Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
mua hàng xuất khẩu. Từ đó nảy sinh hình thức tài trợ của ngân hàng đối với
hoạt động XNK.
- Các nghiệp vụ thanh toán khác.
Ngoài hai nghiệp vụ thanh toán chủ yếu trên các ngân hàng còn thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán khác nhằm đa dạng hoá các hoạt động, phân tán
rủi ro, tăng lãi suất, tận dụng lợi thế là một trung gian tài chính. Các hoạt
động này được thực hiện trên thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán và
trong nhiều lĩnh vực khác.
1.2 Phương thức thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại.
1.2.1. Khái niệm thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, nảy sinh trên
cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước
này với tổ chức cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc
tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng có liên hệ.
1.2.2 Vai trò của thanh toán quốc tế.
Các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ không bao giờ
tách rời nhau mà chúng thường có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Xuất khẩu là
hành vi nội tệ biến thành hàng nhập khẩu để lấy ngoại tệ và nhập khẩu lại
hành vi ngoại tệ chuyển hoá thành hàng nhập khẩu. Toàn bộ hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu của một nước tạo thành một chu kỳ khép kín, chu kỳ có
dạng: “Nội tệ - Ngoại tệ - Hàng nhập khẩu”. Đó là mối quan hệ giữa hàng hoá
xuất khẩu và hàng hoá nhập khẩu, giữa nội tệ và ngoại tệ. Các quan hệ hàng
hoá và tiền tệ nói trên chỉ có thể được thực hiên thông qua trao đổi quốc tế.
Để đảm bảo việc thu chi ngoại tệ có kết quả tốt, các nhà kinh doanh
đều phải thành thạo phương thức thanh toán quốc tế vì thanh toán quốc tế là
việc chi trả tiền tệ giữa các đối tác thuộc các nước khác nhau trong quan hệ
mua bán quốc tế.
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong buôn bán, dù tồn tại dưới bất kì hình thức nào cũng luôn tồn tại
một mâu thuẫn đó là người nhập khẩu muốn nhận được hàng hoá trước khi trả
tiền, còn người xuất khẩu lại muốn có tiền rồi mới giao hàng. Vì vậy trong
buôn bán quốc tế cũng vậy việc giải quyết mâu thuẫn này càng cần thiết hơn
vì khoảng cách về địa lý, thông tin, không gian giữa người nhập khẩu và
người xuất khẩu.
Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ còn có một ưu điểm
là cả các doanh nghiệp mới bước vào kinh doanh xuất nhập khẩu và các
doanh nghiệp đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực này đều có thể sử dụng một
cách hiệu quả.
1.2.3. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu.
Trên thực tế có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế khác nhau.
Dưới đây là một số phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu mà các NHTM
Việt Nam đang áp dụng:
- Phương thức chuyển tiền - Remittance
Chuyển tiền là phương thức thanh toán quốc tế đơn giản nhất, thanh
toán trực tiếp giữa hai bên, ngân hàng đóng vai trò trung gian. Đó là việc
người trả tiền yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định
cho người nhận theo giấy ủy nhiệm. Phương thức chuyển tiền bao gồm : Điện
báo, thư chuyển tiền. Hình thức thanh toán này có thời gian thực hiện và độ
an toàn khác nhau nên chi phí cũng khác nhau.
• Các bên tham gia trong hình thức chuyển tiền:
Người chuyển tiền là người yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển
tiền ra nước ngoài.
Người thụ hưởng là người nhận tiền do người chuyển tiền chỉ định.
Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng thực hiện yêu cầu chuyển tiền,
thường là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngân hàng trung gian (nếu có) là ngân hàng chỉ định giữa ngân hàng
chuyển tiền và ngân hàng nhận tiền.
Ngân hàng nhận tiền là ngân hàng phục vụ người thụ hưởng.
Nhược điểm của phương thức chuyển tiền là việc chi trả tiền cho người
bán phụ thuộc hoàn toàn vào người mua.Do đó, quyền lợi của bên bán không
được bảo đảm. Ngược lại, bên bán nhận được tiền trước thì bên mua lại phải
chịu rủi ro là không nhận được hàng hoặc hàng không đúng theo hợp đồng. Ở
phương thức thanh toán này, ngân hàng chỉ là người trung gian thực hiện việc
thanh toán để hưởng thủ tục phí (hoa hồng) và không bị ràng buộc gì cả.
Người ta thường áp dụng phương thức thanh toán này trong thanh toán các
khoản tương đối nhỏ như thanh toán chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu:
chi phí vận chuyển, bảo hiểm, bồi thường thiệt hại hoặc trong thanh toán phi
mậu dịch, chuyển vốn, chuyển lợi nhuận đầu tư về nước
- Phương thức nhờ thu - Collection.
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán mà người bán
hoàn thành xong nghĩa vụ giao hàng thì lập hối phiếu gửi đến ngân hàng nhờ
thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu. Trong trường hợp này ngân hàng đóng vai
trò trung gian giúp thu hộ tiền và được hưởng tỉ lệ phần trăm trên số tiền thu
được. Có hai loại nhờ thu: nhờ thu phiếu trơn (Clean collection) và nhờ thu
kèm chứng từ (Documentary collection).
Nhờ thu trơn là phương pháp mà người bán nhờ ngân hàng thu hộ số
tiền hối phiếu ở người mua nhưng không kèm theo điều kiện gì cả. Phương
thức này không đảm bảo quyền lợi cho bên bán bởi vì giữa việc nhận hàng và
thanh toán của người mua không có một sự ràng buộc nào. Người mua có thể
nhận hàng rồi không chịu thanh toán hoặc kéo dài thời gian thanh toán.
Nhờ thu kèm chứng từ khác với nhờ thu trơn là phương thức thanh toán
mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì lập bộ chứng từ
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và nhờ ngân hàng thu hộ
tiền tờ hối phiếu đó, với điều kiện là người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả
tiền thì ngân hàng mới trao toàn bộ chứng từ gủi hàng cho người mua để họ
nhận hàng, (nếu là phương thức D/P, Documentary against Payment - Trả tiền
trao chứng từ) hoặc ký chấp nhận trả tiền (nếu là phương thức D/A,
Documentary against Acceptance - Chấp nhận trả tiền trao chứng từ). Như
vậy, so với nhờ thu trơn, phương thức này đảm bảo quyền lợi cho bên bán
hơn vì đã có sự ràng buộc chặt chẽ giữa việc thanh toán tiền và việc nhận
hàng của người mua.
Nhược điểm của phương thức nhờ thu là người bán thông qua ngân
hàng mới chỉ khống chế được quyền định đoạt hàng hoá của người mua chứ
chưa khống chế được việc trả tiền của người mua, người mua có thể kéo dài
thời gian thanh toán bằng việc chưa nhận chứng từ sớm hoặc người mua gặp
những khó khăn về tài chính chưa thể thanh toán ngay hoặc người mua có thể
không trả tiền nếu tình hình thị trường bất lợi cho họ. Ngoài ra, việc trả tiền
còn quá chậm, kể từ khi giao hàng đến khi được thanh toán có thể kéo dài
hàng tháng, thậm chí hàng năm. Ở phương thức thanh toán này, ngân hàng chỉ
đóng vai trò là người trung gian thu tiền hộ.
- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ - Documentary credit.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong
đó một ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng
(người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người
khác (người hưởng số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do
người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người này xuất trình cho
Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán, phù hợp với những quy định đề ra
trong thư tín dụng.( giáo trình kĩ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu, KTQD).
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức phổ biến
nhất được các bên tham gia hợp đồng ngoại thương ưa chuộng vì đây là
phương thức thanh toán đảm bảo quyền lợi cho cả người bán và người mua.
Hiện nay ở Việt Nam và các nước đang phát triển, tỷ trọng thanh toán bằng
L/C chiếm khoảng 80% trong tổng kim ngạch hàng hoá XNK.
2. NỘI DUNG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
CỦA NHTM.
2.1. Khái niệm, đặc điểm phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
2.1.1. Khái niệm.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà
trong đó, một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách
hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho
một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận
hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba
này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp những quy
định đề ra trong thư tín dụng.( giáo trình kĩ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu).
2.1.2. Đặc điểm.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit - D/C)
được thực hiện thông qua một công cụ hết sức quan trọng đó là thư tín dụng
(Letter of Credit - L/C) nó quyết định đến sự ra đời tồn tại và phát triển của
phương thức thanh toán này. Trong “Quy tắc và thống nhất về tín dụng chứng
từ” bản sửa đổi năm 2006 số 600 của Phòng thương mại quốc tế (UCP 600)
L/C có những đặc điểm như sau:
- Hợp đồng mua bán là cơ sở để thiết lập thư tín dụng.
- Sau khi ra đời, thư tín dụng hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.
Các bên tham gia trong Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Người xin mở thư tín dụng “The appicant for the credit” là nhà nhập
khẩu, người mua.
- Người hưởng lợi thư tín dụng (the beneficiary) là người bán, người
xuất khẩu do người xuất khẩu, người bán chỉ định.
- Ngân hàng phát hành thư tín dụng (The Issuring Bank, The Opening
Bank) là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho
người nhập khẩu. Ngân hàng phát hành thường có địa điểm tại nước người
nhập khẩu. Nó chịu trách nhiệm phát hành L/C và chịu trách nhiệm trả tiền
cho người thụ hưởng
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The Advising Bank) là ngân hàng
ở tại nước người thụ hưởng. Nó đảm bảo quyền lợi và đại diện quyền lợi cho
người bán.
Ngoài ra trong qúa trình thương lượng, phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ còn xuất hiện các bên:
+ Ngân hàng xác nhận L/C (The Confirming Bank) là ngân hàng đứng
ra xác nhận L/C do ngân hàng phát hành mở ra, xác nhận khả năng thanh toán
của ngân hàng phát hành hoặc xác nhận theo yêu cầu của người bán.
+ Ngân hàng thanh toán (The Paying Bank) xuất hiện khi ngân hàng
phát hành uỷ quyền cho nó và trách nhiệm của ngân hàng này cũng giống
ngân hàng phát hành.
+ Ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ (The Negotiating Bank) là ngân
hàng có thể được thoả thuận hoặc không trong L/C, có nhiệm vụ đứng ra chiết
khấu hoặc mua lại tất cả các hối phiếu do người hưởng lợi ký phát.
Trong thực tế, ngân hàng phát hành thường là ngân hàng thanh toán,
ngân hàng thông báo thường cũng đảm nhận việc chiết khấu và xác nhận (nếu
có yêu cầu của người thụ hưởng thông qua Ngân hàng phát hành).
2.2. Phương tiện được sử dụng trong thanh toán tín dụng chứng từ.
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.2.1 Các loại thư tín dụng.
Dưới đây là một số L/C đang được sử dụng rộng rãi hiện nay:
* L/C có thể huỷ ngang: Là loại L/C mà người mở (nhà nhập khẩu) có
quyền đề nghị ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ sung, hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc
nào mà không cần có sự chấp thuận và thông báo trước của người thụ hưởng
(nhà xuất khẩu).
* L/C không thể huỷ ngang: Là loại L/C mà sau khi đã mở và nhà xuất
khẩu đã chấp nhận, thì ngân hàng phát hành không được sửa đổi, bổ sung hay
huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C, trừ khi có sự thoả thuận khác của các
bên tham gia. Hiện nay L/C được dùng rất phổ biến trên thế giới.
* L/C không huỷ ngang có xác nhận: Là L/C không thể huỷ bỏ, được
một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng
mở L/C. Đối với loại L/C này người bán có thể ký phát hối phiếu đòi tiền
ngân hàng xác nhận.
* L/C không huỷ ngang và không có xác nhận (IrevocableL/C without
confirm): L/C không huỷ ngang được coi là không có xác nhận khi được
thông báo cho người hưởng lợi thông qua một ngân hàng khác và không có sự
cam kết nào khác về phía Ngân hàng phát hành L/C.
* L/C không huỷ ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse
L/C): là loại L/C mà sau khi người hưởng lợi đã được trả tiền thì ngân hàng
phát hành L/C không có quyền được đòi lại tiền người hưởng lợi trong bất cứ
trường hợp nào. L/C này cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.
* L/C chuyển nhượng: Là L/C không huỷ ngang, trong đó người hưởng
lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện L/C
cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ
hai, mỗi người hưởng lợi thứ hai nhận cho mình một phần của thương vụ.
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* L/C giáp lưng: Là loại L/C mà sau khi nhận được L/C do người nhập
khẩu mở cho mình hưởng, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dung L/C này và
dùng đúng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người khác hưởng với
nội dung gần giống như L/C ban đầu.
* L/C tuần hoàn: Là L/C không thể huỷ ngang mà sau khi đã sử dụng
hết giá trị của nó hay đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và
tiếp tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn nhất định cho
đến khi tổng trị giá hợp đồng các bên được thực hiện.
* L/C dự phòng: Là loại L/C được mở ra để bảo vệ quyền lợi của nhà
nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được L/C, tiền đặt cọc
và tiền ứng trước, nhưng lại không có khả năng giao hàng, hoặc không
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C, đòi hỏi ngân
hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành một L/C trong đó cam kết với nhà
nhập khẩu sẽ hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở
L/C cho nhà nhập khẩu.
* L/C đối ứng: Là loại L/C không thể huỷ ngang, chỉ bắt đầu có hiệu lực
khi L/C kia đối ứng với nó được mở ra. Trong L/C ban đầu thường phải ghi
“L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để
cho người mở L/C này hưởng” và trong L/C đối ứng phải ghi câu “L/C này đối
ứng với L/C số mở ngày tại ngân hàng ” và thông báo cho người thụ hưởng
biết.
* L/C điều khoản đỏ: Là loại L/C mà ngân hàng phát hành cho phép
ngân hàng thông báo ứng trước cho người thụ hưởng để mua hàng hoá,
nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng hoá theo đúng L/C đã mở. L/C này gọi là
điều khoản đỏ vì trước đây được in bằng mực đỏ để tăng sự chú ý.
* L/C trả chậm (Deferred payment L/C): là loại L/C không thể huỷ bỏ,
trong đú ngân hàng phát hành L/C hay là ngân hàng xác nhận L/C cam kết với
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ số tiền của L/C tại một hay những thời
điểm xác định trong tương lai, những thời điểm này đã được xác định cụ thể
trong L/C.
2.2.2 Nội dung chủ yếu của một thư tín dụng.
∗ Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C.
- Mỗi L/C đều phải có số hiệu riêng. Tác dụng của nó để trao đổi thư
từ, điện tín có liên quan đến L/C nhằm tạo điều kiện thuận tiện trong việc trao
đổi thông tin giữa các bên có liên quan trong quá trình giao dịch, thanh toán.
Số hiệu của L/C còn được dùng để ghi vào các chứng từ liên quan trong bộ
chứng từ thanh toán.
- Địa điểm mở L/C là nơi mà ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền
cho nhà xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn
luật pháp áp dụng để giải quyết những bất đồng xảy ra (nếu có).
- Ngày mở L/C là ngày bắt đầu phát sinh sự cam kết của ngân hàng mở
L/C đối với người xuất khẩu là ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn
xin mở thư tín dụng của nhà nhập khẩu; là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực
của thư tín dụng và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem nhà nhập
khẩu có thực hiện việc mở thư tín dụng đúng thời hạn như thoả thuận trong
hợp đồng thương mại không.
* Loại thư tín dụng :
Đây là điều khoản rất quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng thanh
toán của L/C vì mỗi loại L/C có tính chất và nội dung khác nhau. Do đó, khi
mở L/C, người yêu cầu mở phải xác định cụ thể loại L/C cần mở.
* Tên, địa chỉ các bên liên quan đến L/C.
Các bên liên quan đến L/C được chia làm hai bên:
+ Các thương nhân: người nhập khẩu (người yêu cầu mở L/C) và người
xuất khẩu (người hưởng lợi).
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Các ngân hàng liên quan: Ngân hàng mở L/C, Ngân hàng thông báo,
Ngân hàng xác nhận (nếu có).
* Số tiền của L/C:
+ Số tiền của L/C phải vừa phải được ghi bằng số vừa phải được ghi
bằng chữ và phải thống nhất với nhau.
+ Tên của đơn vị tiền tệ phải được ghi rõ ràng, chính xác.
+ Trị giá của L/C phải phản ánh trị giá của lô hàng giao theo hợp đồng.
Tuy nhiên, một điểm cần phải chú ý đó là khả năng thực hiện việc giao hàng.
Bởi lẽ, đối với một số mặt hàng rời như quặng, than, gỗ, thì số lượng hàng
giao khó có thể chính xác như L/C đã qui định, vì vậy có thể ảnh hưởng đến
khả năng thanh toán của lô hàng nên để tránh tình trạng này, một L/C có thể
cho phép dung sai trong số tiền cũng như số lượng hàng giao.
Tuy nhiên, UCP 600 đã tránh tình trạng này bằng việc quy định đối với
các loại hàng rời, nếu L/C không quy định cụ thể thì số lượng hàng giao vẫn
được phép dung sai 5%, miễn là không vượt quá giá trị L/C.
Do đó, một L/C nên ghi số tiền tối đa và cho phép dung sai của nó thì
nhà xuất khẩu sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện L/C.
* Thời hạn hiệu lực, thời hạn xuất trình chứng từ, thời hạn trả tiền và
thời hạn giao hàng.
+ Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà Ngân hàng mở L/C cam kết
sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu nhà xuất khẩu xuất trình đầy đủ bộ chứng từ
thanh toán trong thời hạn đó và phải phù hợp với điều kiện của L/C. Thời hạn
hiệu lực của L/C bắt đầu từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C.
+ Thời hạn xuất trình bộ chứng từ là khoảng thời gian nhà xuất khẩu
được sử dụng để hoàn tất bộ chứng từ và gửi đi cho người mua thanh toán.
Thông thường thời hạn này được tính cụ thể là một số ngày nhất định sau
ngày giao hàng. Việc xuất trình chứng từ của nhà xuất khẩu, không những
Nguyễn Anh Thư Lớp: Thương mại 46B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét