Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

một số ứng dụng của lý thuyết trò chơi






Đường phản ứng của Hãng 2: P
2
= 3 + (1/4)P
1
Những đường phản ứng này được dựng trong hình 12.6. Thế cân bằng
Cournot nằm ở giao điểm của hai đường phản ứng ấy, bạn có thể xác định
rằng mỗi hãng đòi một giá là 4 đôla và thu được một lợi nhuận là 12 đ6la. Ở
điểm ấy vì mỗi hãng đều thực hiện được điều tốt nhất có thể khi biết cái giámà
đối thủ cạnh tranh của mình đã ấn định, nên không hãng nào có động cơ thay
đổi giá cả.
Bây giờ, giả dụ hai hãng cấu kết với nhau. Thay vì lựa chọn các giá cả
một cách độc lập với nhau, hai hãng này cùng quyết định đòi một giá như
nhau, giá này phải là giá có sức tối đa hóa lợi nhuận của cả hai hãng. Bạn có
thể xác minh rằng trong trường hợp ấy hai hãng này sẽ lựa chọn một giá là 6
đôla, và rằng các đều khấm khá hơn khi cấu kết với nhau vì mỗi hãng bây giờ
đều thu được một lợi nhuận là 16 đôla. Hình 12.6 cho thấy cái thế cân bằng
cấu kết ấy.
3. Vấn đề định giá của Procter & Gamble
Khi Procter & Gamble (P&G) lập kế hoạch cho Gypsy Moth Tape vào thị
trường Nhật Bản, Công ty đã biết các chi phí sản xuất nó, và đã biết đường cầu thị
trường, nhưng thấy khó ấn định một giá thỏa đáng phải đòi hỏi vì hai hãng khác -
Công ty hữu hạn kao Soap và Công ty hữu hạn Unilever - cũng đã có kế hoạch
vào thị trường ấy. Cả ba hãng này đều phải lựa chọn những giá để mình vào được thị
trường, và P & G phải lưu ý đến điều đó khi xem xét ấn định giá cả của bản thân
mình.
Vì cả ba hãng đều dùng cùng một quy trình kỹ thuật để sản xuất Gypsy Moth
Tape, họ có những chi phí sản xuất như nhau. Mỗi tháng đứng trước một chi phí
cố định là 480.000 đôla một tháng và một chi phí khả biến là 1 đôla một đơn vị.
Từ một công trìn nghiên cứu thị trường P&G xác định được rằng đường cầu bán ra
hàng tháng của mình được biểu thị bằng.

−3.5 0,25
Q = 3375
P (
P
u
) ( P )
0,25
K
Trong đó Q là số bán ra hàng tháng tính bằng hàng nghìn đơn vị, còn
P,P
u
và P
K
, lần lược theo thứ tự, là giá cả của P&G, Unilever và Kao. Bây giờ
bạn hãy tự đặt mình vào vị trí của P&G. Cho rằng Unilever và Kao đứng


- 5 -




trước những điều kiện nhu cầu giống như nhau, bạn phải vào thị trường với giá
cả nào và bạn trù tính sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận?
Bạn có thể bắt đầu bằng việc tính toán lợi nhuận mà bạn dự định có như một
hàm số của giá cả mà bạn đòi, với những dự toán khác nhau về những giá cả mà
Unilever và Kao sẽ đòi. Dùng đường cầu và các số chi phí đã cho trên đây, chúng
tôi đã tiến hành các phép tính ấy thay cho bạn và lập bảng các kết
quả trong Bảng
12.3. MỖi cột cho thấy lợi nhuận của bạn, tính bằng hàng
nghìn đôla một tháng,
với một tổ hợp riêng biệt của các giá cả (nhưng trong mỗi trường hợp đều cho
rằng Unilever và Kao ấn định một giá như nhau). Ví dụ nếu bạn đòi giá 1,30 đôla
còn Unilever và Kao đến đòi giá 1,5 đôla bạn sẽ thu được lợi nhuận là 15.000 đôla
một tháng.
Bảng Lợi nhuận của P&G (nghìn đôla một tháng)

Giá cả của Các giá cả của họ (bằng nhau) (đôla)
P&G
1,10 1,20 1,30 1,40 1,50 1,60 1,70 1,80
(đôla)

1,10 -226 -215 -204 -194 -183 -174 -165 -155

1,20 -106 -89 -73 -58 -43 -28 -15 -2

1,30 -56 -37 -19 2 15 31 47 62

1,40 -44 -25 -6 12 29 46 62 78

1,50 -52 -32 -15 3 20 36 52 68

1,60 -70 -51 -34 -18 -1 14 30 44

1,70 -93 -76 -59 -44 -28 -13 1 15

1,80 -118 -102 -87 -72 -57 -44 -30 -17
Hãy nhớ rằng trong mọi trường hợp, những người quản lý của Unilever
và Kao cũng trải qua những tính toán và nhận xét như bạn đã làm và cũng có
thể có những tính toán và diễn giải riêng của họ như bảng 12.2. Bây giờ giả dụ

- 6 -




những đối thủ cạnh tranh của bạn đòi giá 1,50 đôla hay hơn nữa. Như bảng
trân đã cho thấy, bạn tất muốn chỉ đòi giá 1,40 đôla vì giá cả cho bạn một lợi
nhuận cao nhất (ví dụ, nếu họ đòi giá 1,40 đôla nhưng chỉ kiếm được 29.000
đôla một tháng bằng cách đòi giá 1,40 đôla nhưng chỉ kiếm được 20.000 đôla
nếu đòi giá 1,50 đôla và 15.000 đôla nếu đòi giá 1.30 đôla). Do đó bạn tất
không muốn đòi giá 1,50 đôla (hay hơn nữa). Giả dụ các đối thủ cạnh tranh
của bạn cũng suy luận như vậy, bạn không nên trông mong họ đòi giá 1,50
đôla (hay hơn nữa).
Nếu các đôi thủ cạnh tranh của bạn đòi giá 1,30 đôla thì sao? Trong
trường hợp ấy bạn sẽ mất tiền, nhưng bạn sẽ mất số tiền nhỏ nhất (6.000 đôla
một tháng) nếu bạn đòi giá 1,40 đôla. Vì vậy, các đối thủ cạnh tranh bạn tất
không trông mong bạn đòi giá 1,30 đôla, và cũng do suy luận như vậy bạn
không nên trpong mong họ đòi một cái giá thấp như vậy. Giá nào khiến cho
bạn đạt được điều tốt nhất có thể, khi biết những giá của những đối thủ cạnh
tranh với bạn? Giá đó là 1,40 đôla. Đó cũng là cái giá mà với nó các đối thủ
cạnh tranh của bạn đạt được điều tốt nhất mà họ có thể, cho nên đó là thế cân
bằng Cournot. Như bảng 12.2 cho thấy,, trong thế cân bằng ấy bạn và các đối
thủ cạnh tranh của bạn đều mỗi người kiếm được một lợi nhuận là 12.000 đôla
một tháng.
4. Cạnh tranh so với kết cấu: thế khó xử của những người bị giam giữ.
Một thế cân bằng Cournot là một thế cân bằng
không hợp tác
- mỗi
hãng
đề ra những quyết định khiến cho mình có được một lợi nhuận cao nhất
có thể, khi
biết những hành động của các đối thủ cạnh tranh với nó. Như
chúng ta đã thấy
những hành động của các đối thủ cạnh tranh với nó. Như
chúng ta đã thấy
những lợi nhuận do đó mà mỗi hãng thu được đều lớn hơn mức có thể có trong
các điều kiện cạnh tranh hoàn hảo nhưng đều thấp hơn mức nếu như các hãng cấu
kết với nhau.
Nhưng kết cấu là bất hợp pháp, và đa sồ các nhà quản lý đều thích đứng
ngoài vòng tù tội và không phải nộp những khoản tiền phạt khắc nghiệt.
Nhưng nếu sự hợp tác có thể đưa tới những lợi nhuận cao hơn, tại sao các
hãng lại không hợp tác vớinhau mà không có một sự cấu kết hiển nhiên? Nói
riêng, nếu bạn và đói thủ cạnh tranh của bạn có thể làm cho nhau đoán ra cái
giá có sức tối đa hóa lợi nhuận mà hai bên phải thỏa thuận đòi nếi phải cấu kết

- 7 -




với nhau, tại sao lại không ấn định đúng là cài giá ấy và hy vọng đối thủ cạnh tranh
của bãn cũng làm như vậy? Nếu đối thủ cạnh tranh của bạn phải làm như vậy, cả
hai đều kiếm được nhiều tiền hơn.
Vấn đề là ở chỗ đối thủ cạnh tranh của bạn có thể không lựa chọn định giá ở
mức cấu kết. Trên thực tế, đối thủ cạnh tranh của bạn tất không định giá ở mức kết
cấu. Tại sao lại không? Bởi vì đối thủ cạnh tranh của bạn muốn làm ăn tốt hơn bằng
cách lựa chọn giá cả Cournot dù cho có biết rằng bạn đang tiến hành định giá ở
mức cấu kết.
Để hiểu điều đó, chúng ta hãy trở lại với ví dụ của chúng ta về cạnh
tranh
giá cả trong đoạn trước. Hãng nào trong số các hãng của ví dụ ấy có một
chi phí cố
định là 20 đôla, đều có một chi phí khả biến bằng không và đều
đứng trước các
đường cầu sau:
Cầu của Hãng 1: Q
1
=12 - 2P
1
+ P
2
(12.6a)
Cầu của Hãng 2: Q
2
=12 -2P
2
+P
1
(12.6b)
Chúng ta đã tìm thấy rằng trong thế cân bằng Cournot, mỗi hàng đều định
đòi một giá là 4 đôla và thu được một lợi nhuận là 12 đôla, trt khi nếu các
hãng cấu
kết với nhau, chúng sẽ đòi một giá là 6 đôla và thu được một lợi nhuận là 16
đôla. Bây giờ giả dụ các hãng không cấu kết với nhau, nhưng
Hãng 1 định một
giá cấu kết là 6 đôla , hy vọng rằng Hãng 2 cùng sẽ làm như vậy. Nếu Hãng 2 phải
làm như vậy, nó sẽ thu được một lợi nhuận là 16 đôla. Nhưng nếu như thay vào đó
nó đòi giá 4 đôla thì sao? Trong trường hợp này Hãng 2 sẽ thu được một lợi nhuận.
π
2
= P
2
Q
2
-20 = (4) [12-(2) (4) + 6] -20 =20 đôla.
Mặt khác, Hãng 1 sẽ thu được một lợi nhuận là
π
2
= P
2
Q
2
-20 = (6) [12-(2) (6) + 4] -20 =4 đôla.
Do đó nếu Hãng 1 đòi giá 6 đôla nhưng Hãng 2 chỉ đòi giá 4đôla thì lợi
nhuận của Hãng 2 sẽ tăng lên là 20 đôla. Và nó muốn làm như vậy một cách
có hại cho lợi nhuận của Hãng 1, lợi nhuận này sẽ sụt xuống còn là 4 đôla. Rõ
ràng là Hãng 2 làm điều tốt nhất khi chỉ đòi giá 4 đôla. Nếu hãng 2 đòi giá 6
đôla và Hãng 1 đòi 4 đôla, Hãng 1 sẽ thu được 20 đôla lợi nhuận và Hãng 2 sẽ
chỉ thu được 4 đôla.

- 8 -


Bảng Ma trận thưởng phạt cho trò chơi định giá
Hãng 2


Hãng 1

Đòi giá 4 đôla

Đòi giá 4 đôla

Đòi giá 6 đôla
Đòi giá 6 đôla
12 đôla, 12 đôla 20 đôla, 4đôla
4 đôla, 20 đôla 16 đôla, 16 đôla


Bảng 12.3. tóm tắt những kết quả của những khả năng định giá khac
1nhau ấy. Trong khi quyết định phải ấn định cái giá cả nào, hai hãng chơi trò
chơi không hợp tác - mỗi hãng độc lập làm điều tốt nhất mình có thể làm, trên
cơ sở có tính đến đối thủ cạnh tranh của mình. Bảng 12.3 được gọi là ma trận
thưởng phạt cho trò chơi ấy bởi vì nó cho thấy lợi nhuận (hay phần thưởng)
của mỗi tháng, khi đã biết quyết định của hãng ấyvà quyết định của hãng cạnh
tranh với nó. Ví dụ, góc trên bên tay trái của ma trận thưởng phạt cho chúng ta
biết rằng nếu cả hai hãng đều đòi giá 4 đôla thì mỗi hãng có được một lợi
nhuận là 12 đôla và Hãng 2 đòi giá 20 đôla, thì Hãng 1 sẽ 20 đôla còn Hãng 2
sẽ thu được 4 đôla.
Ma trận thưởng phạt này có thể làm sáng tỏ câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên
của chúng ta: Tại sao các hãng lại không có thái độ hợp tác với nhau và
do đó thu
được những lợi nhuận cao hơn, dù cho họ không thể cấu kết với
nhau? Trong
trường hợp này, hợp tác có nghĩa là cả hai hãng đều đòi giá 6 đô la thay cho 4 đôla
và do đó thu lời 16 đôla thay cho 12 đôla. Vấn đề là ở chỗ mỗi hãng luôn luôn
kiếm được nhiều tiền hơn do đòi giá 4 đôla, bất kể đối thủ cạnh tranh của mình làm
gì. Như ma trận thưởng phạt đã cho thấy, nếu Hãng 2 đòi giá 4 đôla thì tốt nhất
Hãng 1 làm là đòi giá 4 đôla. Tư8ơng tự, Hãng 2 luôn luôn làm điều tốt nhất là đòi
giá 4 đôla, bất kể hãng 1 làm gì. Vì vậy,trừ
phi hai hãng ký kết một thỏa thuận có
thể được thi hành là đòi giá 6 đôla,
không hãng nào trong hai hãng ấy có thể
trông mong đối thủ cạnh trạnh với mình đòi giá 6 đôla, và cả hai đều đòi giá 4 đôla.



- 9 -




Một ví dụ kinh điển trong lý thuyết trò chơi, gọi là
thế khó xử của
những người bị giam siữ, minh họa vấn đề mà các hãng độc quyền nhóm phải
đương đầu. Ví dụ ấy như sau: Hai hãng bị giam giữ do bị tố cáo cùng nhau
hợp tác gây trọng tội. Họ bị giam giữ trong các phòng riêng và không thể
thông tin cho nhau. Mỗi người đều được yêu cầu thú nhận tội ác. Nếu cả hai
người đều thú nhận, mỗi người sẽ nhận một án tù 5 năm. Nếu không ai thú
nhận, trường hợp tố tụng này sẽ khó tiến ành, do đó những người bị giam siữ
có thể trông đợi yêu cầu mặc cả và nhận án hai năm. Mặt khác, nếu một người
bị giam giữ thú nhận còn người kia thì không, người thú nhận sẽ chỉ nhận án
một năm trong khi người kia sẽ vào tù mười năm. Nếu bạn là một trong những
người bị giam giữ ấy, bạn sẽ làm gì- thú nhận hay không thú nhận?
Bảng Ma trận thưởng phạt trong thế khó xử của những người bị
giam giữ

Người bị giam giữ B

Thú nhận Không thú nhận

Thú nhận -5, -5 -1, -10
Người bị giam giữ A
Không thú nhận -10, -1 -2, -2


Ma trận thưởng phạt trong Bảng 12.4 tóm tắt những kết quả có thể có
(Chú ý rằng các “phần thưởng” đều âm;mục ở góc dưới bên tay phải của ma
trận thưởng phạt ngụ ý hai năm tù cho mỗi người tội phạm). Như bảng này
cho thấy, hai người bị giam giữ này đều đứng trước một thế khó xử. Nếu họ
có thể cùng nhau thỏa thuận không thú nhận (theo một phương cách có thể
ràng buộc được), thì trong trường trường hợp này mỗi người sẽ chỉ đi tù hai
năm. Nhưng họ không thể nói chuyện với nhau, và dù cho họ có thể nói với
nhau đi nữa, liệu họ có thể lừa nhau không? Nếu người bị giam giữ A không
thú nhận, người ấy có nguy cơ bị người đồng lõa trước đây của mình lợi dụng.
Xét cho cùng, bất kể người bị giam giữ A làm đi đi nữa, người bị giam giữ B
sẽ vượt lên trước bằng cách thú nhận. Tương tự, người bị giam giữ A luôn
luôn vượt lên trước bằng cách thú nhận, nên người bị giam giữ iB phải lo rằng

- 10 -




do không thú nhận, mình có thể bị lợi dụng. Cho nên cả hai người bị giam giữ chắc
chắn hẳn sẽ thú nhận, và đi và tù năm năm.
Các hãng độc quyền nhóm thường thấy mình trong một thế khó xử của
những người bị giam giữ. Họ phải quyết định hoặc cạnh tranh với nhau một
cách hung hãn, nhằm chiếm đoạt phần lớn hơn trên thị trường một cách có hại
cho đối thủ cạnh tranh của nó, hoặc “hợp tác” và cạnh tranh với nhau một
cách thụ động hơn, bằng cách cùng tồn tại với các đối thủ cạnh tranh của họ
và làm ăn với phần thị trường mà họ đã nắm được, và thậm chí có thể bàng8
cách thụ động, bằng cách ấn định các giá cả cao và hạn chế với nhau một cách
thụ động bằng cách ấn định các giá cả cao và hạn chế đầu ra, họ sẽ kiếm được
những lợi nhuận cao hơn khi họ cạnhtranh với nhau một cách hung hãn.
Tuy nhiên, cũng như những người bị giam giữ của chúng ta, mỗi hãng
đều có động cơ “phá” các đối thủ cạnh tranh của mình và làm cho giá cả của
mình thấp hơn giá cả của họ, và mỗi hãng đều biết rằng các đối thủ cạnh tranh
của mình cũng có động cơ tương tự. Dù sự hợp tác là đáng mong muốn đi
nữa, mỗi hàng đều lo - một cách rất có lý - rằng nếu họ cạnh tranh một cách
thụ động, các đối thủ cạnh tranh một cách hung hãn, chiếm được đại bộ phận
thị trường. Trong vấn đề định giá được minh họa trong bảng 12.3, cả hai hãng
làm cải việc tốt nhất là “hợp tác” và đòi một giá cao. Nhưng các hãng ấy lại
lâm vào thế khó xử của những người bị giam giữ, trong đó không một hãng
nào trong hai hãng ấy áo thể tin cậy hay trong mong rằng đối thủ cạnh tranh
của mình sẽ ấn định một giá cao.
5. Procter & Gamble trong thế khó xử của những người bị giam giữ
Trong ví dụ 12.2, chúng ta đã khảo sát vấn đề nảy sinh khi P&G
Unilever và Kao Soap đều đang lập kế hoạch để đưa gypsy Moth Tape vào thị
trường Nhật Bản trong cùng một lúc. Cả ba hãng này đều đứng trước những
điều kiện chi phí và nhu cầu như nhau và mỗi hãng phải quyết định về một giá
cả làm cho các đối thủ cạnh tranh của mình phải tính đến,. Trong bảng 12.2
chúng ta đã lập bảng kê những lợi nhuận của P&G tùy theo những giá cảmà
hãng này và các đối thủ cạnh tranh của họ có thể đòi. Chúng ta đã chi rõ ràng
P&G pải trù tính các đối thủ cạnh tranh của họ sẽ đòi giá 1,40 đôla và phải
làm như vậy.


- 11 -




P&G sẽ khấm khá hơn nếu họ và các đối thủ cạnh tranh của họ tất cả
đều đòi một giá là 1,50 đôla. Điều đó được tỏ rõ từ ma trận thưởng phạt trong
bảng 12.5 (ma trận thưởng phạt này đều là một phần của b ảng 12.2 ứng với
giá cả là 1,40 đôla và 1,50 đôla, trong khi các phần thưởng cho các đối thủ
cạnh tranh của P&G củng được lập bảng). Nếu tất cả các hãng đều đòi 1,50
đôla, mỗi hãng ấy sẽ thu được một lợi nhuận là 20.000 đôla một tháng, thay vì
là 20.00 đôla mà họ kiếm được bằng cách đòi giá 1,40 đôla. Ay thế mà tại sao
họ lại không đòi giá 1,50 đôla?
Bảng Ma trận thưởng phạt cho vấn đề định giá

Unilever và Kao

Đòi giá 1,40 đôla Đòi giá 1,50 đôla

Đòi giá 1,40 đôla 12 đôla, 12 đôla 29 đôla, 11 đôla
P&G
Đòi giá 1,50 đôla
3 đôla, 21 đôal 20 đôla, 20 đôla


Bởivì những hãng này nằm trong thế khó xử của những người bị giam
giữ. Bất kể Unilever và Kao làm gì, P&G đều kiếm được nhiều tiền hơn bằng
cách đòi giá 1,40 đôla. Ví dụ, nếu Unilever và Kao đòi giá 1,50 đôla, P&G có
thể kiếm được 29.000 đôla tháng bằng cách đòi 1,40 đôla, so với 20.00 đôla
bằng cách đòi 1,50 đôla. Điều đó cũng đúng với Unilever và Kao. Ví dụ, nếu
P&G đòi giá 1,50 đôla và cả Unilever lần Kao cả hai chỉ đòi giá 1,40 đôla, thì
mỗi hãng này sẽ kiếm được 21.000 đôla. Do đó P&G biết rằng nếu họ ấn định
một giá là 1,50 đôla thì các đối thủ cạnh tranh của họ sẽ có một động cơ mạnh
mẽ muốn đấu giá và đòi giá 1,40 đôla. Trong trường hợp ấy P&G sẽ chỉ có
một phần nhỏ trên thị trường và chỉ kiếm được có 3.000 đôla lợi nhuận mỗi
tháng. Liệu P&G có thay đổi niềm tin và đòi giá 1,50 đôla hay không? Nếu
bạn đứng trước một thế khó xử như vậy bạn sẽ làm gì?






- 12 -




6. Những liên quan của thế khó xử của những người bị giam giữ trong việc
định giá độc quyền nhóm.
Liệu thế khó xử của những người bị giam giữ có bó buộc các hãng độc
quyền nhóm phải cạnh tranh một cách hung hãn và hạ thấp lợi nhuận hay
không? Không nhất thiết. Dù những người bị giam giữ của chúng ta chỉ có
khả năng là thú nhận, đa số các hãng ấn định đầu ra và giá cả của họ và điều
chỉnh thái độ của bản thân họ một cách phù hợp. Điều đó cho phép các hãng
khuyếch trương những tiến đồn là có thể nảy sinh một sự trông cậy vào nhau.
Do đó , đôi khi sự phối hợp và hợp tác độc quyền nhóm có ưu thế thẳng.
Ví dụ, một ngành cong nghiệp gồm ba hay bốn hãng đã cùng tồn tại
trong
một thời gian dài sau nhiều năm. Những nhà quản lý của các hãng đã
phát chán
vì mất tiền do các cuộc chiến tranh giá cả, và một sự thông cảm
ngầm có thể nảy
sinh trong đó tất cả các hãng đều duy trì các giả cao và không hãng nào thực sự mưu
toan chiếm phần thị trường của các đối thủ cạnh tranh của mình, các nhà quản lý
hiểu rằng những cái được do đó mà có sẽ không tồn
tại lâu dài. Họ hiểu rằng các
đối thủ cạnh tranh của họ sẽ trả đũa, và do đó
chiến tranh lại nổ ra và lợi nhuận sẽ
bị hạ thấp về lâu dài.
Kết cục của thế khó xử của những người bị giam giữ xảy ra ở một số
chứ không phải ở tất cả các ngành kinh doanh. Đôi khi các nhà quản lý không
bằng lòng với những lợi nhuận cao vừa phải do có sự cấu kết ngấm ngầm và
muốn cạnh tranh một cách hung hãn để thử và chiếm đoạt đại bộ phận thị
trường. Đôi khi quả thật là quá khó đạt được một sự thông cảm ngấm ngầm.
Ví dụ, các hãng có thể có những chi phí khác nhau và những nhận thức khác
nhau về nhu cầu thị trường, cho nên họ bất đồng với nhau về cái giá cấu kết
“thỏa đáng”. Hãng A có thể nghĩ rằng cái giá “thỏa đáng” ấy là 10 đôla trong
khi Hãng B cho đó là 9 đôla. Khi hãng B ấn định một giá là 9 đôla, hãng A có
thể coi đó là một mưu toan hạ giá và có thể trả đũa bằng cách hạ giá của mình
xuống 8 đôla, thế là một cuộc chiến tranh giá cả bắt đầu.
Vì vậy, trong nhiều ngành kinh doanh sự cấu kết ngầm tồn tại không
lâu dài. Đó t hay là một nền tảng đẻ ra sự hồ nghi, do đó chiến tranh đột khởi
ngay khi một hãng bị các đối thủ cạnh tranh coi là “làm rung chuyển con tàu”
bằng cách thay đổi giá cả của mình hay tiền hàng quảng cáo quá nhiều.


- 13 -





7. Tính cứng nhắc của giá cả.
Vì cấu kết ngầm có xu hương là mong manh, các hãng độc quyền
nhóm thường hay rất mong muốn có một sự ổn định, đặc biệt là trong lĩnh vực
giá cả. Đó là lý do tại sao
tính cứng nhắc của giá cả
lại thường là một đặc
điểm của các ngành công nghiệp độc quyền nhóm. Dù cho các chi phí hay nhu
cầu thay đổi, các hãng vẫn sẵn lòng thay đổi giá cả. Nếu các chi phí giảm
xuống hay nhu cầu của thị trường suy thoái các hãng đều không sẵn lòng hạ
thấp giá cả mà việc gì đó có thể gửi một thông điệp sai lạc tới các đối thủ cạnh
tranh của họ, và do đó dẫn tới một hiệp chiến tranh giá cả. Và nếu như các chi
phí hay nhu cầu gia tăng, các hãng cũng không sẵn lòng nâng cao giá vì họ sợ
rằng các đối thủ cạnh tranh của họ không thể cũng nâng cao giá cả.
Tính cứng nhắc này của giá cả là nền tảng của mô hình “đường cầu
xoăn xuýt” rất quen thuộc về độc quyền nhóm. Theo mô hình này, mỗi hãng
đứng trước một đường cầu xoăn xuýt với giá phổ biến đương thời P*. (Xem
hình 12.7). Ở những giá cao hơn, P* các hãng khác sẽ không đi theo, và do
đó sẽ thua thiệt về doanh sốvà mất nhiều trong phần thị trường của mình. Mặt
khác, hãng cho rằng nếu hạ giá của mình thấp hơn P*, các hãng khác sẽ đi
theo vì họ không muốn mất phần của họ trên thị trường, do đó số bán ra sẽ chỉ
tăng tới phạm vi mà một giá thị trường thấp hơn nâng cao tổng cầu thị trường.
Vì đường cầu của hãng là một đường xoắn nên đường thu nhập lề của
hãng là một đường gián đoạn (phần căn bản của đường thu nhập lề ứng với
phần co giãn ít hơn của đường cầu, như được biểu hiện bởi các phần gạch đứt
đoạn của mỗi được ấy). Do đó, các chi phí của hãng có thể thay đổi mà không
dẫn tới một thay đổi trong giá cả. Như đã biểu hiện trong hình, chi phí lề có
thể tăng, nhưng nó vẫn phải bằng thu nhập lề ở cùng một mức đầu ra như cũ,
vì vậy giá cả vẫn như cũ.
Mô hình đường xoắn xuýt là đơn giản một cách hấp dẫn nhưng nó
không thực sự giải thích được sự định giá độc quyền tay đôi. Nó không hề ch
biết
làm thế nào mà các hãng đi tới được giá P* trước hết và tại sao họ lại
không đi
tơi một giá cả hơn là để giải thích nó. Lời giải thích tính cứng nhắc của giá cả xuất
phát từ thế khó xử của những người bị giam giữ và từ ý các hãng muốn tránh một
cuộc cạnh tranh giá cả tàn hại lẫn nhau.


- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét