Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lí và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ở Việt nam

Đề án môn học
với các nước có cơ chế quản lý tồi, dù số tiền viện trợ là bao nhiêu thì tăng
trưởng vẫn thấp, thậm chí còn âm. Đối với các nước có cơ chế quản lý tốt, khi
viện trợ tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng lên 0,5%. Ngoài ra, viện
trợ còn góp phần làm giảm đói nghèo. Theo các chuyên gia về ODA, bình
quân ở các nước đang phát triển, thu nhập đầu người tăng 1% đã dẫn đến tỷ lệ
đói nghèo giảm xuống 2%. Nói cách khác, ở các nước có cơ chế quản lý tốt,
khi viện trợ tăng lên 1% GDP thực tế thì sẽ giảm 1% tỷ lệ đói nghèo. Và ở các
nước có cơ chế quản lý tốt, tăng 10 tỷ USD viện trợ mỗi năm sẽ cứu được 25
triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói.
Viện trợ tác động đến tăng trưởng, từ đó tác động đến mục đích nâng
cao mức sống. Tăng trưởng không loại bỏ đói nghèo nhưng rõ ràng tăng
trưởng có tác động lớn đến cải thiện các chỉ tiêu xã hội. Nếu một nước có cơ
chế quản lý tốt thì khi viện trợ tăng lên 1% GDP sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong ở
trẻ em xuống 0,9%. Điều đó có nghĩa là các chỉ tiêu xã hội có quan hệ chặt
chẽ với thu nhập bình quân đầu người, hay nói cách khác nó có quan hệ chặt
chẽ với viện trợ.
2) Viện trợ thúc đẩy đầu tư
Các nước đang phát triển là những nước rất cần vốn cho đầu tư phát
triển, và viện trợ ODA chính là một hình thức bổ sung cho nguồn vốn trong
nước. Trong điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp thì nguồn vốn nước
ngoài có tầm quan trọng đặc biệt. Nguồn vốn ODA thường được các nước
đang phát triển đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đường
giao thong, phát triển ngành năng lượng,… Vì đây là những ngành cần phải
đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm nên tư nhân không có khả năng đầu tư.
Viện trợ còn thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và phát
triển nguồn nhân lực. Nhờ có viện trợ mà nước nhận tài trợ với cơ chế quản lý
tốt sẽ tạo ra được cơ sở kinh tế hạ tầng vững chắc, giao thong thuận tiện, hệ
thống pháp luật ổn định. Viện trợ là sự chuẩn bị cho vốn đầu tư trực tiếp được
thu hút vào, là điều kiện cho FDI được sử dụng một cách hiệu quả. Mặt khác
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
5
Đề án môn học
viện trợ còn giúp những nước đang phát triển tiếp thu nhưng thành tựu khoa
học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, kỹ năng chuyên môn cao.
Đây chính là lợi ích căn bản, lâu dài của các quốc gia nhận tài trợ.
Viện trợ thúc đẩy đầu tư tư nhân. Ở những nước có cơ chế quản lý tốt
thì viện trợ nước ngoài khkoong thay thế cho đầu tư tư nhân mà đóng vai trò
như là nam châm hút đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện
trợ.Đối với các nước quản lý tốt thì viện trợ góp phần củng cố niềm tin cho
khu vực tư nhân và hỗ trợ các dịch vụ công cộng. Viện trợ tăng với quy mô
1% GDP sẽ lam tăng đầu tư tư nhân lên 1,9% GDP.
3) Viện trợ giúp các nước đang phát triển cải thiện thể chế và chính sách
kinh tế.
Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế ở các nước đang phát triển là
chìa khóa để tạo bước nhảy vọt về lượn trong thúc đẩy tăng trưởng, tức là góp
phần làm giảm đói nghèo. Mặt khác, viện trợ có thể nuôi dưỡng cải cách. Khi
các nước mong muốn cải cách thì viện trợ nước ngoài có thể đóng góp những
nỗ lực cần thiết như hỗ trợ thử nghiệm cải cách, trình diễn thí điểm, tạo đà và
phổ biến các bài học kinh nghiệm. Những nước mà ở đó chính phủ thực hiện
những chính sách vững chắc phân bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp
dịch vụ có hiệu quả cao thì hiệu quả chung của viện trợ là lớn. Ngược lại, ở
những nước mà chính phủ và nhà tài trợ không đòng nhất quan điểm trong
việc chi tiêu, hiệu quả lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cách tốt nhất là
giảm viện trợ và tăng cường hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xây
dựng thể chế cho đến khi các nhà tài trợ thấy rằng giá trị thực của các dự án la
ở chỗ thể chế và chính sách được củng cố, cải thiện việc cung cấp dịch vụ xã
hội. Việc tạo ra được kiến thức với sự trợ giúp của viện trợ sẽ dẫn tới sự cải
thiện trong một số ngành cụ thể trong khi một phần tài chính của viện trợ sẽ
mở rộng các dịch vụ công cộng nói chung.
Cơ chế quản lý tốt, ổn định kinh tế vĩ mô, Nhà nước pháp quyền và hạn
chế tham nhũng sẽ dẫn đến tăng trưởng và giảm đói nghèo. Qua các nghiên
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
6
Đề án môn học
cứu của các chuyên gia có thể thấy khó có thể nhận ra mối quan hệ giữa viện
trợ mà các nước nhận được với trình độ chính sách của họ. Tuy không có mối
quan hệ về lượng giữa viện trợ và chất lượng chính sách của nước nhận viện
trợ nhưng trong một số trường hợp viện trợ vẫn có thể góp phần cải cách,
thông qua các điều kiện đặt ra hoặc thông qua việc phổ biến ý tưởng mới.
Tóm lai, viện trợ đã và đang có hiệu quả. Tuy nhiên, nguồn vốn ODA
chỉ phát huy hết vai trò của nó khi có một cơ chế quản lý tốt, một thể chế lành
mạnh và một môi trường chính trị hoàn thiện. Nếu không chẳng những ODA
phông phát huy vai trò của nó mà còn đem lại gánh nặng nợ nần cho đất nước.
Việt Nam là một nước đang phát triển, hiện đang mong muốn nhận
được nhiều nguồn ODA và quản lý sử dụng ODA thật hiệu quả phục vụ cho
phát triển đất nước. Việt Nam cần nhận thức rõ được vai trò của ODA, các
điều kiện để ODA phát huy vai trò của nó để từng bước hoàn thiện công tác
thu hút, quản lý và sử dụng ODA.
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
7
Đề án môn học
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TIẾP NHẬN VÀ SỬ DỤNG ODA
TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
I) TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG ODA
1) Các nhà tài trợ và lĩnh vực ưu tiên tài trợ cho Việt Nam
Trên thế giới hiện nay có 4 nguồn cung cấp ODA củ yếu là: các nước
thành viên của DAC; Liên Xô cũ và các nước Đông Âu; Một số nước Arap và
một số nước đang phát triển. Trong các nguồn này, ODA từ các thành viên
DAC là lớn nhất. Bên cạnh ODA từ các quốc gia thì ODA từ các tổ chức viện
trợ đa phương cũng chiếm một khối lượng lớn trong đó bao gồm: Các tổ chức
thuộc hệ thống liên hiệp quốc, Liên minh Châu Âu (EU), các tổ chức phi
chính phủ (NGO), các tổ chức tài chính quốc tế (WB,ADB,IMF)…
Đối với Việt Nam trước năm 1993 nguồn viện trợ chủ yếu từ Liên Xô
và các nước Đông Âu nhưng kể từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà
tài trợ quốc tế năm 1993 thì cho đến nay tại Việt Nam có trên 45 tổ chức tài
trợ chính thức đang hoạt động với khoảng 1500 dự án ODA và trên 350 tổ
chức phi chính phủ đang có tài trợ cho Việt Nam.
Sau đây là các lĩnh vực ưu tiên chủ yếu của một số nhà tài trợ lớn giành
cho Việt Nam:
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
8
Đề án môn học
Nhật
CHLB Đức
Mỹ
Pháp
Canada
Anh
WB
IMF
Hạ tầng kinh tế & dịch vụ
Phát triển kinh tế; cải thiện
điều kiện sống
Tăng trưởng kinh tế; ổn định
dân số và sức khỏe
Phát triển đô thị; GTVT; giáo
dục; khai thác mỏ
Cơ sở hạ tầng; phát triển khu
vực tư nhân; môi trường
Nhiều lĩnh vực
Thúc đẩy phát triển kinh tế và
tăng phúc lợi
Cân bằng về mậu dịch quốc
tế; ổn định tỷ giá hối đoái
Hạ tầng kinh tế và dịch vụ
Hỗ trợ cải cách kinh tế;phát
triển hệ thống GT
Cứu trợ nạn nhân chiến tranh
và trẻ em mồ côi
Phát triển nhân lực; GTVT;
thông tin liên lạc
Hỗ trợ KT & TC; thiết chế và
quản lý
Xóa đói giảm nghèo; GTVT
Xóa đói giảm nghèo; GTVT
Hỗ trợ cán cân thanh toán và
điều chỉnh cơ cấu
2) Chiến lược huy động ODA của Việt Nam
Nhận thức được rằng ODA là một nguồn lực có ý nghĩa quan trọng từ
bên ngoài và xuất phát từ xu hướng vần động và những ưu tiên của nhà tài trợ
chính phủ Việt Nam luôn luôn coi trọng và quan tâm đến việc huy động các
nguồn ODA. Trước hết, để duy trì long tin đối với các nhà tài trợ nhằm duy trì
các nguồn cung cấp ODA đang khai thác, chính phủ Việt Nam đã tạo ra một
khung pháp lý cho việc khai thác và sử dụng nguồn vốn ODA thong qua việc
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
9
Đề án môn học
ban hành các chính sách và các văn bản pháp lý điều tiết các hoạt động liên
quan đến ODA.
Trước năm 1993, việc quản lý và sử dụng ODA được điều tiết bởi từng
quyết định riêng lẻ của chính phủ đối với từng chương trình, dự án ODA và
từng nhà tài trợ cụ thể. Để quản lý vay và trả nợ nước ngoài một cách có hệ
thống nhà nước ban hành nghị định số 58/CP ngày 30/8/1993 về quản lý và
trả nợ nước ngoài, nghị định số 20/Cp ngày 20/4/1994 về quản lý nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu đổi mới
quản lý từ năm 1997-1999 chính phủ ban hành nghị định 87/1997/NĐ-CP
ngày 5/8/1997 thay thế nghị định 20/CP và nghị định số 90/1998/NĐ-CP
ngày 7/1/1998 thay thế cho nghị định 58/CP về quy chế vay và trả nợ nước
ngoài đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phân công trách
nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan của chính phủ, các Bộ, Ngành, Địa phương và
các tổ chức kinh tế trong việc quản lý, sử dụng vốn vay nước ngoài. Để hoàn
thiện hơn nữa cơ chế quản lý, ngày 4/5/2001 chính phủ đã ban hành nghị định
số 17/2001/NĐ-CP về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ
phát triển chính thức thay thế cho nghị định 87/CP nói trên. Các văn bản này
đã tạo ra hành lang pháp lý trong việc quản lý và sử dụng vay nợ nước ngoài
góp phần thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án sử dụng ODA tạo niềm
tin cho các nhà tài trợ và điều đó sẽ tạo thuận lợi cho việc huy động tài trợ của
các nhà tài trợ. Bên cạnh đó, đẻ tăng khối lượng nhận viện trợ Việt Nam cũng
đã chủ động tìm kiếm các nguồn cung cấp ODA, tăng cường, mở rộng các
mới quan hệ với các quốc gia, tổ chức quốc tế, chủ động đưa ra những khó
khăn, những lĩnh vực cần được hỗ trợ với các nhà tài trợ và đưa ra những cam
kết trong việc quản lý và sử dụng vốn của các nhà tài trợ.
3) Tình hình huy động ODA trong thời gian qua
Kể từ năm 1993 khi Việt Nam bắt đầu bình thường hóa quan hệ với các
tổchức tài chính quốc tế, nhiều Chính phủ và tổ chức đã nối lại viện trợ ODA
choViệtNam.Các nhà tài trợ đã ngày càng quan tâm nhiều hơn đến Việt Nam
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
10
Đề án môn học
vàcónhữngđộngthái hợp tác tích cực với Chính phủ Việt Nam trong vấn đề này (
vốn ODA cam kết cho Việt Nam ngày càng nhiều, đề xuất một số sáng kiến:
sáng kiến áp dụng mẫu báo cáotiếnđộ thực hiện dự án theo Quyết định
803/2007/QĐ-BKH của nhóm 6 Ngân hàng phát triển (WB,
ADB,SBIC,KFD,EXB Hàn Quốc), sáng kiến “Một Liên hợpquốc”nhằm thúc
đẩy thực hiện chương trình dự án, giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả
viện trợ; sáng kiến hài hòa quy trình và thủ tục ODA trong nội bộ các nước
thành viên EU, cụ thể hóa các cam kết trong tuyên bố Paris thành cam kết Hà
Nội, tham gia tích cực các Hội
nghị của các nhà tài trợ, các Hội nghị của các
nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt
Nam, v v…). Đặc biệt là nỗ lực của
Chính phủ Việt Nam trong mục tiêu quản lý nợ công nói chung, nợ nước
ngoài và ODA nói riêng. Thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã rất chú trọng
công tác thông tin ra bên ngoài, tạo điều kiện cho thế giới biết và hiểu nhiều
hơn về Việt Nam, phát triển mạnh mẽ các quan hệ song phương và đa
phương, hoàn thiện dần thể chế pháp lý về ODA. (ban hành Nghị định số
131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 của Chính phủ về Quy chế pháp lý và sử
dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Quyết định số 181/2007/QĐ-TTg
ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về
Quy chế cho vay lại từ nguồn
vốn vay, viện trợ nước ngoài của Chính phủ), tổ chức
nhiều Hội thảo chuyên
đề về ODA, thực thi các biện pháp kiểm soát nguồn ODA v.v…)
Những nỗ lực từ cả 2 phía các nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam đã đạt
những kết quả quan trọng. Từ 1993 đến 2005, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với
hơn 50 nhà tài trợ song phương và đa phương cùng 350 tổ chức Chính phủ với
hơn 1500 chương trình dự án. Tình hình nợ của khu vực công nói chung và nợ
ODA nói riêng trong giai đoạn 2002- 2006 ( số liệu cuối năm) được phản ánh
qua bảng sau:
Chỉ tiêu ĐV 2002 2003 2004 2005 2006
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
11
Đề án môn học
T
1- GDP Tỷ.đ 535762 613443 715307 839211 974266
2- Tổng nợ công
a- Nợ trong nước
b- Nợ nước ngoài
Trong đó: nợ
ODA
Nợ ODA quy đổi
ngoại tệ
Tỷ.đ
Tỷ.đ
Tỷ.đ
Tỷ.đ
Tỷ.
USD
179100
34728
144372
133173
8683
249419
71829
177590
166191
10652
311834
99572
212262
198305
12617
365229
139843
225386
200044
12611
359599
108477
251122
223497
13921
3- Cơ cấu ODA
theo chủ thể cho
vay
a- Chính phủ
- Nhật Bản
- Pháp
- LB Nha
- Khác
b- TC tài chính
- ADB
- IDA
- IMF
%
61,91
30,78
4,99
13,56
12,59
38,08
12,86
19,80
4,18
56,62
33,03
5,95
6,22
11,42
43,38
14,48
24,26
3,21
56,18
34,06
6,08
5,15
10,89
43,82
14,48
24,26
2,26
54,54
32,69
5,60
5,31
10,94
45,45
14,75
26,81
1,75
54,45
33,80
5,86
4,76
10,03
45,55
15,01
26,83
1,41
II) THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ODA
1) Tình hình quản lý và sử dụng ODA
Nguồn vốn ODA đã có mặt ở Việt Nam từ rất lâu, song nguồn vốn này có
một thời gian bị gián đoạn từ khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, cho đến cuối năm
1993 với việc bình thường hóa với quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới
(WB) và ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) các nguồn vốn ODA chuyển vào
Việt Nam co triển vọng tăng nhanh.
Trong tổng số vốn ODA các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thì ba nhà tài
trợ lớn nhất là Nhật Bản, WB và ADB chiếm trên 50% tổng số. Cụ thể: Nhật
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
12
Đề án môn học
Bản 21,25%; WB 18,63%; ADB 10,56% còn lại là của các quốc gia và tổ chức
tài trợ khác. Nguồn vốn ODA đã được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực kinh tế,
xã hội ưu tiên của chính phủ, đó là: Năng lượng 24%, giao thông vận tải 27,5 %,
phát triển
nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả thuỷ sản, lâm nghiệp, thuỷ
lợi 12,74%
ngành cấp thoát nước 7,8%, các ngành y tế- xã hội, giáo dục và
đào tạo, khoa học- công nghệ- môi trường 11,78%. Ngoài ra, nguồn ODA cũng
hỗ trợ đáng kể cho ngân sách của chính phủ để thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh
tế và thực hiện chính sách cải cách kinh tế ( các khoản tín dụng điều chỉnh cơ
cáu kinh tế, điều chỉnh cơ cáu kinh tế mở rộng, quỹ Miyazawa, PRGF,PRSC).
Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư bằng vốn ODA đã hoàn thành

đưa vào sử dụng góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo như:
nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, nhà máy thuỷ điện Sông Hinh, một số dự án
giao thông
quan trọng như Quốc lộ 5, quốc lộ 1A, cầu Mỹ Thuận…, nhiều
trường học đã được xây dựng mới, cải tạo hầu hết ở các tỉnh, một số bệnh viện
lớn ở các thành phố, thị xã như Bệnh viện Bạch Mai( Hà Nội), bệnh vện Chợ
Rẫy( Thành phố Hồ Chí Minh), nhiều trạm y tế xã đã được cải tạo hoặc xây
mới, các hệ thống cấp nước sinh hoạt ở nhiều tỉnh, thành phố cũng như ở nông
thôn, vùng núi. Các chương trình dân số phát triển, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ
và trẻ em, tiêm chủng mở rộng được thực hiện một cách có hiệu quả.

Tuy nhiên, việc phân bổ vốn ODA theo vùng lãnh thổ còn nhiều bất cập
chưa đáp ứng được nhu cầu của những nơi cần được hỗ trợ nhiều hơn, hiệu quả
hơn.
Theo UNDP, vùng duyên hải Bắc trung bộ và Đồng bằng Sông cửu
Long là
những vùng đang bị thiệt thòi nhất về sử dụng vốn ODA. Trong khi
các vùng này chiếm gần 70% số người nghèo của cả nước nhưng họ mới chỉ
nhận được 44% các khoản giải ngân ODA trực tiếp và đây là một điều cần hết
sức lưu ý khi phân bổ vốn ODA.
2) Tình hình giải ngân vốn ODA
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
13
Đề án môn học
Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam lần thứ 10 do chính
phủ Việt Nam và ngân hàng thế giới tổ chức đã diễn ra tại Hà Nội cuối năm
2002. Tại hội nghị này, theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch - Đầu tư thì
đến hết năm 2001 tổng cộng số vốn cam kết mà các nhà tài trợ dành cho Việt
Nam là gần 20 tỷ USD và theo số liệu của chính phủ những khoản cam kết này
đã được
chuyển thành hiệp định ký kết với giá trị khoảng 16,4 tỷ USD và nếu
tính cả
năm 2002 thì mức giải ngân lên tới 10,8 tỷ USD. Điều này có nghĩa
là còn
khoảng 6,1 tỷ chưa được giải ngân. Tốc độ giải ngân đạt bình quân hàng
năm khoảng 49,2%. Tình hình giải ngân qua các năm cụ thể như sau:
Năm ODA cam kết ODA giải ngân
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2,4
2,3
2,1
2,4
2,4
2,5
2,8
3,46
3,5
3,75
4,45
1
1,24
1,35
1,65
1,5
1,53
1,45
1,65
1,75
1,8
2,1
Nhìn chung, trong thời gian vừa qua lượng ODA vào Việt Nam không
nhiều nhưng có ý nghĩa quan trọng và có tác động tích cực đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước:
- Đối với một số ngành, lĩnh vực kinh tế ODA đóng góp trực tiếp
vàoquá trình phát triển thông qua các chương trình, dự án đầu tư bằng vốn
ODA
SV: Hoàng Thanh Minh Lớp: Đầu tư 48C
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét