Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

MÔ TẢ LỜI NÓI CỦA TRẺ 4 - 5 TUỔI

trẻ phải đợc trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trong môi tr-
ờng nhất định
Thật vậy, để truyền đạt một điều gì đó đến ngời khác, con ngời không
phải lúc nào cũng dùng hành động để diễn đạt mà phải dùng ngôn ngữ để nói
cho ngời khác nghe và tất nhiên thông tin truyền đạt đi bằng ngôn ngữ sẽ đợc
trả lời bằng ngôn ngữ.
Thời kỳ phát triển của trẻ mẫu giáo là thời kỳ trẻ có tốc độ phát triển
ngôn ngữ nhanh nhất. Do đó, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là rất cần thiết.
Thực tế ở trờng mầm non cha có tiết học phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nội dung,
phơng pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn cha đợc nghiên cứu một
cách cụ thể và đầy đủ cho nên hiệu qủa còn thấp so với mong
muốn của các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh.
Với những lý do trên tôi mong muốn đợc góp một phần nhỏ bé của mình
vào việc nghiên cứu chơng trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ tôi đã chọn đề tài :
Mô tả các kiểu câu trong lời nói của trẻ 4 - 5 tuổi
II. Mục đích nghiên cứu:
Xác định đợc đặc điểm phát triển của việc sử dụng các kiểu câu trong lời
nói của trẻ 4 - 5 tuổi. Từ đó rút ra kết luận s phạm cho việc định hớng nghiên
cứu các phơng pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi này.
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến sự hình thành và phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 4 - 5 tuổi.
2. Khảo sát, nghiên cứu các kiểu câu trong lời nói của trẻ 4 - 5 tuổi, chỉ rõ
đặc điểm phát triển trong lĩnh vực này.
3. Đa ra một số kết luận s phạm có liên quan đến sự phát triển năng lực
sử dụng câu trong giao tiếp của trẻ 4 - 5 tuổi.
IV. Phơng pháp nghiên cứu:
1. Đọc tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu; tìm và phân lọai các sách,
tài liệu, các công trình nghiên cứu tâm lý, giáo dục của các nhà khoa học trong
5
và ngoài nớc để biết cuốn nào nên đọc trớc, cuốn nào đọc sau. Đọc kỹ để ghi
chép, còn cuốn nào chỉ để đọc tham khảo.
2. Điều tra khảo sát về thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 4
- 5 tuổi thông qua việc quan sát tự nhiên khi trẻ tự nói, khi trẻ giao tiếp với nhau
hoặc trong những tiết học, những tình huống s phạm giữa cô và trẻ. Tất cả
những quan sát đợc đều lu lại trong hồ sơ riêng của từng trẻ.
3. Kết quả nghiên cứu bằng toán học.
V. Khách thể và đối tợng nghiên cứu:
1. Khách thể nghiên cứu.
10 cháu lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi trờng mầm non Bảo Hiệu - Yên Thuỷ -
Hoà Bình. Bằng việc mô tả lời nói của các cháu trong mọi hoạt động trong ngày
của trẻ thông qua việc ghi chép.
2. Đối tợng nghiên cứu:
Lời nói của trẻ 4 - 5 tuổi sử dụng trong giao tiếp hàng ngày tại trờng mầm
non.
Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu
Chơng I: Những cơ sở lý luận về sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo
I. Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ
Để có vốn kiến thức và ngôn ngữ phong phú, dồi dào thì đứa trẻ cần phải
qua một quá trình lâu dài tiếp xúc, giao tiếp với môi trờng xung quanh, môi tr-
ờng xã hội.
Giai đoạn đầu tiên trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ là từ 0 -1
tuổi. Đây là giai đoạn tiền ngôn ngữ nói xuất hiện âm thanh khóc oaoahoặc
một số âm đơn nh a, ơ
Đến giai đoạn sau là ngôn ngữ nói (1 - 4 tuổi) khởi đầu là xuất hiện từ Ba,
bà sau đó là mẹ, cha và những câu đơn rút gọn nh ăn cơm, đi chơi đến 4 tuổi
trẻ nói đợc các câu cơ bản với khoảng 1500 đến 2000 từ các loại khác nhau.
Tuy nhiên, các câu cha đợc sắp xếp theo logich.
6
Giai đoạn cuối 4- 6 tuổi là giai đoạn hoàn thiện ngôn ngữ, vốn từ trẻ phát
triển toàn diện, phong phú và nhanh chóng, vợt ra khỏi phạm vi cuộc sống hàng
ngày. Trẻ làm chủ đợc lời mình nói, đã kể đợc các câu chuyện có nội dung đơn
giản, số lợng từ của trẻ tăng theo thời gian cùng tháng tuổi của trẻ, vốn từ của
trẻ đợc mở rộng, việc phát âm dần dần chính xác nh Bà ơi, mẹ ơi Về sau ngôn
ngữ của trẻ bắt đầu mạch lạc trong giao tiếp ngôn ngữ. Trẻ bắt đầu nắm đợc và
sử dụng các hình thức ngữ pháp.
Việc lĩnh hội các hình thức ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ phát triển sự nhạy
cảm của ngôn ngữ ở đứa trẻ. Thờng trong khi chơi trẻ tự chọn các từ có ý nghĩa
sắc thái nhất định, việc nắm ngôn ngữ có ý nghĩa to lớn đối với các mặt phát
triển tâm lý khác nhau của đứa trẻ để ngời lớn điều chỉnh hoạt động của nó.
Những quá trình tâm lý nh tri giác, t duy, tởng tơngk của trẻ đợc cải tạo dới ảnh
hởng của ngôn ngữ. Tuy nhiên, quá trình nắm vững ngôn ngữ lại phụ thuộc vào
sự phát triển hoạt động của trẻ trong quá trình tri giác, t duy.
Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ trong trờng mầm non nh vậy,
Song qua mỗi thời kỳ theo sự phát triển chung của xã hội thì ngôn ngữ lại có sự
thay đổi. Chính vì vậy mà có nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả nghiên cứu về
vấn đề này và mỗi tác giả có sự nghiên cứu riêng của mình.
Nói tóm lại sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là rất cần thiết. Song muốn tác
động s phạm có hiệu quả thì điều quan trọng của nhà nghiên cứu là dựa trên
những luận điểm, cách đánh giá của các nhà khoa học về đặc điểm phát triển
ngôn ngữ trẻ.
Việc nắm đợc sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ ta thấy đợc trẻ
4 - 5 tuổi ngôn ngữ đã hoàn thiện đặc biệt là ngữ pháp. Cùng với sự phát triển
xã hội ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển phong phú hơn. Thông qua các t liệu
của các nhà nghiên cứu trớc đây thì đối với trẻ 4 - 5 tuổi xét về loại hình của
cụm từ, câu đơn hai thành phần, câu phức hợp thì số lợng không tăng nhng về
cấu trúc của từng loại câu thì có sự phát triển các thành phần của câu có cấu
trúc tầng bậc, biết tóm tắt câu chuyện theo đúng trình tự, thậm chí các cháu còn
7
kể đợc một cách hoàn chỉnh. Đồng thời, các câu chính phụ của trẻ 4 - 5 tuổi
cũng đầy đủ hơn. Câu nói của trẻ cũng mạch lạc hơn.
Ngữ pháp đã đợc hoàn thiện, trẻ hoàn toàn làm chủ đợc lời nói của mình
về cú pháp, ngữ pháp, ngữ điệu. Các câu chuyện kể tuy còn sơ lợc về nội dung
và các chi tiết nhng đã bộc lộ đợc cốt truyện theo logich thời gian, không gian
nhất định.
Có thể nói: trẻ em trớc tuổi đi học đã có khả năng nói với t cách là phơng
tiện giao tiếp t duy. Với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ta thấy trẻ càng tích cực giao
tiếp thì ngôn ngữ càng phát triển, câu đợc mở rộng thành nhiều loại khác nhau,
đa dạng hơn, phong phú hơn, trẻ sử dụng đợc các câu ngày càng phù hợp với
ngữ cảnh, hoàn cảnh giao tiếp. Đồng thời, trẻ biết biểu lộ thái độ, sắc thái của
câu nói trong khi giao tiếp.
Nói chung về ngữ pháp trẻ 4 - 5 tuổi đã biết sử dụng phù hợp hơn, rõ ràng
mạch lạc là điều kiện chuẩn bị cho trẻ vào học trờng phổ thông sau này.
II. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ 4 - 5 tuổi.
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong sự phát triển toàn diện của trẻ, ngôn ngữ
là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất, để có ngôn ngữ hoàn chỉnh thì trẻ phải
có vốn từ phong phú vì từ là yếu tố vô cùng quan trọng, nó là nguyên vật liệu để
xây dựng ngôn ngữ, hiểu đợc từ là thao tác đầu tiên, cơ bản để giúp trẻ lĩnh hội
đợc ngôn ngữ của đối tợng và biến nó thành ngôn ngữ của cá nhân. Nếu trẻ
không hiểu đợc ý nghĩa của từ thì trẻ không thể phát triển đợc ngôn ngữ và chức
năng tâm lý khác nh tri giác, t duy, tởng tợng Nếu chỉ biết sử dụng từ thì cha
đứng xử, bởi nếu giao tiếp với nhau bằng các từ rời rạc thì ngời nghe không hiểu
đợc ngời nói định nói gì và đồng thơì với khả năng hiểu từ và sử dụng từ thì việc
liên kết giữa các từ thành một câu có vai trò cực kỳ quan trọng, giúp cho quá
trình giao tiếp trở nên thuận lợi, thể hiện khả năng t duy của trẻ. Hơn nữa trẻ 4 -
5 tuổi đã và đang thực hiện hoạt động chủ đạo của mình là hoạt động vui chơi.
Trong vui chơi trẻ giao tiếp với nhau và từ đây ngôn ngữ của trẻ đợc hình thành.
Đây là mốc đánh giá cơ bản cho sự chuyển biến về chất của trẻ ở phơng tiện
ngôn ngữ chuẩn bị cho trẻ bớc vào hoạt động học tập sau này. Ngôn ngữ chính
8
là công cụ giúp trẻ tổ chức vui chơi và giao tiếp với nhau. Chính trong lúc chơi
trẻ học đợc các từ mới, tập thể hiện ý nghĩ của mình một cách mạch lạc cùng
với bạn chơi. Vậy có thể nói nhờ có ngôn ngữ trẻ lớn lên một cách bình thờng,
tiếp thu dễ dàng những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài ngời để lại.
Chơng II. Mô tả quá trình nghiên cứu
I. Thực trạng trờng mầm non và ngôn ngữ của trẻ
Trờng mầm non Bảo Hiệu - Yên thuỷ - Hoà Bình mà tôi nghiên cứu có cơ
sở vật chất tơng đối tốt so với các trờng trong huyện, đã có bộ đồ chơi ngoài trời
nh xích đu, đu quay, sân chơi, cầu trợt; trong lớp cũng có đồ dùng đồ chơi phục
vụ cho hoạt động học tập và hoạt động vui chơi, sinh hoạt hàng ngày. Từ đó trẻ
càng có điều kiện sử dụng ngôn ngữ của mình khi giao tiếp , trẻ càng tiếp xúc
với đồ chơi bao nhiêu thì sự hiểu biết của trẻ càng phong phú và vốn từ của trẻ
càng phát triển.
Giáo viên dạy lớp 4 - 5 tuổi tuổi là cô Bùi Thị Hơng và cô Bùi Thị Thắng.
Các cô đều có kinh nghiệm trong giảng dạy và chăm sóc trẻ. Đồng thời các cô
đều là ngời yêu mến trẻ say mê với công việc. Trong quá trình giảng dạy các cô
đã chú ý đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, bởi vì đây là lứa tuổi phát triển
ngôn ngữ mạnh nhất trong quá trình phát triển ngôn ngữ của đời ngời. Vậy mặc
dù ở trờng mầm non hiện nay cha có tiết học phát triển ngôn ngữ riêng biệt mà
chỉ thông qua các tiết học khác nh văn học, môi trờng xung quanh Giáo viên đã
dạy và hớng dẫn trẻ nói đúng câu khi cháu nói câu cha đầy đủvà cha chính xác.
Dạy trẻ nói lại câu cho đúng hoặc khi chơi cô giáo có thể tạo tình huống
giao tiếp với trẻ và tự dạy trẻ giao tiếp với nhau. Mặc dù cô giáo đã chú ý rèn
luyện ngôn ngữ cho trẻ nhng trong các giờ học cô cha tích cực gọi trẻ lên trả lời
mà chỉ gọi một số trẻ thông minh, nhanh nhẹn; còn những trẻ chậm và nhút
nhát suốt cả buổi cô không hỏi và trẻ không đợc trả lời chút nào. Một điều hạn
9
chế trong quá trình chơi là trẻ luôn phải cố định vai chơi, không đợc luân
chuyển vai chơi dẫn đến trẻ nhàm chán không hứng thú nhập vai.
VD: Trẻ đóng vai cô giáo thì suốt từ đầu đến cuối năm chỉ đóng vai cô
giáo. ở lứa tuổi này trẻ rất hiếu động, luôn muốn tìm tòi khám phá sự vật xung
quanh nên trẻ thờng luôn mồm hỏi, nói, kể. Điều này chứng tỏ ngôn ngữ của trẻ
phát triển không ngừng, các cháu luôn có nhu cầu giao tiếp với bạn bè, cô giáo
và mọi ngời xung quanh. Trẻ hỏi về những điều cha biết, trẻ kể về những điều
đã biết. Nhng do trẻ nói tự do nhiều nên cô không thể sửa sai hết.
ở trờng mầm non vì cha có tiết dạy phát triển ngôn ngữ riêng biệt mà chỉ
thông qua các tiết học khác, hoạt động khác mà trẻ lại tự nhiên thoải mái trong
giao tiếp nên câu nói của trẻ nhiều khi cha chính xác, tất cả ngôn ngữ trẻ nắm
bắt đợc đều là gián tiếp. Bên cạnh đó cô giáo nhiều khi cha chú ý đến mục đích
của sự phát triển ngôn ngữ, nên qua thực tế cho thấy trẻ nói nhiều loại câu nhng
đôi khi câu mà trẻ nói cha đợc cân nhắc, suy nghĩ kỹ càng. Để thấy đợc mức độ
phát triển ngôn ngữ của trẻ thể hiện ra sao, phần sau tôi sẽ mô tả kỹ toàn bộ câu
nói của trẻ mà tôi đã ghi chép đợc trong quá trình thực hiện.
II. Mô tả quá trình nghiên cứu
Trẻ 4 - 5 tuổi đã có sự phát triển ngôn ngữ khá cao, câu nói của trẻ không
chỉ đơn thuần là câu có hai thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ) mà hầu hết
đều đợc mở rộng. Đồng thời, trẻ có khả năng kể lại các sự việc đã xảy ra hàng
ngày bằng hàng loạt các câu đơn nối tiếp, trẻ đã hiểu đợc lời nói gắn với những
hoàn cảnh nhất định.
Trong thời gian nghiên cứu tôi đã bám sát vào các tiêu chí đó để đánh giá
ở lứa tuổi này các cháu thờng dùng các loại câu nào, loại câu nào mới xuất hiện,
tỷ lệ giữa các câu ra sao? Đồng thời tôi đánh giá, tìm hiểu, xem xét khả năng
nắm bắt các kiểu câu nói của trẻ nh thế nào? trẻ phát ngôn, chọn từ và lựa chọn
cấu trúc ngữ pháp ra sao?
Thời gian tôi tiến hành thực nghiệm là 5 tuần, tôi đã chọn 10 cháu (trong
đó có cả trẻ trai và gái) ở lớp mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi. Các cháu đều có sức khoẻ
tốt, phát triển bình thờng. Sau khi chọn trẻ bằng phơng pháp nghiên cứu chính
10
là ghi chép và quan sát tự nhiên tất cả các câu nói của trẻ thông qua gìơ học, giờ
chơi và các hoạt động trong ngày, tôi đã thu đợc kết quả là 839 câu nói của trẻ.
* 10 cháu tôi chọn và nghiên cứu:
Stt Họ và tên
Ngày tháng
năm sinh
1
Nguyễn công hậu
10/8/1999
2
Trơng thị phơng
9/3/1999
3
đinh ngọc tuyến
1/7/1999
4
Vũ trung đức
2/9/1999
5
Lê thanh thuỷ
6/9/1999
6
Nguyễn thu trang
5/9/1999
7
Bùi thị ngọc
7/2/1999
8
Nguyễn đức nghĩa
6/9/1999
9
Bùi diệu linh
2/6/2000
10
Bùi văn đồng
3/2/2000
Ngoài ghi chép tự nhiên chúng tôi còn gợi ý để trẻ giao tiếp một cách
thoải mái. Những câu nói của trẻ đợc tôi ghi chép lại trong sổ theo trình tự từng
ngày,với mọi hoạt động của từng trẻ. Kết quả thu đợc sau thực nghiệm tôi lập
bảng phân loại câu nói của 10 trẻ với nội dung là câu đơn, câu ghép, câu đặc
biệt, tổng số câu và đợc phân loại, tôi đánh giá mức độ sử dụng câu mà trẻ nói
đợc, lập % câu trẻ nói đợc trên tổng số đó là tỷ lệ câu nói đúng và câu nói
không đúng. Bên cạnh việc phân loại để đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ
thì riêng về ngữ pháp tôi còn đánh giá mức độ phát triển của bé trai và bé gái.
So sánh khả năng sử dụng câu giữa trẻ trai và gái:
Loại câu
Tổng số câu của
cháu trai
Tổng số câu của
cháu gái
So sánh câu nói
của trẻ trai và
gái
Câu nói chung
Trẻ trai, trẻ gái
Câu đơn
Trẻ trai, trẻ gái
11
Câu ghép
Trẻ trai, trẻ gái
Thông qua các bảng trên tôi đánh giá đợc loại câu nào trẻ hay dùng và
với loại câu đó thì trẻ trả nào nói nhiều hơn. Cùng với việc đánh giá sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi về ngữ pháp bằng cách phân tích kết cấu loại
câu, tôi kết hợp phân loại theo mục đích nói là thể hiện hoàn cảnh trẻ đợc giao
tiếp. Hơn nữa, để mô tả câu nói của trẻ đầy đủ hơn, rõ ràng hơn nhờ đó ta biết
đợc trẻ sử dụng câu có đúng ngữ cảnh không và thái độ của trẻ trong giao tiếp
nh thế nào?
Qua nghiên cứu tôi thấy có cháu nói theo sự tởng tợng. Tuy là trẻ tởng t-
ợng nhng những câu trẻ nói không hề rời rạc, có ý hoàn toàn mạch lạc, cấu trúc
logich, nhng có nhiều trẻ nói cha tốt, còn lắp bắp, lặp từ, thiếu thành phần nòng
cốt trong câu nh chủ ngữ, vị ngữ. Để hiểu thêm về nguyên nhân, mức độ phát
triển ngôn ngữ của trẻ tôi sử dụng phiếu với phụ huynh. Tôi đợc gia đình các
cháu giúp đỡ rất nhiệt tình trong việc trả lời phiếu điều tra. Phiếu điều tra gồm
18 mục hỏi về bố, mẹ, nghề nghiệp, trình độ học vấn của bố mẹ Tôi thấy tuỳ
theo trình độ học vấn, kinh tế gia đình, nghề nghiệp của bố mẹ các cháu khác
nhau thì sự phát triển ngôn ngữ của trẻ cũng khác nhau.
Qua thực tế cho thấy, những trẻ mà bố mẹ có điều kiện quan tâm chăm
sóc con trên mọi lĩnh vực nhiều hơn những trẻ có hoàn cảnh gia đình ngợc laị.
Có những trẻ không đi nhà trẻ mà đến 3 tuổi đến lớp mẫu giáo; có những trẻ 1
tuổi đã đợc đến trờng. Đây cũng là yếu tố không nhỏ ảnh hởng đến sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ.
Nhu cầu giao tiếp của trẻ đợc thể hiện khi trẻ đợc đáp ứng đầy đủ hay
không đầy đủ đồ dùng, đồ chơi. Thờng trẻ nào đợc hoạt động với đồ chơi nhiều
thì hoạt động của trẻ đợc tự nhiên hơn. Tất cả các phụ huynh mà tôi gặp gỡ đã
giúp đỡ tôi nhiệt tình và hiểu rõ tầm quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ
cho trẻ. Mặc dù vậy vẫn còn hạn chế về cơ sở vật chất, phơng tiện còn thiếu, lớp
học chật chội, các cháu thì đông nên chỉ ghi chép là chủ yếu.
12
Qua việc ghi chép trong 5 tuần các câu nói của 10 cháu, tôi ghi đợc 839
câu. Trong đó:
- Câu đơn: 356
- Câu ghép: 393
- Câu đặc biệt: 90
- Câu sai: 103
Nói chung trẻ có khả năng nói tốt, ít nói loại câu phối hợp, biết nói đúng
ngữ cảnh.
Phiếu điều tra phụ huynh từng trẻ
Nội dung phiếu điều tra:
1. Họ tên trẻ
Ngày tháng năm sinh
2. Họ và tên bố:
Nghề nghiệp:
Trình độ học vấn:
3. Họ và tên mẹ
Nghề nghiệp:
Trình độ học vấn:
4. ở nhà anh chị có giành nhiều thời gian để nói chuyện với cháu không?
5. Cháu đi học mầm non từ lúc mấy tháng tuổi? có thờng xuyên không?
6. ở trờng cháu có học đợc nhiều (đọc thơ, kể chuyện, học chữ, học số)
không? ở nhà anh chị thờng kèm cháu những gì?
7. Về nhà cháu có hay đọc, hay hát, đọc thơ, kể chuyện cho mọi ngời nghe
không?
8. Khi ở nhà cháu có hay thờng xuyên kể những chuyện xảy ra ở lớp không?
9. Cháu có thờng xuyên trò chuyện với mọi ngời không?
10. Cháu có hay hỏi về những điều cháu cha biết không?
11. Cháu có anh chị ở cùng không?
12. Cháu có nhiều anh chị để chơi không?
13. Gia đình có nhiều thời gian để quan tâm đến cháu không?
14. ở nhà cháu có nhiều đồ chơi không?
15. Cháu có thích chơi với những con vật nuôi trong gia đình không?
13
16. Cháu có hay bắt chớc lời nói, hoạt động của ngời khác không?
17. Đối với ngời lạ cháu nh thế nào?
18. Anh chị ghi lại giúp tôi những câu nói của trẻ khi trẻ nói chuyện, học
hỏi mọi ngời.
Tôi đã phát cho mỗi phụ huynh một phiếu điều tra và đã đợc sự giúp đỡ
nhiệt tình của mọi ngời trong công việc trả lời phiếu điều tra. Phiếu điều tra
gồm 18 mục mà qua đó tôi đã nắm bắt đợc cụ thể gia đình từng cháu. Từ những
điều kiện hòan cảnh khác nhau nên việc quan tâm, chăm sóc của từng gia đình
là không giống nhau.
Qua quá trình điều tra, nghiên cứu tôi đã có nhiều thuận lợi nhng cũng
gặp một số khó khăn:
- Khi nghiên cứu thì phơng pháp ghi chép là chủ yếu
- Một số cháu còn rụt rè cha mạnh dạn trong các hoạt động.
- Giáo viên cha chú ý lắm đến việc rèn luyện ngôn ngữ cho trẻ.
Để đánh giá đợc mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi, ngời
nghiên cứu phải công phu ghi chép tỉ mỉ câu nói của trẻ khi giao tiếp tự nhiên
và có thể hỏi trẻ một số câu hỏi. Trong quá trình ghi chép tôi phân loại câu nh:
Có bao nhiêu câu đơn, bao nhiêu câu ghép, câu đặc biệt, câu sai
Chơng II:
Mô tả quá trình nghiên cứu
I. Thực trạng trờng mầm non và ngôn ngữ của trẻ
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã ghi chép tất cả các loại câu mà trẻ nói
một cách trung thực. Trong đó có 5 cháu trai và 5 cháu gái. Sau khi phân tích
kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi là
khác nhau.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét