Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
sánh giữa các quốc gia. GDP bình quân đầu người đo lường số lượng hàng hoá và dịch vụ
được sản xuất ra tính bình quân cho một người dân, điều này có ý nghĩa khi muốn nói tới năng
lực sản xuất, năng suất lao động. Tuy nhiên, chỉ tiêu GDP mới chỉ dừng lại ở mặt "lượng" mà
chưa đề cập đến mặt "chất" của nền kinh tế. Với một nền kinh tế mà chủ yếu là dựa vào đầu tư
nước ngoài, là công xưởng của thế giới thì có thể GDP có được một quy mô rất lớn nhưng ý
nghĩa của nó lại rất hạn chế.
Khi sử dụng chỉ tiêu GNP thì lại tốt hơn đề nói về kết quả sản xuất của một quốc gia vì
GNP đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của một quốc gia
sản xuất ra trong một thời kỳ (thường là một năm). Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng vì nó cho
phép đo lường kết quả sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. GNP bình quân đầu người nói đến số
lượng hàng hoá và dịch vụ mà một người dân của một nước có thể mua được. Vì thế nghiên
cứu tình hình kinh tế cụ thể của một nước, chỉ tiêu GNP và GNP bình quân đầu người phản
ánh xác thực tốc độ tăng trưởng kinh tế và biến động mức sống của dân cư nước đó. Do đó
mức sống của cư dân một ngước phụ thuộc vào độ lớn của GNP và quy mô dân số. Nền kinh
tế của một quốc gia sẽ phát triển nhanh chóng nếu quốc gia đó vừa duy trì được tỷ lệ tăng
trưởng kinh tế cao, vừa kiểm soát được gia tăng dân số.
Việc đo lường và xác lập mối quan hệ giữa GDP và GNP bình quân đầu người là rất
quan trọng. Kinh tế học đã tìm ra hai chỉ tiêu này như là hai chỉ tiêu bắt buộc và không thể thay
thế được, dùng để tính toán mức tăng trưởng kinh tế. Ngày nay, tất cả chính phủ của các quốc
gia và các tổ chức kinh tế trên thế giới đều phải tiến hành thu thập và dựa vào các số liệu thu
thập được về GDP và GNP để lập các nghiên cứu toàn diện về kinh tế trên phạm vi thế giới
cũng như quốc gia, làm cơ sở để lập ra các chiến lược phát triển kinh tế dài hạn và đề ra các
mục tiêu cần đạt được. Thiếu các thống kê chính xác về GDP và GNP bình quân đầu người các
quốc gia thiếu một cơ sở tối cần thiết để hoạch định chính sách, quản lý và điều tiết kinh tế.
2.Khái niệm- Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng
2.1 Khái niệm
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Năm 1972, Câu lạc bộ Rôma cho xuất bản cuốn sách "Những giới hạn của tăng trưởng"
(Limits to Growth) lưu ý thế giới về những tác động đối với hệ sinh thái của tăng trưởng kinh
tế và đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của cả loài người. Năm 1992, Liên Hiệp Quốc tổ chức
Hội nghị thượng đỉnh chuyên đề về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro (Bra-xin). Tại
đây, "Tuyên bố Rio" về môi trường và phát triển và "Chương trình nghị sự 21" (Agenda 21)
được thông qua và chính thức sử dụng thuật ngữ "phát triển bền vững"; sau đó vào năm 2000,
Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Phát triển bền vững được tiến hành tại Johannesburg (Nam
Phi).
Từ đó đến nay, phạm trù phát triển bền vững đã được mở rộng nhiều, ít nhất bao gồm
ba chiều của quá trình phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường*/. Chính trong quá trình đi
sâu nghiên cứu mở rộng phạm trù phát triển bền vững, người ta đi đến khái niệm "chất lượng
tăng trưởng". Khái niệm này gắn với yêu cầu về sự ổn định, tính bền vững của bản thân tăng
trưởng, đồng thời cũng bao hàm đòi hỏi nâng cao phúc lợi và chất lượng cuộc sống con người.
Trong lời tựa cuốn sách nhan đề "Vì chất lượng cuộc sống tốt hơn", được coi là tài
liệu xác định Chiến lược Phát triển bền vững của Chính phủ Vương quốc Anh, Thủ tướng
Tony Blair viết: Tiến bộ thực sự không thể đo bằng tiền. Chúng ta phải bảo đảm rằng tăng
trưởng kinh tế đóng góp cho chất lượng cuộc sống của chúng ta, chứ không phải là làm cho nó
xấu đi Tăng trưởng vừa phải ổn định, vừa phải bền vững về mặt môi trường. Điều có ý nghĩa
quan trọng ở đây là chất lượng của tăng trưởng, chứ không chỉ là số lượng.
Còn trong phần Tổng quan mở đầu cuốn sách "Chất lượng tăng trưởng", do Ngân
hàng Thế giới tổ chức biên soạn và xuất bản, có đoạn viết: Thập niên cuối cùng của thế kỷ 20
đã chứng kiến bước tiến bộ đáng kể tại nhiều khu vực trên thế giới, đồng thời cũng chứng kiến
sự trì trệ và những bước thụt lùi, thậm chí ở cả những quốc gia trước đó đã đạt được tốc độ
tăng trưởng kinh tế vào loại nhanh nhất. Những khác biệt đang tiếp tục gia tăng và những đảo
lộn ghê gớm này cho ta hiểu nhiều điều về những gì là yếu tố đóng góp cho phát triển. Đứng ở
vị trí trung tâm là tăng trưởng kinh tế, nhưng không chỉ là tốc độ tăng (về số lượng) của nó, mà
cũng quan trọng như vậy là cả chất lượng của tăng trưởng.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Đến đây, chúng ta có thể nói rằng, các phạm trù - phát triển và phát triển bền vững,
tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng - có mối quan hệ gần gũi với nhau, nhưng không trùng
lặp, mà bổ sung lẫn cho nhau. Mỗi phạm trù đều có nội hàm riêng, thể hiện quá trình phát triển
của tư duy, nhận thức của con người về tự nhiên, về xã hội và về bản thân cuộc sống của mình.
2.2 Các tiêu chí đánh giá
Có thể thấy, phạm vi của khái niệm "chất lượng tăng trưởng" là khá rộng và các tiêu chí
định lượng để đánh giá nó vẫn còn trong quá trình tiếp tục được nghiên cứu, xác định. Cho đến
nay, vì nhiều lý do, trong đó có việc cho phép so sánh quốc tế, GDP (GNP) và GDP (GNP)
bình quân đầu người (cả số tuyệt đối và số tương đối) vẫn là hai tiêu chí được cả thế giới thừa
nhận và sử dụng để đo lường, đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế. Nhưng, cũng từ lâu trong
kinh tế học, cả lý thuyết và thực hành, người ta đã lưu ý về những điểm hạn chế, điểm không
phù hợp của các thước đo này, nhất là liên quan đến phúc lợi và chất lượng cuộc sống và trong
những khía cạnh xã hội của quá trình phát triển. Với sự phân biệt ngày càng chi tiết và sâu sắc
giữa "tăng trưởng" và "phát triển", đặc biệt là trong quá trình xây dựng các tiêu chuẩn về phát
triển bền vững, các học giả kiến nghị rằng thước đo về phát triển phải bao gồm không chỉ tốc
độ tăng trưởng, mà cả các khía cạnh về chất lượng như cơ cấu, sự phân bổ và tính bền vững
của tăng trưởng. Từ đó, trong hoạt động thực tiễn ở nhiều quốc gia, một số tiêu chí và đại
lượng đã lần lượt được áp dụng.
Tăng trưởng kinh tế (theo nghĩa nguyên gốc, gắn với GDP) bắt nguồn từ ba yếu tố đầu
vào là vốn, lao động và tiến bộ công nghệ (bao quát công nghệ sản xuất, kỹ năng quản lý và
một số khía cạnh liên quan khác). Để đánh giá ba yếu tố này, lâu nay, người ta sử dụng các
tiêu chí ICOR, năng suất lao động và năng suất nhân tố tổng hợp - TFP. Còn về phía đầu ra, từ
góc độ kinh tế thuần túy, để bảo đảm sự ổn định và tính bền vững cho bản thân tăng trưởng,
chắc chắn phải xem xét nhiều vấn đề như vấn đề tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, tái
đầu tư và phân bổ nguồn lực Riêng về phía đầu ra của tăng trưởng phục vụ cho con người,
nghĩa là về các khía cạnh của tăng trưởng liên quan đến chất lượng cuộc sống, đến các lĩnh
vực xã hội và môi trường, từng bước người ta đã đưa vào sử dụng các tiêu chí khác nhau, trong
số đó có lẽ được biết đến nhiều nhất là tiêu chí tổng hợp "Chỉ số phát triển con người - HDI"
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
(được công bố hàng năm trong Báo cáo phát triển con người của UNDP, bắt đầu từ 1990). Gần
đây, nhiều tài liệu nói đến "Chỉ số thịnh vượng kinh tế bền vững" (ISEW), do một nhóm học
giả Mỹ đề xuất cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, với ý tưởng hình thành một thước đo mới
thay thế cho GDP (còn được gọi là "GDP xanh"). Ngoài ra, một số tiêu chí cụ thể khác về y tế,
giáo dục, xóa đói giảm nghèo và tiêu chí đặc thù đánh giá về môi trường cũng được áp dụng
với mức độ khác nhau. Tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về một số tiêu chí trong số đó.
- Về chỉ số ICOR:
ICOR là chữ viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh "Incremental Capital - Output Ratio" (có
thể dịch là: tỷ số giữa phần gia tăng vốn và phần gia tăng đầu ra), được hiểu là kết quả phép
chia lượng vốn đầu tư mới cho phần gia tăng của GDP (I/ΔGDP), cho ta biết để có 1 đồng tăng
thêm trong tổng sản phẩm quốc nội cần bao nhiêu đồng đầu tư mới. Trong tiếng Việt, nhiều tác
giả đồng nhất tiêu chí này với khái niệm "hiệu quả đầu tư", hoặc cụ thể hơn - "hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư" (cũng có tác giả còn gọi là "suất đầu tư tăng trưởng").
- Về tiêu chí năng suất nhân tố tổng hợp - TFP:
TFP là chữ viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh "Total Factor Productivity" (có tác giả dịch
là "tổng năng suất nhân tố sản xuất").
Trong tăng trưởng GDP có sự đóng góp của vốn và lao động (là hai trong ba nhân tố sản
xuất cơ bản cùng với đất đai). Ở trên chúng ta đã nói về đóng góp của vốn và lâu nay ta đã
quen thuộc với khái niệm năng suất lao động. Nhưng nhiều khi chúng ta muốn biết hiệu quả
của các đầu vào tính gộp chung, chứ không chỉ riêng từng đầu vào. Để giải quyết vấn đề này,
người ta đã đưa ra một khái niệm mở rộng năng suất lao động sang vốn. Về cơ bản, khái niệm
năng suất nhân tố tổng hợp - TFP là một cách đo lường đồng thời năng suất của cả vốn lẫn lao
động trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế. Cách tiếp cận được sử dụng ở đây là
thông qua "hàm sản xuất" có dạng: GDP = A × f(K, L), thể hiện quan hệ giữa GDP và các đầu
vào - vốn K và lao động L, trong đó A đại diện cho năng suất nhân tố tổng hợp.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Có thể nói, TFP là thước đo phản ánh hiệu quả kinh tế trong sử dụng vốn và lao động;
song, với cách tiếp cận tổng thể này, ta có thể bổ sung các yếu tố khác. Trong các yếu tố bổ
sung, người ta quan tâm nhiều đến tiến bộ công nghệ và các biện pháp quản lý, điều hành, cả ở
tầm vĩ mô và vi mô. Nhiều nghiên cứu đã được các học giả trên thế giới tiến hành về vai trò
của TFP đối với tăng trưởng. Đối với một quốc gia, vốn và lao động là những đại lượng hữu
hạn, vì thế các học giả khuyến cáo các chính phủ cần tập trung thúc đẩy TFP. Họ cũng đi đến
kết luận rằng sự khác biệt giữa các quốc gia về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng phần lớn
bắt nguồn từ khác biệt trong TFP. Đến nay, trong nghiên cứu phân tích tăng trưởng kinh tế,
người ta thống nhất chỉ tập trung vào ba thành phần tạo nên tăng trưởng là vốn, lao động và
TFP (trong hệ thống số liệu thống kê công bố hàng năm, nhiều nước đã công bố tỷ lệ phần
trăm đóng góp của từng thành phần trong tăng trưởng GDP). Có nhiều yếu tố có thể góp phần
thúc đẩy TFP. Năng lực tổ chức và quản lý; hệ thống giáo dục quốc gia cùng với hoạt động
nghiên cứu - triển khai, công tác phổ biến và chuyển giao công nghệ; việc phân bổ nguồn lực;
chính sách kinh tế, v.v… đều đóng góp vào việc đó. Giáo sư D. Dapice trong bài giảng tại
Chương trình Fulbright ở Tp. Hồ Chí Minh đã có một dẫn chứng rất ấn tượng, khi nói rằng:
Sản lượng nông nghiệp tăng lên rõ rệt sau Đổi mới ở Việt Nam là một ví dụ.
- Về Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI):
Đây là một thước đo tổng hợp có giá trị bằng trung bình cộng giản đơn của ba chỉ số
phản ánh thành tựu của mỗi quốc gia về ba phương diện của sự phát triển con người: sức khoẻ
- đo bằng tuổi thọ trung bình; kiến thức - đo bằng tỷ lệ biết chữ của người lớn cộng với tỷ lệ
nhập học ở các cấp giáo dục; mức sống - đo bằng GDP thực tế bình quân đầu người tính theo
phương pháp sức mua tương đương (PPP). Thành tựu trong mỗi lĩnh vực được đo bằng
khoảng cách mà một quốc gia đã phấn đấu đạt được so với các mục tiêu được coi là "chuẩn" -
tuổi thọ trung bình là 85 tuổi, tỷ lệ biết chữ và nhập học là 100% và GDP thực tế bình quân
đầu người tính theo PPP là 40.000 đôla. Mặc dù đó là những mục tiêu rất đáng có nhưng đến
nay chưa một quốc gia nào đạt được trọn vẹn các mục tiêu lý tưởng này và chỉ số được thể
hiện bằng tỷ lệ phần trăm của con số thực tế so với chuẩn. HDI có giá trị từ 0 đến 1, trong đó 1
là cao nhất, là đích vươn tới, còn 0 là thấp nhất.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ưu thế của chỉ số HDI là nó cho phép xếp hạng các quốc gia theo thành tích họ đạt được
trong phát triển con người nói riêng và trong phát triển nói chung. Song, điểm yếu của nó là ở
chỗ đưa ra được rất ít thông tin về từng quốc gia và cũng không cho biết về tỷ trọng tương đối
của các yếu tố cấu thành đối với một quốc gia. Ngoài ra, khái niệm phát triển con người có ý
nghĩa rộng hơn và phức tạp hơn nhiều, trong khi HDI chưa phải là một thước đo toàn diện. Nó
không bao hàm các khía cạnh quan trọng của phát triển con người, đặc biệt là khả năng tham
gia của người dân vào việc ra các quyết định có liên quan tới cuộc sống của họ, cũng như về
quan hệ giữa người với người trong cộng đồng.
Xếp hạng theo chỉ số HDI của một số nước khác biệt đáng kể so với thứ tự xếp hạng
của họ theo GDP (hoặc GNP) thực tế bình quân đầu người. Chính sự chênh lệch trong bảng
xếp hạng này cho thấy mức độ thành công (hay không thành công) của nước này so với nước
khác trong việc chuyển các lợi ích của tăng trưởng kinh tế vào chất lượng cuộc sống cho người
dân của mình - một khía cạnh rất quan trọng để đánh giá chất lượng của tăng trưởng.
- Về Chỉ số thịnh vượng kinh tế bền vững (Index of Sustainable Economic Welfare -
ISEW):
Ý thức được những hạn chế của chỉ tiêu GDP trong việc đo lường, đánh giá chất lượng
tăng trưởng, nhất là về những khía cạnh liên quan đến chất lượng cuộc sống và đòi hỏi của
phát triển bền vững, trong những năm gần đây, các học giả trên thế giới đã nghiên cứu đề xuất
nhiều tiêu chí và phương pháp đánh giá khác nhau, trong số đó tiêu chí mang tính tổng hợp
được nói đến nhiều là ISEW.
Sau khi được đề xướng năm 1989, chỉ số này được bổ sung, hoàn thiện, từng bước ứng
dụng ở Mỹ và một số nước công nghiệp châu Âu. Đây thực chất là một cách chỉnh lý lại số
liệu thống kê GDP thông thường lâu nay. Căn cứ để chỉnh lý là dựa trên tính chất của các hoạt
động kinh tế: chỉ những lợi ích kinh tế thực sự mới được cộng vào, kể cả lợi ích từ các hoạt
động không phát sinh tiền như công việc nội trợ. Trong khi đó, những chi phí phát sinh trong
quá trình phát triển kinh tế, kể cả chi phí về mặt xã hội và môi trường, mà không đóng góp gì
vào chất lượng cuộc sống sẽ được trừ ra. Đồng thời, trong khi tính toán chỉ số ISEW, người ta
không dựa trên giá trị làm ra mà căn cứ vào chi tiêu do người dân trong nước bỏ ra để thụ
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hưởng hàng hóa và dịch vụ. Điều đó đòi hỏi chỉ số ISEW phải được điều chỉnh giảm tương
ứng với mức mất cân đối trong phân phối thu nhập.
Trong thực tiễn, việc thực hiện "GDP xanh" còn gặp không ít khó khăn về kỹ thuật. Để
thống kê được đầy đủ các lợi ích kinh tế thực sự và các chi phí trong quá trình phát triển kinh
tế là việc làm không dễ dàng và cũng khó kiểm định độ chính xác. Giá trị các sản phẩm và lao
động có thể xác định khi đưa ra thị trường, nhưng để phản ảnh giá trị của các yếu tố môi
trường thì khó hơn. Các chuyên gia đã đưa ra một số cách ước tính. Tuy không tính trực tiếp
được mất mát khi một con sông bị ô nhiễm, nhưng chúng ta có thể tính được số tiền cần thiết
phải chi để xử lý ô nhiễm.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG II
CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA MALAIXIA
Kể từ năm 1957 đến nay, Malaixia bắt đầu tiến hành chính sách phát triển kinh tế dân
tộc độc lập, vững mạnh. Trải qua hơn bốn thập kỷ phát triển và xây dựng đất nước, Malaixia
đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Hiện nay Malaixia đang từng bước chắc chắn khẳng
định sự thành công của quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế cao và
hướng tới xây dựng nền kinh tế xanh, môi trường được đảm bảo, các vấn đề xã hội được cải
thiện, mức sống của người dân được nâng cao. Đặc trưng trong tăng trưởng kinh tế Malaixia
được đánh giá là tăng trưởng có chất lượng và bền vững.
1.Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định
1.1. GDP và GDP bình quân đầu người
Tăng trưởng kinh tế có sự cải thiện liên tục từ 1957 đến nay. Tốc độ tăng trưởng trong
giai đoạn từ 1970 - 1996 liên tục tăng và ở mức cao, bình quân 6,7%/năm. Năm 1998 do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nền kinh tế Malaixia có tăng trưởng âm (-
7,6%). Sau giai đoạn này, Malaixia đã có những biện pháp đúng đắn nhằm khắc phục khủng
hoảng, nhờ vậy từ năm 1999 đến nay nền kinh tế Malaixia đã phục hồi khá nhanh. Tăng
trưởng GDP năm 1999 đạt 6,1%; năm 2000 đạt 8,3%. Trong năm 2001, do tình hình kinh tế
toàn cầu giảm sút tăng trưởng chỉ đạt 2,4%. Tuy nhiên, sang năm 2002, kinh tế Malaixia đã hồi
phục và đạt mức tăng trưởng 4,1% và năm 2003 đạt 5,6%, sang năm 2004 đạt mức cao 7,1%
và năm 2005 đạt 5,1%, ước đạt 5,3% trong năm 2006. Điều này cho thấy những chính sách
kinh tế - xã hội được Chính phủ Malaixia áp dụng để hồi phục nền kinh tế đã có hiệu quả cao,
trong đó có việc ấn định tỷ giá và kiểm soát vốn. Tốc độ hồi phục nhanh chóng của nền kinh tế
rõ ràng là một chỉ số đặc biệt quan trọng nói lên tính bền vững của quá trình tăng trưởng ở
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Malaixia.
Biểu đồ :Tốc độ tăng trưởng GDP của Malaixia giai đoạn 1997-2006 (%)
-10
-8
-6
-4
-2
0
2
4
6
8
10
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
1. 2. Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ sở chứng tỏ sự tăng trưởng bền vững dài hạn cũng như chất lượng tăng trưởng của
Malaixia còn thể hiện rõ ở quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành đã diễn ra rất nhanh, từ nền
kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp sang nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp ngày càng gia
tăng.
Tỷ trọng của công nghiệp trong GDP bắt đầu vượt qua nông nghiệp từ giữa những năm
1970 và sau đó tỷ trọng nông nghiệp trong GDP đã giảm nhanh chóng, từ 22% năm 1980
xuống còn 12% năm 1998 và còn 9,7% năm 2003. Trong khi đó, tỷ trọng của khu vực công
nghiệp đã tăng nhanh trong cùng thời kỳ, từ 38% năm 1980 lên 48% năm 1998 và đạt mức
48,5% vào năm 2003.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chất lượng của quá trình tăng trưởng sản xuất cũng được phản ánh qua sự phát triển
mạnh mẽ của khu khu vực công nghiệp chế tạo. Khu vực này đã lớn mạnh liên tục và đóng
góp đáng kể cho tốc độ tăng trưởng cao trong suốt thời kỳ tăng trưởng nhanh và chiếm 35%
GDP vào năm 1997. Thực tế, khu vực này cũng đã tạo ra nhiều việc làm chất lượng cao cho
nền kinh tế. Ngành công nghiệp không chỉ hướng tới xuất khẩu mà còn đáp ứng được những
nhu cầu tiêu dùng trong nước. Các sản phẩm công nghiệp gia dụng như đồ điện, điện tử, may
mặc đã hướng vào mục tiêu phát triển thị trường trong nước đã góp phần giảm nhập khẩu và
tiến mạnh vào xuất khẩu.
Ngành dịch vụ cũng là một ngành được ưu tiên phát triển ngay từ khi tiến hành phát
triển kinh tế. Trong suốt những năm vừa qua, ngành dịch vụ đã đạt được nhiều kết quả khá
vững chắc. Chính phủ Malaixia rất chú trọng tới việc cải cách khu vực này theo hướng ngày
càng tốt hơn, để các sản phẩm truyền thống của Malaixia tăng tính cạnh tranh trên thị trường,
đưa Malaixia trở thành một trung tâm gia công hàng đầu trong khu vực. Những ngành dịch vụ
hiện đại như tài chính, ngân hàng, viễn thông, công nghệ cao không ngừng phát triển. Những
nỗ lực của Chính phủ Malaixia đã đạt được kết quả rất khả quan, đặc biệt là trong lĩnh vực du
lịch. Du lịch là lĩnh vực mang lại thu nhập lớn thứ hai cho Malaixia, sau ngành công nghiệp
chế tạo. Các dịch vụ bổ trợ như dịch vụ hàng không, cơ sở hạ tầng, hệ thống khách sạn, nhà
nghỉ, siêu thị hiện đại, khu vui chơi giải trí liên tục được xây mới theo hướng hiện đại đáp ứng
những nhu cầu cao nhất của người tiêu dùng đã góp phần vào sự thành công trong chính sách
phát triển du lịch.
Tăng trưởng nhanh và ổn định ở Malaixia đạt được là do một số nhân tố sau:
Thứ nhất, thành quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ nền kinh tế dựa chủ
yếu vào nông nghiệp sang nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp ngày càng gia tăng. Tỷ trọng
nông nghiệp trong GDP đã giảm nhanh chóng, từ 22% năm 1980 xuống còn 12% năm 1998 và
còn 9,7% năm 2003. Tỷ trọng của khu vực công nghiệp đã tăng nhanh trong cùng thời kỳ, từ
38% năm 1980 lên 48% năm 1998 và đạt mức 48,5% vào năm 2003. Chất lượng của quá trình
tăng trưởng sản xuất cũng được phản ánh qua sự phát triển mạnh mẽ của khu vực công nghiệp
chế tác. Khu vực này đã lớn mạnh liên tục và đóng góp đáng kể cho tốc độ tăng trưởng cao
trong suốt thời kỳ tăng trưởng nhanh và chiếm 35% GDP vào năm 1997. Ngành dịch vụ cũng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét