Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

v2298

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Nh ta đã biết, mâu thuẫn là một hiện tợng hết sức phổ biến trong cuộc
sống. ở mỗi lĩnh vực, mẫu thuẫn đều tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội,
trong t duy của mỗi một con ngời và tất nhiên cũng không loại trừ trong cả
mặt trận kinh tế.
Sự nghiệp đổi mới ở nớc ta do Đảng khởi xớng và lãnh đạo trong 16
năm qua đã giành đợc những thắng lợi to lớn và mang tính quyết định, quan
trọng trong việc chuyển nền kinh tế đất nớc từ nền kinh thế tập trung, quan
liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự điều hành quản lý của Nhà nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Tuy nhiên bên cạnh những thành
công bớc đầu đã đạt đợc vẫn còn tồn tại một số mâu thuẫn khá căn bản gây
cản trở, kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới, đòi hỏi cần đợc gấp rút
giải quyết và nếu đợc giải quyết kịp thời đúng lúc thì nó sẽ góp phần hết sức
to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh thế.
Với mong muốn của bản thân, muốn tìm hiểu thêm về nền kinh tế của
đất nớc, những quan điểm lý luận cũng nh những mâu thuẫn, những khúc
mắc trong giải pháp, quy trình xử lý các vấn đề chính trị, xã hội có liên quan
tới nền kinh tế đất nớc, tôi đã chọn: Mâu thuẫn biện chứng trong nền
kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam làm đề tài cho bài viết của
mình.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nội dung
I. Lý luận chung.
Mỗi một sự vật, hiện tợng đang tồn tại dều là một thể thống nhất, đợc
cấu thành bởi các mặt, các khuynh hớng, các thuộc tính phát triển ngợc chiều
đối lập và mâu thuẫn. Trong thực tế, mẫu thuẫn và các mặt đối lập thờng đ-
ợc dùng nh là những khái niệm đồng nghĩa. Chẳng hạn ngời ta có thể nói
rằng các sự vật có mâu thuẫn hay các sự vật lạ thống nhất của các mặt đối lập
là một. Nhng hiểu cho đúng hơn thì mâu thuẫn là mối quan hệ giữa các mặt
đối lập, còn mặt đối lập là mỗi mặt hợp thành của mâu thuẫn. Thí dụ hai mặt
đối lập trong chu kỳ tuần hoàn máu, trong sự trao đổi chất của thực, động vật
với môi trờng bên ngoài Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn mặt đối lập nói
chung với mâu thuẫn vì không phải mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu
thuẫn, chỉ những mặt đối lập nào liên hệ với nhau thành một chỉnh thể, tác
động qua lại với nhau mới tạo thành mâu thuẫn.
1. Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất.
Các mặt đối lập, nói chung đều phải cùng tồn tại trong một thể thống
nhất. Thống nhất của các mặt đối lập chỉ sự liên hệ, ràng buộc, quy định lẫn
nhau giữa các đối lập chỉ sự liên hệ, ràng buộc, quy định lẫn nhau giữa các
mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình. Thí dụ: trong
một nguyên tử bao giờ cũng tồn tại điện tích âm của các clectra và điện tích
âm dơng của các proton, trong cơ thể sinh vật bao giờ cũng tồn tại hai quá
trình là đồng hoá và dị hoá, trong xã hội bao giờ cũng tồn tại hai quá trình là
đồng hoá và dị hoá, trong xã hội t bản chủ nghĩa bao giờ thì giai cấp t sản và
giai cấp vô sản luôn đi song hành với nhau.
Đấu tranh ở đây đợc hiểu là một quá trình. Đầu tiên, sự vật ở trạng thái
chứa đựng những khác nhau giữa các thuộc tính, các khuynh hớng của nó.
Dần dần những khác nhau đó hợp thành những mặt đối lập, lúc đó tranh đấu
giữa các mặt đối lập mới thực sự diễn ra. Đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ
ra rằng trong sự vật cũ, cái mới, cái tiến bộ đang nảy sinh phát triển, chống
lại cái cũ, cái lỗi thời. Do đó, đấu tranh giữa các mặt đối lập về thực chất là
đấu tranh là đấu tranh giữa cái mới đang nảy sinh và cái cũ, cái lỗi thời đang
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
kìm hãm nó. Xu hớng chung, tất yếu của đấu tranh là cái mới ra đời chiến
thắng cái cũ.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập đợc chia làm nhiều giai đoạn. Thông
thờng, khi nó mới xuất hiện, các mặt đối lập cha thể hiện rõ xung khắc gay
gắt, ngời ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. tất nhiên, không phải sự khác nhau
nào cũng đợc gọi là mâu thuẫn. Chỉ có những khác nhau nào tồn tại trong
một sự vật nhng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngợc chiều nhau, tạo
thành động lực bên trong của sự phát triển thì các mặt đối lập ấy mới hình
thành bớc đầu của một mâu thuẫn. Khi các mặt đối lập của một mâu thuẫn
phát triển tới giai đoạn xung đột gay gắt thì nó biến thành độc lập. Lúc này,
cái cũ sẽ bị cái mới đánh bại, mất đi, cái mới ra đời thay thế vào chỗ cái cũ.
Nh vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập cũ nay đã bị thay thế bởi sự thống
nhất của cái mặt đối lập mơí. Các mặt đối lập mới sinh ra lại tiếp tục đấu
tranh, chuyển hoá thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn đợc giải quyết thì sự vật mới
xuất hiện. Cứ thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật phát triển,
biến đổi không ngừng, từ thấp lên cao. Chính vì vậy, ta có thể khẳng định
một cách chắc chắn rằng: Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt
đối lập.
2. Chuyển hoá của các mặt đối lập.
Trớc hết, cần phân biệt rõ ràng rằng không phải bất kỳ sự đấu tranh của
các mặt đối lập đều dẫn tới sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh
của các mặt đối lập phát triển tới một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện
cần thiết thì mới dẫn tới chuyển hoá, bài trừ và phủ định nhau trong giới tự
nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập diễn ra một cách tự phát còn trong xã
hội, chuyển hoá của các mặt đối lập nhất thiết phải trải qua hoạt động có ý
thức của con ngời.
Do vậy, ta không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập
chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy móc mà phải nên hiểu rằng
đó chính là mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phơng thức:
+ Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia và ngợc lại nhng tất
nhiên là phải ở trình độ cao hơn xét về phơng diện chất của sự vật.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thí dụ: Các yếu tố trong lòng xã hội t bản mâu thuẫn, đấu tranh, chuyển
hoá lẫn nhau để chuyển sang một xã hội tiến bộ hơn, văn minh hơn: đó là xã
hội XHCN.
+ Các mặt đối lập kết hợp với nhau, cùng chuyển hoá thành sự vật mới
với t cách là sự tổng hợp những yếu tố, khuynh hớng tiến bộ, tích cực của các
mặt đối lập cũ.
Thí dụ: Trong sinh học, di truyền và biến dị là hai mặt đối lập hoàn toàn
nhau song chúng đã kết hợp với nhau để tạo ra những giống, loài mới tốt hơn
nhng giống loài cũ song vẫn giữ đợc các đặc tính tốt của giống loài cũ đó.
+ Cả hai mặt đối lập đều chuyển hoá thành chất mới.
Thí dụ: Việt Nam đã có bớc chuyển mạnh từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết, quản
lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Vậy, mọi sự vật, hiện tợng của thế giới đều là thống nhất của các mặt
đối lập. Các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau tạo ra mâu
thuẫn. Nó là hiện tợng khách quan, phổ biến của thế giới. Sự thống nhất của
các mặt đối lập chỉ là tạm thời, tơng đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập
mới là tuyệt đối.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập dẫn tới sự chuyển hoá giữa chúng, làm
cho mâu thuẫn đợc giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành. Trong
sự vật mới lại tồn tại mâu thuẫn mới. Các mặt đối lập trong mâu thuẫn mới
lại tiếp tục đấu tranh với nhau làm sự vật ấy chuyển hoá thành sự vật mới
khác tiến bộ ohn. Quá trình đó lặp đi lặp lại không ngừng tạo nên nguồn gốc,
động lực của sự phát triển, đó lạ thống nhất, sự đấu tranh của sự phát triển.
II- Đặc điểm kinh tế thị trờng và thực trạng kinh tế thị
trờng ở Việt Nam.
1. Kinh tế thị trờng là gì?
Để trả lời câu hỏi này cũng đã có rất nhiều ý kiến khác nhau của rất
nhiều ngời. Có ngời cho rằng kinh tế thị trờng đồng nghĩa với xã hội. Những
gì diễn ra trong xã hội khi nền kinh tế hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trờng
thì đều là kinh tế thị trờng. Có ngời lại cho rằng kinh tế thị trờng chỉ là những
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
quan hệ kinh tế hoạt động trên cơ sở trao đổi và chỉ bằng trao đổi, ngời ta sẽ
có đợc những gì mình cần, nhiều hơn và tốt hơn nếu để tự bản thân mình sx
Song, thực tế, kinh tế thị trờng hiểu một cách thấu đáo và chính xác thì
nó chính là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội mà trong đó sản xuất và tái
sản xuất xã hội gắn liền với thị trờng, tức là gắn chặt với quan hệ hàng hoá -
tiền tệ, với quan hệ cung - cầu. Trong nền kinh tế thị trờng, nét biểu hiện có
tính bề mặt của đời sống xã hội chính là quan hệ hàng hoá.
2. Đặc điểm kinh tế thị trờng XHCN.
Ngoài những nét chung với kinh tế thị trờng TBCN nh: mọt nền sản xuất
hàng hoá với sự liên kết, trao đổi trên quy mo lớn, ở phạm vi quốc gai và
quốc tế với sự phát huy đầy đủ những qui luật: quy luật giá trị, quy luật cung
cầu nền kinh tế thị trờng XHCN còn có một số nét đặc trng riêng nh:
- Là một nền kinh tế nhiều thành phần nhng dựa trên chế độ sở hữu xã
hội về t liệu sản xuất, tức là sự làm chủ của ngời lao động đối với những t liệu
chủ yếu của xã hội.
- Trong nền kinh tế thị trờng XHCN, quy luật phân phối theo lao động
có điều kiện phát huy một cách đầy đủ.
- Nền kinh tế dựa trên sự hợp tác và trao đổi một cách bình đẳng và
cùng có lợi giữa các dân tộc, các vùng dân c trong mỗi quốc gia và trên thế
giới.
- Nếu nền kinh tế thị trờng TBCN phát triển theo hớng bất bình đẳng xã
hội ngày càng sâu sắc thì nền kinh tế thị trờng XHCN phát triển theo hớng
ngày càng khắc phục tình trạng phân cực một cách bất hợp lý do nền kinh tế
thị trờng TBCN tạo ra.
3. Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
Nớc ta quá độ lên CNXH trong điều kiện nền sản xuất nhỏ là phổ biến,
do đó nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng không phải, nói chính xác hơn
là cha phải là nền kinh tế thị trờng XHCN mà mới chỉ là một nền kinh tế quá
độ: Nền kinh tế thị tr ờng định h ớng XHCN, tức là một nền kinh tế tuy còn
cha thoát khỏi những đặc điểm của kinh tế thị trờng TBCN, song bớc đầu đã
mang những yếu tố này ngày càng lớn mạnh thay thế dần những yếu tố
TBCN.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
III- Kinh tế thị trờng định hớng XHCN: mâu thuẫn biện
chứng và phơng hớng giải quyết.
Nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta là một nền kinh tế quá
độ nên nó không thể tránh khỏi những mâu thẫn quá độ của nó. Sau đây, tôi
xin lần lợt nêu ra một số mâu thuẫn và những suy nghĩ của mình về những
phơng hớng giải quyết chúng.
1 Thực tiễn trên thế giới cho thấy, ổn định chính trị là điều kiện hết sức
cơ bản để phát triển kinh tế. Nó tạo ra môi trờng để thu hút vốn đầu t trong n-
ớc và trên thế giới, tạo điều kiện phát triển kinh tế sản xuất kinh doanh.
Những thành tựu trong 10 năm đổi mới vừa qua ở nớc ta cũng khẳng định
điều đó. Những thành tựu đó không thể tách rời việc chúng ta giữ đợc ổn
định về chính trị.
ổn định về chính trị lại không thể tách rời đổi mới về chính trị. Nhng
đổi mới chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc, mà đổi mới là để giữ
vững ổn định về chính trị, giữ vững và tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng,
vai trò tổ chức quản lý của Nhà nớc XHCN. Đổi mới chính trị phải gắn liền
với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì mới có
thể tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lý của Nhà n-
ớc XHCN, và nhờ đó mới giữ vững ổn định về chính trị. song đổi mới về kinh
tế cũng không phải đổi mới một cách tuỳ tiện mà theo một định hớng nhất
định. Đó là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc
theo định hớng XHCN hay nói ngắn gọn là kinh tế thị trờng theo định hớng
XHCN. chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN là nhằm thực
hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, và đó cũng
là cơ sở để giữ vững ổn định về chính trị.
Tóm lại: ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đối lập nhng thống
nhất biện chứng với nhau. Có ổn định thì mới đổi mới, và đổi mới là điều
kiện để ổn định. Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó chặt chẽ với
đổi mới kinh tế, trên nền tảng của đổi mới kinh tế.
Nh vậy, chúng ta thấy trong quá trình đổi mới ở nớc ta, đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau,
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm, đổi mới chính trị phải tiến hành từng b-
ớc phù hợp với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu của đổi mới kinh tế.
Điều khẳng định đó là sự khái quát kinh nghiệm của 10 năm đổi mới
vừa qua là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào
điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Khái quát đó hoàn thành khoa học và có giá trị
định hớng cho giai đoạn phát triển theo giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc.
Mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý ủa Nhà nớc, theo
định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay, vấn đề lực lợng sản xuất quan hệ sản
xuất là một vấn đề hết sức phức tạp, muân thuẫn hai lực lợng này và những
biểu hiện của nó xét trên phơng diện triết học Mác Lênin, theo đó lực lợng
sản xuất là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật, lực
lợng sản xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất, lực lợng sản xuất là yếu
tố động, luôn luôn thay đổi. Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một trình độ
nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở tahnhf yếu tố
kìm hãm lực lợng sản xuất phát triển. Để mở đờng cho lực lợng sản xuất phát
triển, cần thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Chính quan hệ
sản xuất tự phát triển để phù hợp với lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất,đó là qui luật kinh tế
chung cho sự phát triển xã hội.
Quá trình mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản
xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt, quyết liệt và cần đợc giải quyết.
Nhng giải quyết nó bằng cách nào? Đó chính là các cuộc cách mạng xã hội,
chuyển đổi nền kinh tế mà cuộc chuyển đổi nền kinh tế ở nớc ta là một ví dụ.
Khi một mục tiêu, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, thể hiện tính chất cách
mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là phấn đấu xây dựng nớc
ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giàu nớc mạnh, xã
hội công bằng văn minh.
Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc là chủ trờng, biện pháp vừa mang
tính cách mạng vừa mang tính khoa học để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nói
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc chính là nói đến nền sản xuất tiên
tiến và đó chính là lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, nói đến khoa học,
đến sự anh minh, trí tuệ, là nói đến một phơng thức tối u để thoát khỏi tình
trạng sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, nhằm tạo điều kiện và cơ sở vật chất
cho CNXH đợc xây dựng và phát triển. Không thể ăn đói, mặt rách với cái
cuốc trên vai cộng thêm tấm lòng cộng sản để kiến thiết CNXH, chuyển sang
nền kinh tế thị trờng. Khẳng định cái mới, đúng đắn tự bản thân nó đã bao
gồm cả ý nghĩa phủ định gạt bỏ cả quan niệm cũ sai lầm về điều kiện và cách
thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Trớc đây chúng ta thiếu quan tâm
đúng mức đến vai trò của trí tuệ, khoa học, đến việc tạo lập cơ sở kinh tế vật
chất của CNXH. Bằng chứng là một thời chúng ta đã coi trọng không đúng
mức tầng lớp trí thức và khoa học trong môi trờng tơng quan với đội ngũ
những ngời lao động khác. Do thế, hậu quả tất yếu đã xảy ra là khoa học ở n-
ớc ta chậm hoặc ít có điều kiện môi trờng phát triển, đất nớc không thoát
khỏi nền sản xuất nhỏ nông nghiệp lạc hậu và cũng không thể nói tới công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa:
Mâu thuẫn và phơng hớng giải quyết
Trong mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội (CNXH), sự vận hành của nhền
kinh tế chủ yếu dựa trên mệnh lệnh, kế hoạch của nhà nớc và một hệ thống
bao cấp từ sản xuất đến tiêu dùng. Cơ chế kinh tế này, tuy có u điểm là tránh
đợc sự phân cực xã hội nhng lại bộc lộ nhiều nhợc điểm cơ bản. Chẳng
những các quy luật kinh tế khách quan bị coi thờng, mà tính tự chủ, năng
động, sáng tạo của ngời lao động cũng không đợc phát huy một cách đầy đủ.
Sự nghiệp đổi mới đợc tiến hành hơn 10 năm qua ở nớc ta gắn liền với việc
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng; nền
kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
Trớc đổi mới, trong quan điểm về CNXH, ngời ta hiểu kinh tế thị trờng
(KTTT) chỉ là đặc trng của chủ nghĩa t bản (CNTB), còn trong CNXH thì sẽ
không còn KTTT. Thời gian đầu của quá trình đổi mới, tuy chúng ta đã hiểu
rằng KTTT là điều không thể tránh khỏi trong quá trình xây dựng CNXH,
nhng vẫn còn thái độ hoài nghi, cha tin tởng về khả năng dung hợp KTTT với
bản chất của CNXH.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thực tiễn đổi mới kinh tế - xã hội ở một số nớc theo hớng phát triển
KTTT đã chứng tỏ rằng, nền KTT mà chúng ta đang xây dựng không phải là
"tàn d" của CNTB, cũng không phải là cái mà chúng ta bị bắt buộc, phải
miễn cỡng chấp nhận. Nó cũng không phảo là "bớc quá độ" trong qúa trình đi
lên CNXH và sẽ đợc vợt qua khi CNXH đã thắng lợi. Kinh tế thị trờng
XHCN là bớc phát triển tất yếu của nền kinh tế và nền văn minh nhân loại, là
trình độ phát triển cao hơn của nền kinh tế nhân loại sau kinh tế thị trờng
TBCN lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới không phải là sự xoá bỏ nền
KTTT nói chung, mà là sự quá độ từ nền kinh tế thị trờng TBCN sang nền
kinh tế thị trờng XHCN.
Kinh tế thị trờng XHCN, ngoài những nét chung với kinh tế thị trờng
TBCN nh: Một nền sản xuất hàng hoá với sự liên kết và trao đổi trên quy mô
rộng lớn ở phạm vi quốc gia và quốc tế, với sự phát huy đầu đủ những quy
luật: quy luật giá trị, quy luật cung cầu kinh tế thị trờng XHCN còn có đặc
trng riêng của nó:
- Nền kinh tế thị trờng TBCN dựa trên chế độ sở hữ t nhân TBCN về t
liệu sản xuất thì trái lại, nền kinh tế thị trờng XHCN, tuy cũng là một nền
kinh tế nhiều thành phần, nhng nó dựa trên chế độ sở hữu xã hội về t liệu sản
xuất, tức là sự làm chủ của ngời lao động đối với những t liệu sản xuất chủ
yếu của xã hội.
- Nếu nền kinh tế thị trờng TBCN lấy phân phối theo t liệu sản xuất và
theo vốn làm hình thức phân phối chủ yếu, thì trong nền kinh tế thị trờng
XHCN, quy luật phân phối theo lao động mới có điều kiện phát huy một cách
đầy đủ.
- Nếu nền kinh tế thị trờng TBCN phát triển theo hớng bất bình đẳng xã
hội ngày càng sâu sắc hơn, thì kinh tế thị trờng XHCN phát triển theo hớng
ngày càng khắc phục tình trạng phân cực một cách bất hợp lý của xã hội do
nền kinh tế thị trờng TBCN tạo ra.
- Nếu nền kinh tế thị trờng TBCN dựa trên sự khai thác của các quốc
gia, của các khu vực phát triển đối với tài nguyên và lao động của các vùng,
các nớc kém phát triển, thì nền kinh tế thị trờng XHCN dựa trên sự hợp tác và
trao đổi một cách bình đẳng và cùng có lợi giữa các vùng dân c trong nớc và
giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nớc ta từ quá độ lên CNXH trong điều kiện một nền sản xuất nhò là
phổ biến; do đó, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng cha phải là nền kinh tế thị
trờng XHCN, mà là một nền kinh tế quá độ: nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN, từ một nền KTTT tuy còn cha thoát khỏi những đặc điểm của kinh tế
thị trờng TBCN, nhng bớc đầu đã mang những yếu tố XHCN và những yếu tố
này ngày càng lớn mạnh lên thay thế dần những yếu tố TBCN.
Nền KTTT định hớng XHCN là một nền kinh tế quá độ, nên nó không
tránh khỏi những mâu thuẫn quá độ của nó. Sau đây, chúng tôi xin lần lợt
nêu ra một số mâu thuẫn và những suy nghĩ của mình về những phơng hớng
giải quyết chúng.
Một là, nền KTTT trong điều kiện sản xuất nhỏ là phổ biến nh ở nớc ta
thì tất nhiên cha thể thoát khỏi tính tự phát TBCN. Việc định hớng nền kinh
tế nớc ta đi lên CNXH không phải là sự phát triển tự phát, mà là kết quả của
sự nhận thức và vận dụng một cách tự giác xu hớng và quy luật khách quan
của sự phát triển xã hội trong thời đại ngày nay. Nh vậy, phát triển nền KTTT
định hớng XHCN đã bao hàm sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập, tính tự phát
và tính tự giác trong sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong thời gian hiện nay, tính tự phát vẫn còn là cái cần thiết và không
tránh khỏi trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng,
trong việc giải quyết những khó khăn về việc làm, trong lu thông hàng hoá
v.v Tuy vậy, nếu để nền kinh tế phát triển chủ yếu là tự phát thì không thể
thực hiện đợc những mục tiêu của CNXH. Còn hoạt động tự giác là hoạt
động dựa trên sự nhận thức đúng đắn xu thế tất yếu và quy luật khách quan
của đời sống xã hội, nhng nếu có sai lầm trong nhận thức, nhất là sai lầm trên
bình diện quốc gia, thì hậu quả của nó thật khôn lờng. Giải quyết mâu thuẫn
giữa tính tự giác và tính tự phát trong phát triển kinh tế - xã hội là hết sức khó
khăn, phức tạp, không phải là trong một lúc có thể xoá bỏ hoàn toàn tính tự
phát, biến mọi hoạt động của con ngời thành hoạt động tự giác, mà là phát
huy ngày càng cao tính tự giác trên cơ sở nâng cao năng lực nhận thức khoa
học cũng nh năng lực tổ chức, quản lý, phối hợp hoạt động trên bình diện xã
hội, hạn chế dần lĩnh vực tự phát của hoạt động của con ngời trong xã hội.
Hai là,phát triển KTTT trong thời kỳ quá độ tức là chấp nhận sự tồn tại
nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thành phần kinh tế TBCN, chấp nhận
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
các hình thức sở hữu và kinh doanh có thuê mớn lao động và có bóc lột sức
lao động; trong khi đó, mục tiêu lâu dài của cách mạng XHCN là xoá bỏ bóc
lột. ở đây, một số mối quan hệ có mâu thuẫn cần đợc nghiên cứu và giả
quyết thoả đáng, đó là mối quan hệ giữa các lợi ích: lợi ích của ngời lao động
và lựi ích của ngời thuê mớn lao động, mối quan hệ giữa sự phát triển của
kinh tế t nhân với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc.
Không có cơ sở để khẳng định rằng, trong thời kỳ quá độ lên CNXH,
hình thức kinh doanh có thuê mớn lao động sẽ càng ngày càng giảm đi. Cũng
là sai lầm nếu cho răng, chỉ có thành phần kinh tế nhà nớc và thành phần
kinh tế hợp tác xã là phát triển theo định hớng XHCN và sẽ thay thế dần các
thành phần kinh tế còn lại. Theo chúng tôi, tất cả các thành phần kinh tế đều
phát triển theo một định hớng duy nhất: định hớng XHCN. Cùng với sự trởng
thành của CNXH, các thành phần kinh tế có thuê mớn lao động sẽ giảm dần
mức độ bóc lột của nó. Tất nhiên, điều này chỉ có thể và hoàn toàn có thể
thực hiện đợc trong điều kiện có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý
của Nhà nớc XHCN, sự chủ đạo cảu thành phần kinh tế nhà nớc, sự lớn mạnh
của thành phần kinh tế hợp tác.
Trong việc giải quyết mối quan hệ có mâu thuẫn giữa lợi ích ngời thuê
mớn lao động và ngời lao động làm thuê, theo chúng tôi, đó là sự kết hợp hài
hoà các lợi ích của ngời lao động và lợi ích của ngời thuê mớn lao động và lợi
ích của nhà nớc. Sự bất công trong mối quan hệ giữa các lợi ích đều có tác
dụng kìm hãm sự tăng trởng kinh tế.
Nhà nớc- bằng hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế, xã hội của
mình - vừa khuyến khích lợi ích chính đáng và tính tích cực, sáng tạo của
những nhà kinh doanh, vừa hạn chế sự bóc lột và những hiện tợng tiêu cực
trong hoạt động kinh doanh của họ. Nhà nớc thông qua nguồn thuế thu đợc
và các khoản đóng góp khác từ các cơ sở kinh doanh mà mở rộng, phát triển
các chơng trình xã hội, tuy nhiên, sự điều tiết thu nhập thông qua các chính
sách thuế, nếu không đợc thực hiện một cách hợp lý sẽ có tác động tiêu cực
đến việc khuyến khích đầu t. Kinh nghiệm của một số nớc Bắc âu trong
những năm 80 cho thấy điều đó. Ngoài ra, Nhà nớc cần khuyến khích mọi cơ
sở kinh doanh tham gia vào những công trình phúc lợi tập thể, tham gia bảo
hiểm xã hội cho ngời lao động, tham gia vào hoạt động nhân đạo,v.v
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ba là, một mặt, phát triển KTTT trong điều kiện xuất phát từ sản xuất
nhỏ thì xã hội cha thể tránh khỏi những yếu tố của kinh tế thị trờng TBCN,
sự cạnh tranh (kể các cạnh tranh không lành mạnh), sự phá sản, tình trạn thất
nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng và các bộ phận dân c, và nhất
là không thể tránh khỏi những tệ nạn xã hội do mặt trái của KTTT gây ra dẫn
đến sự bất bình đẳng và bất công xã hội. Mặt khác, định hớng XHCN không
cho phép sự bất bình đẳng phát triển thành sự phân cực xã hội, không cho
phép đẩy những ngời lao động vào tình trạng thất nghiệp, không thể chấp
nhận tình trạng bất công, tiêu cực ngày càng gia tăng. Một mâu thuẫn nữa lại
xuất hiện: mâu thuẫn giữa bình đẳng, công bằng xã hội với tính cách là mục
tiêu của CNXH với tình trạng bất bình đẳng, bất công không thể tránh khỏi
do mặt trái của KTTT làm nảy sinh.
KTTT chỉ là phơng tiện, là con đờng để thực hiện các mục tiêu của
CNXH, CNXH không chỉ phấn đấu đạt trình độ phát triển cao về đời sống vật
chất và tinh thần, mà vấn đề quan trọng hơn là công bằng xã hội. Hơn nữa,
không chỉ là công bằng xã hội, mà còn là bình đẳng xã hội.
KTTT, tuy có mặt trái không thể tránh khỏi của nó, nhng về cơ bản và
lâu dài, nó là một trong những điều kiện để thực hiện công bằng và bình đẳng
xã hội. Trong điều kiện hiện nay, công bằng xã hội phải đợc hiểu ở cả hai
mặt: mặt bình đẳng và mặt bất bình đẳng. Bên cạnh việc phấn đấu cho bình
đẳng xã hội, chúng ta phải chấp nhận những bất bình đẳng hợp lý do yêu cầu
khắt khe của KTTT. Chỉ có thể thực hiện sự bình đẳng từng mặt, chứ cha thể
thực hiện đợc sự bình đẳng hoàn toàn. Trong thời kỳ quá độ, kể cả trong
CNXH, chỉ có thể thực hiện bình đẳng về cơ hội; còn về mặt hởng thụ thì tr-
ớc mắt chỉ có thể phấn đấu thực hiện bình đẳng ở sự thoả mãn một số nhu
cầu cơ bản nhất, rồi dần dần phát triển lên.
Bốn là, lợi ích là một trong những động lực của tăng trởng kinh tế; do
đó, để thực hiện tăng trởng kinh tế cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá
nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội. Trong thời kỳ quá độ và kể cả trong
CNXH, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và ích xã hội chẳng những không
mất đi mà còn có những diễn biến phức tạp hơn. Điều này có thể chứng minh
đợc một cách dễ dàng. Bởi vì, trong CNXH, mọi cá nhân sẽ có điều kiện tốt
hơn để phát triển về năng lực và nhu cầu. Sự phát triển nhu cầu và lợi ích xã
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hội nếu không đợc giải quyết một cách đúng đắn sẽ biểu hiện thành những
hiện tợng bất công xã hội. Trong mối quan hệ này, nếu lợi ích của cá nhân bị
vi phạm thì xã hội sẽ mất đi một động lực to lớn của sự phát triển xã hội. Còn
ngợc lại, nếu cá nhân có lợi, nhng lợi ích của xã hội bị vi phạm, thì nạn nhân
của sự bất công lại là cộng đồng xã hội, chẳng hạn, vì lợi ích cá nhân ích kỷ
mà trong sản xuất kinh doanh và trong các hoạt động xã hội khác, ngời ta có
thể phá hoại môi trờng sống, có thể làm tất cả những việc phi pháp, phi đạo
đức, phi nhân tính, miễn là những việc làm đó đem lại thu nhập cao cho họ.
Trong trờng hợp này, khi một tối thiểu số cá nhân đợc hởng lợi lớn thì cộng
đồng xã hội lại phải gánh chịu những thiệt hại to do những cá nhân đó gây ra.
Chúng ta cần phân biệt lợi ích chính đáng với lợi ích ích kỷ của cá nhân.
Lợi ích chính đáng của cá nhân là động lực phát triển của xã hội, là cái mà xã
hội phải tôn trọng và phát huy; còn lợi ích ích kỷ của cá nhân là nguồn ốc
của chủ nghĩa cá nhân.
Chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân dẫn đến sự thoái hoá, biến chất, ăn
cắp, tham nhũng của một số không ít cán bộ trong bộ máy nhà nớc. Nếu xã
hội khong có những biện pháp tích cực và có hiệu quả thì nhngx tệ nạn này
chẳng những không giảm đi, mà trái lại sẽ càng gia tăng, vì cùng với sự tăng
trởng kinh tế, của xã hội, phúc lợi tập thể sẽ tăng lên, và những thứ này lại đ-
ợc bàn giao cho những cá nhân trực tiếp quản lý.
KTTT làm phát triển tâm lý chạy theo đồng tiền của một bộ phận nhân
dân, nó mở ra khả năng cho một số ngời không lao động vẫn có thể hởng đợc
thành quả lao động của ngời khác. Họ làm bất cứ việc gì, kể cả những việc
phi nhân đạo, để thu lợi bất chấp hậu quả trớc mắt và lâu dài của hoạt động
đó. ở đây cần chỉ ra một đặc điểm của thị trờng ở nớc ta là thị trờng cha phát
triển, cha vững chắc; trong nhiều trờng hợp,nó cha đánh giá đúng chất lợng
của sản phẩm và chất lợng của lao động. Nhiều khi làm hàng giả có lợi cho
ngời sản xuất hơn làm hàng thật, kể cả trong lĩnh vực sản xuất văn hoá tinh
thần. Chủ nghĩa cá nhân cũng là nguyên nhân của lối sống xa hoa, truỵ lạc,
làm băng hoại những giá trị đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Nh vậy, trong điều kiện KTTT, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
xã hội là điều có khả năng xaỷ ra và, trên thực tế, đã xảy ra ở một bộ phân
nhất định trong xã hội. Chủ nghĩa cá nhân là biểu hiện tiêu cực của mâu

Xem chi tiết: v2298


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét