất có thể
chiếm phần lớn của vốn của chủ, đẩy ngân hàng đến phá sản. Do vậy các
ngân hàng phải cân nhắc kĩ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi
quyết định tài trợ. Đó chính là quá trình phân tích tín dụng trước và trong khi
tài trợ.
Phân tích tín dụng là công việc nghiêm túc, không thể làm chiếu lệ.
Trong môi trường gia tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng, khách hàng, đòi
hỏi ngân hàng phải thực hiện qui trình phân tích nhanh gọn và tiếp kiệm chi
phí; đây cũng là hoạt động liên quan đến trách nhiệm của nhiều phòng ban
và cán bộ ngân hàng. Do vậy quy trình phân tích tín dụng phải đáp ứng các
yêu cầu sau:
• Được xây và thống nhất trong toàn ngân hàng, tránh tuỳ tiện, duy ý
chí. Quy trình này phải được Ban lãnh đạo ngân hàng quyết định và phổ biến
đến các phòng có liên quan cũng như các cán bộ tín dụng;
• Được xây dựng chi tiết trong nội dung phân tích, tránh chung
chung. Mỗi phòng chức năng trong ngân hàng cũng như cán bộ ngân hàng
cần biết mình phải làm gì, đến mức nào;
• Toàn bộ qui trình phải nhằm thực hiện các nguyên tắc tín dụng ngân
hàng.
- 12 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.1.2.Mục đích của phân tích tín dụng
Mục đích chính của phân tích tín dụng là xác định khả năng và ý
muốn của người vay trong việc hoàn trả tiền vay, phù hợp với các điều
khoản của hợp đồng tín dụng. Một ngân hàng phải xác định mức độ rủi ro có
thể chấp nhận trong mỗi trường hợp và mức cho vay có thể chấp nhận được,
với mức rủi ro có thể có. Hơn nữa, chỉ có tiến hành cho vay một khi đã xác
định được các điều kiện và thời hạn để qua đó, người cho vay và người vay
đều có thể chấp thuận. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của
người vay rất khó đánh giá, nhưng chúng phải được xem xét sát với thực tế,
khi chuẩn bị các dự án tài chính, bao gồm việc xem xét hồ sơ kinh tế của
người đi vay và thực hiện các dự đoán kinh tế, đặt người vay và môi trường
vào tất cả những biến cố có thẻ xảy ra ảnh hưởng trong một thời điểm ở
tương lai để quyết định xem món nợ có có được hoàn trả theo trình tự bình
thường hay không.
Phân tích tín dụng về căn bản giống nhau trong tất cả các ngân hàng,
nhưng ở một số ngân hàng, người ta nhấn mạnh đến một số chức năng này
còn các ngân hàng khác thì lại nhấn mạnh đến một số chức năng khác. Nói
chung, chúng bao gồm việc thu thập thông tin có ý nghĩa đối với việc đánh
giá tín dụng, việc chuẩn bị và phân tích thông tin thu thập được, việc sưu
tầm và lưu thông tin để sử dụng trong tương lai.
1.2.1.3. Nguồn thông tin để phân tích tín dụng
Nhiều nguồn thông tin về tín dụng làm cơ sở để phân tích gồm những
cuộc phỏng vấn với người xin vay, sổ sách của ngân hàng, các nguồn tin
điều tra bên ngoài địa điểm kinh doanh của người xin vay và báo cáo tài
chính của họ.
* Phỏng vấn người xin vay
- 13 -
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Qua phỏng vấn người xin vay, nhân viên tín dụng sẽ biết được lý do
và biết các yêu cầu xin vay có đáp ứng các đòi hỏi khác nhau, do chính sách
cho vay của ngân hàng ấn định hay không. Thậm chí nếu như yêu cầu cho
vay không phù hợp với chính sách của ngân hàng thuộc trong một phạm vi
quy định nào đó do luật pháp hoặc cơ quan điều hành ngân hàng án định,
nhân viên tín dụng có thể cho người xin vay lời khuyên, liên quan đến nguồn
vốn khác nhau có thể khai thác. Qua phỏng vấn, nhân viên tín dụng có một ý
niệm nào đó về tính thật thà và khả năng của người vay và có thể có ý kiến
xem có cần thiết phải có vật đảm bảo hay không. Thông tin về lịch sử và sự
phát triển của các ngành kinh doanh, kiến thức của đội ngũ nhân sự chủ
chốt, bản chất của các sản phẩm và các dịch vụ, các nguồn nguyên liệu, lợi
thế cạnh tranh và các kế hoạch cho tương lai có thể có được sau phỏng vấn.
Trong phỏng vấn. Viên chức cho vay cũng xẽ khuyên người xin vay về việc
phảI cần bổ xung các thông tin tài chính để đánh giá khoản vay theo đề nghị.
* Sổ sách của ngân hàng
Một ngân hàng có thể lưu trữ hồ sơ tập trung của cả người ký thác và
người vay, từ đó có thể nhận được thông tin về tín dụng, thậm chí nếu người
xin vay chưa từng là khách hàng của ngân hàng. Ví dụ, sổ sách có thể cho
biết việc chi trả các khoản tín dụng của doanh nghiệp trước đây, số dư tài
khoản tiết kiệm và tài khoản séc, và cũng có thể biết được liệu người xin vay
có thói quen rút quá số dư tài khoản của họ không. Hồ sơ khách hàng cung
cấp gồm có: Hồ sơ pháp lý trình bày những thông tin về tình trạng pháp lý
của doanh nghiệp như quyết định thành lập, giấy phép hoạt động, điều lệ
doanh nghiệp; Hồ sơ về tình hình tài chính của khách hàng gồm các báo cáo
tài chính trong một số năm (thông thường là bảng cân đối kế toán, báo cáo
kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài
chính) và các bảng kế hoạch về tài chính trong tương lai; Hồ sơ về kế hoạch,
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét