mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh y tế và giáo dục. Ngoài ra còn có những ý kiến
cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm có quyền đợc tham gia vào các quyết định
của cộng đồng.
- Nghèo tơng đối: là tình trạng của một bộ phận dân c có mức
sống trung bình của cộng đồng. Việc đánh giá nghèo tơng đối chủ yếu dựa vào
việc so sánh giữa thu nhập quốc dân tính bình quân trên đầu ngời.
2. Chỉ tiêu đánh giá nghèo đói của thế giới:
Để đánh giá sự nghèo đói của các nớc trên thế giới thờng sử dụng chỉ
tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân trên đầu ngời (GDP). Nhng do hiện
nay giữa các nớc với nhau có sự phân cách về giàu nghèo và nhất là đối với các
nớc đang phát triển thì sự phân cách về giàu nghèo càng rõ rệt. Nh vậy, ở những
nớc này những hộ giàu chiếm phần lớn của cải của quốc dân. Do vậy mà chỉ
đánh giá nghèo đói qua chỉ tiêu GDP thì cha đủ và từ đó ODC (Tổ chức hội
đồng phát triển hải ngoại) đã đa ra chỉ số PQLI (chỉ số chất lợng cuộc sống) để
đánh giá, bao gồm 3 chỉ tiêu cơ bản sau:
- Tuổi thọ.
- Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh.
- Tỷ lệ xóa mù chữ.
Mấy năm gần đây UNDP đa thêm chỉ số phát triển con ngời HDI, bao
gồm 3 chỉ tiêu sau:
- Tuổi thọ.
- Tình trạng biết chữ của ngời lớn.
- Thu nhập
Để đánh giá các nớc giàu và nớc nghèo của các quốc gia thì ngời ta vẫn
căn cứ vào GDP là chính, ngoài ra ngời ta còn bổ sung cho việc nhìn nhận các
nớc giàu, nghèo chính xác hơn và khách quan hơn.
Về hộ nghèo: giới hạn về nghèo đói đợc biểu hiện dới dạng thu nhập
quốc dân bình quân tính theo đầu ngời nằm dới giới hạn nghèo thì hộ đó đợc coi
là hộ nghèo
3. Mức nghèo đói:
Để đánh giá và xác định đợc hộ nghèo đói thờng dùng 2 cách sau:
Cách 1: theo quan niệm chung của nhiều nớc thì hộ nghèo là những hộ
có thu nhập thấp dới 1/3 mức thu nhập trung bình của toàn xã hội. Nh vậy thì
hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 1,12 tỷ ngời (chiếm khoảng 20%) đang
sống trong tình trạng nghèo khổ, tức sống dới mức 420 USD/năm hoặc
- 5 -
35USD/tháng mà ngân hàng thế giới đã kiểm định ở từng nớc khác nhau thì có
quy định khác nhau.
- Đối với các nớc đang phát triển: xét trên nớc Mỹ năm 1992 thì
Mỹ đã lấy chuẩn mực 1 ngời trong hộ có thu nhập bình quân dới 71 USD/ngời
là nghèo khổ hay 285 USD/ năm.
- Đối với các nớc đang phát triển: ở mỗi nớc có chuẩn mực khác
nhau, nh Pakistan, Indonesia lấy 6USD/tháng/ngời, ở Phillipin lấy
7USD/tháng/ngời làm chuẩn mực nghèo đói
Cách 2: dùng chỉ tiêu Kalory/ngời/ngày, Ví dụ ở Băng la đét quy định
bình quân 1 ngời trong ngày dới 1650 kalory/ngời/ngày là hộ nghèo.
III. Khái niệm và chỉ tiêu đánh giá nghèo đói của Việt
Nam:
1. Khái niệm hộ đói nghèo ở Việt Nam:
ở nớc ta cũng có khái niệm khác nhau xung quanh việc đa ra khái niệm
về đói nghèo, hỉ tiêu và chuẩn mực đói nghèo. Sau đây em xin đa ra 2 khái niệm
về đói nghèo và chỉ tiêu và chuẩn mực đợc nhiều ngời chú ý nhất.
ở nớc ta, xét về đói nghèo khi nghiên cứu ngời ta thờng tách ra làm 2
khái niệm riêng nh:
1.1. Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân c có khả năng thoả mãn một
phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức
sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phơng diện.
Để rõ hơn nghèo lại đợc chia ra làm 2 loại:
- Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân c không có khả
năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Mức nhu cầu tối
thiểu là những đảm bảo ở mức tối thiểu và nó gồm 8 yếu tố và đợc chia ra làm:
nhu cầu thiết yếu: ăn ở, mặc và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày: văn hóa giáo dục,
y tế, đi lại, giao tiếp. Ngày nay ngời ta còn có ý kiến muốn đa yếu tố nhu cầu về
đóng góp ý kiến của mình vào lĩnh vực xã hội, kinh tế, xã hội.
- Nghèo tơng đối: là tình trạng một bộ phận dân c có mức sống
dới mức sống trung bình của cộng đồng tại địa phơng đang xét, Nh vậy nó chỉ
mang tính chất tơng đối, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội vị thế của
mỗi quốc gia của từng địa phơng của từng thời kỳ.
1.2. Đói: là tình trạng một bộ phận dân c nghèo có mức sống dới mức
sống tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo về vật chất để duy trì cuộc sống.
- 6 -
Nh vậy, một hộ dân c dợc đánh giá là đói khi họ không đủ ăn và cụ thể hơn là
thiếu ăn đứt bữa từ 1 đến 2 tháng trong một năm và thờng vay nợ của cộng
đồng, nợ đóng thuế không có khả năng chi trả.
2. Chỉ tiêu đánh giá hộ đói nghèo của Việt Nam:
Nghèo đói là một khái niệm có tính không gian và thời gian. Không
gian là để chỉ quốc gia hay từng địa phơng, thời gian để chỉ từng giai đoạn, từng
năm. Để xét về chỉ tiêu đánh giá về nghèo đói chúng ta chia làm 2 chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu chính: thu nhập quốc dân một ngời một tháng hoặc
một ngời một năm, và nó đợc đo bằng chỉ tiêu giá trị, hay hiện vật quy đổi, và ở
nớc ta thì thờng lấy lơng thực (gạo để đánh giá). Còn xét về thu nhập thì thu
nhập đợc hiểu là thu nhập thuần tuý và đây chỉ là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh
giá mức độ nghèo đói ở nớc ta hiện nay.
- Chỉ tiêu phụ: là dinh dỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và các điều kiện
học tập: y tế, đi lại, giao tiếp
Để đánh giá cho đơn giản ngời ta dùng chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình
quân đầu ngời/tháng hoặc năm, thờng ngời ta dùng cách biểu hiện là hình thức
hiện vật quy đổi. Vì khi sử dụng hình thức này chũng ta đã tránh đợc sự ảnh h-
ởng của giá cả và từ đó có thể so sánh đợc mức thu nhập của ngời dân theo
không gian và thời gian một cách dễ dàng và thuận tiện. Đối với các hộ nghèo
nói chung và ngời nông dân nói riêng thì chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân
trên đầu ngời bằng cách biểu hiện qua chỉ tiêu giá trị nh vậy chúng ta có thể
đánh giá đợc mức sống của ngời dân thời gian đó.
3. Chuẩn mực xác định hộ đói nghèo của Việt Nam:
Dựa theo chuẩn mực nghèo đói năm 1997:
Hộ đói: là hộ có thu nhập dới 13 kg gạo/ngời/tháng, tơng ứng với 45,000
đồng (áp dụng cho mọi vùng).
Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu ngời/tháng:
- Dới 15 kg gạo tơng ứng với 55.000 đồng đối với vùng nông
thôn và miền núi, hải đảo.
- Dới 20 kg gạo tơng đơng 70,000 đồng đối với khu vực nông
thôn đồng bằng và trung du.
- Dới 25 kg gạo tơng ứng với 90,000 đồng đối với khu vực thành
thị.
- 7 -
Các chuẩn mực trên đây chỉ là chuẩn mực tối thiểu. Các địa phơng dựa
vào phơng pháp tiếp cận đó và điều kiện thực tế từ đó có thể đa ra chuẩn mực
cao hơn và đa ra 3 điều kiện sau:
- Thu nhập bình quân đầu ngời của tỉnh phải cao hơn mức thu
nhập bình quân đầu ngời của một quốc gia (3 triệu).
- Tỷ lệ nghèo đói của tỉnh phải thấp hơn tỷ lệ nghèo đói chung
của quốc gia (19,23%).
- Có khả năng và nguồn lực để thực hiện các chính sách xóa đói
giảm nghèo.
4. Khái niệm vùng nghèo đói, chỉ tiêu và chuẩn mức đánh giá:
4.1. Vùng nghèo: là một vùng liên tục gồm nhiều làng, xã, huyện
hoặc chỉ một làng, một xã, một huyện mà tại đó chứa đựng nhiều yếu tố khó
khăn bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng, nh đất đai cằn cỗi, thời tiết khí
hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, trình độ dân trí thấp,
sản xuất tự cung tự cấp và có mức sống dân c trong vùng thấp so với mức sống
chung của cả nớc xét theo cùng một địa điểm.
4.2. Chỉ tiêu đánh giá vùng nghèo:
- Chỉ tiêu chính: thờng xét trên 2 chỉ tiêu sau:
+ Tỷ lệ hộ nghèo tuyệt đối trên tổng số hộ của vùng.
+ Thu nhập bình quân một thành viên trong một hộ gia đình của vùng.
- Chỉ tiêu phụ:
+ Bình quân lơng thực tính trên 1 nhân khẩu nông nghiệp.
+Số km đờng giao thông trên một nhân khẩu nông nghiệp.
+ Mức trung bình về điện năng, tiền vốn trên 1 lao động.
+ Tổng mức hàng hóa lu thông (xuất nhập) trong vùng tính theo đầu ng-
ời.
+Tỷ lệ ngời biết chữ, tỷ lệ trẻ em đến trờng.
+ Tỷ lệ y bác sỹ giờng bệnh trên 1.000 dân.
+ Tuổi thọ bình quân.
4.3. Chuẩn mực vùng nghèo:
- Chuẩn mực chính:
+ Tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên trong 1 vùng.
+ Bình quân thu nhập của một thành viên trong hộ gia đình của cả vùng
thấp hơn mức thu nhập trung bình của một thành viên của một hộ gia đình trong
cả nớc.
- 8 -
- Chuẩn mực phụ:
+ Bình quân lơng thực trên đầu ngời dân nông nghiệp thấp hơn 240 kg
gạo/ năm (tính toán dựa trên số liệu năm 1997).
+ Số km đờng giao thông / 1 km
2
nhỏ hơn 1/3 mức trung bình của cả n-
ớc.
+ Mức trung bình điện năng, tiền vốn trên một lao động nhỏ hơn 1/3
mức trung bình của cả nớc.
+ Tỷ lệ mù chữ cao hơn 1,5 lần mức trung bình của cả nớc.
+Tỷ lệ y, bác sĩ giờng bệnh trên 1.000 dân thấp hơn 1/3 trung bình cả
nớc.
Trong cuộc họp ngày 2/11/2000 Bộ LĐTB-XH đã ra quyết định
1143/QĐ- LĐTBXH về điều chỉnh chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005. Theo
quyết định này thì chuẩn mực mới cao hơn gấp khoảng 1,5 lần chuẩn mực cũ,
chuẩn mực đợc quy định mức theo từng mức sau:
- Dới 80.000 đ/ngời/tháng hay tơng đơng 960.000đ/ngời/năm
đối với khu vực nông thôn miền núi xa xôi hải đảo.
- Dới 100.000 đ/ngời/tháng hay 1.200.000đ/ngời/năm đối với
khu vực nông thôn đồng bằng trung du.
- Dới 150.000 đ/ngời/tháng hay 1.800.000đ/ngời/năm đối với
khu vực thành thị.
Nh vậy, dựa theo mức chuẩn này thì ớc tính đến năm 2001 nớc ta sẽ có
khoảng 17% số hộ sống dới mức nghèo khổ. Từ đó nó đặt ra những thách thức
mới và phơng hớng mới.
Chơng II: Thực trạng nghèo đói và xóa đói giảm
nghèo ở khu vực nông thôn nớc ta
I. Thực trạng nghèo đói ở nớc ta hiện nay:
1. Việt Nam đợc xếp vào các nớc nghèo của thế giới
Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao. Theo kết quả điều tra
mức sống dân c ( theo chuẩn nghèo chung của quốc tế ), tỷ lệ đói nghèo năm
1998 là trên 37% và ớc tính năm 2000 tỷ lệ này vào khoảng 32% (giảm khoảng
- 9 -
1/2 tỷ lệ hộ nghèo so với năm 1990). Nếu tính theo chuẩn đói nghèo về lơng
thực, thực phẩm năm 1998 là 15% và ớc tính năm 2000 là 13%.
Theo chuẩn nghèo của chơng trình xoá đói giảm nghèo quốc gia mới,
đầu năm 2000 có khoảng 2.8 triệu hộ nghèo, chiếm 17.2% tổng số hộ trong cả
nớc.
2. Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh
Mặc dù Việt Nam đã đạt đợc những thành công lớn trong việc giảm tỷ
lệ nghèo, tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng những thành tựu này vẫn còn rất
mong manh.
Thu nhập của một bộ phận lớn dân c vẫn nằm giáp danh mức nghèo, do
vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ng-
ỡng nghèo và làm tăng tỷ nghèo
Phần lớn thu nhập của ngời nghèo là từ nông nghiệp. Với điều kiện
nguồn lực rất hạn chế ( đất đai, lao động, vốn ), thu nhập của những ngời nghèo
rất bấp bênh và dễ bị tổn thơng trớc những đột biến của những gia đình và cộng
đồng. Nhiều hộ gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngỡng nghèo, nhng vẫn giáp
danh với ngỡng nghèo đói, do vậy khi có những giao động về có thể thu nhập
cũng có thể khiến họ trợt xuống ngỡng nghèo.Tính mùa vụ trong sản xuất nông
nghiệp cũng tạo lên khó khăn cho ngời nghèo.
Mức độ caỉ thiện thu nhập của ngời nghèo trậm hơn nhiều so với mức
sống chung và đặc biệt so với nhóm có mức sống cao. Sự gia tăng chênh lệch về
thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất ( từ 7.3 lần năm 1993
lên 8.9 năm 1998 ) cho thấy, tình trạng tụt hậu của ngời nghèo (trong mối tơng
quan với ngời giàu). Mặc dù chỉ số nghèo đói có cải thiện, nhng mức cải thiện ở
nhóm ngời nghèo chậm hơn so với mức chung và đặc biệt so với nhóm ngời có
mức sống cao. Hệ số chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn còn rất
cao.
Những tỉnh nghèo nhất hiện nay cũng là tỉnh xếp thứ hạng thấp trong cả
nớc về chỉ số phát triển con ngời và phát triển giới.
3. Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn
Đa số ngời nghèo sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất
nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nhiệt nh ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc
ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của thời
tiết ( bão,lụt, hạn hán) khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của ngời
dân càng thêm khó khăn. Đặc biệt, sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở của các
- 10 -
vùng nghèo đã đã làm cho các vùng càng bị tách biệt với các vùng khác. Năm
2000, khoảng 20 30% trong tổng số 1870 xã đặc biệt khó khăn cha có đờng
dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã cha đủ phòng học; 5% số xã cha có trạm
y tế; 55% số xã cha có nớc sạch ; 40% số xã cha có đờng điện đến trung tâm
xã ; 50% cha đủ công trình thuỷ lợi nhỏ; 20% số xã cha có chợ xã và cụm xã.
Bên cạnh đó, do điều kiện tự nhiên không thuận lợi số ngời trong diện
cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao, khoảng1 1.5 triệu ngời, hàng số hộ tái
đói nghèo trong tổng số vừa thoát đói nghèo vẫn con lớn.
4. Đói nghèo tập trung trong khu vực nông thôn
Nghèo đói là một hiện tợng phổ biến ở nông thôn với trên 90% số ngời
nghèo sinh sống ở nông thôn. Năm 1999, tỷ lệ nghèo đói về lơng thực, thực
phẩm của thành thị 4.6%, trong khi đó của nông thôn là 15,9%. Trên 80% số
ngời nghèo là nông dân trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận các nguồn
lực trong sản xuất ( vốn, kỹ thuật, công nghệ ) thị tròng tiêu thụ sản phẩm gặp
nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lợng sản phảm kém, chủng loại sản
phẩm nghèo nàn. Những ngời nông dân nghèo thờng không có điều kiện tiếp
cận với hệ thống thông tin, khó có khả năng chuyển đổi việc làm sang các
ngành phi nông nghiệp. Phụ nữ nông dân ở cá vùng sâu, vùng xa, nhất là nữ chủ
hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi là những nhóm nghèo dễ bị tổn thơng nhất. Phụ nữ
nghèo lao động nhiều thời gian hơn, nhng thu nhập ít hơn, họ ít có quyền quyết
định trong gia đình và cộng đồng. Do đó có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và
lợi ích do chính sách mang lại.
Bảng: Ước tính quy mô và tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn nghèo mới
giữa thành thị và nông thôn năm 2000
Số hộ
nghèo
(nghìn hộ )
So với số
hộ trong
vùng (%)
So với tổng
số hộ nghèo
cả nớc (%)
Tổng số
Nông thôn:
Trong đó: - Nông thôn miền núi
- Nông thôn đồng bằng
Thành thị
2.800
2.535
785
1.750
265
17,2
19,7
1,3
16,9
7,8
100
90,5
28,0
62,5
9,5
- 11 -
Nguồn: chơng trình quốc gia xoá đói giảm nghèo
5. Nghèo đói trong khu vực thành thị
Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung
bình cao hơn so với mức chung của nớc, nhng mức độ cải thiện điều kiện sống
không đồng đều. Đa số ngời nghèo đô thị làm việc trong khu vực kinh tế phi
chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh.
Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở hữu trong khu Nhà nớc dẫn
đến sự dôi d lao động, mất việc làm của một bộ phận của ngời lao động ở khu
vực này, làm cho điều kiện sống của họ càng thêm khó khăn hơn. Số lao động
này phải chuyển sang làm công việc khác với mức lơng thấp hơn, hoặc không
tìm đợc việc làm và trở thành thất nghiệp
Ngời nghèo đô thị phần lớn sống ở những nơi có cơ sở hạ tầng thấp
kém, khó có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản ( nớc sạch, vệ sinh môi
trờng, thác nớc, ánh sáng và thu gom rác thải)
Ngời nghèo dễ bị tổn thơng do sống phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu
nhập bằng tiền. Họ thờng không có hoặc ít có khả năng tiết kiệm và gặp nhiều
khó khăn trong việc vay vốn tạo việc làm.
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá làm tăng số lợng ngời di c tự
do từ các vùng nông thôn đến các đô thị , chủ yếu là trẻ và ngời trong độ tuổi
lao động. Hiện tại cha có số liệu thống kê về số lợng ngời di c tự do này. Những
ngời này thờng gặp rất nhiêu khó khăn trong việc đăng ký hộ khẩu hoặc tạm
chú lâu dài, do đó họ có thể tìm kiếm đợc công ăn việc làm và thu nhập ổn định.
Họ có ít cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội và phải chi trả các dịch vụ cơ bản nh
y tế, giáo dục ở mức cao hơn so với ngời dân đã có hộ khẩu.
Ngoài ra, đói nghèo còn chiếm tỷ lệ cao trong các nhóm đối tợng xã hội
khác nh những ngời không nghề nghiệp, ngời thất nghiệp, ngời lang thang và
ngời bị ảnh hởng bởi các tệ nạn xã hội ( mãi dâm, nghiện hút, cờ bạc)
6. Tỷ lệ nghèo đói khá cao trong các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao
Đói nghèo mang tính chất vùng rất rõ rệt. Các vùng núi cao, vùng sâu,
vùng xa, vùng dân tộc ít ngời sinh sống, có tỷ lệ đói nghèo khá cao. Có tới 64%
số ngời nghèo tập trung tại các vùng miền núi phí Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây
Nguyên và Duyên Hải miềnTrung. Đây là những vùng có điều kiện sống khó
khăn, địa lý cách biệt, khả năng tiếp cận với các điều kiên sản xuất, dịch vụ còn
- 12 -
nhiều hạn chế, hạ tầng cơ sở rất kém phát triển, điều kiện thiên nhiên rất khắc
nhiệt và thiên tai xảy ra thờng xuyên.
Bảng: Ước tính quy mô và tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn nghèo mới (2001-
2005) của chơng trình xoá đói giảm nghèo theo vùng đầu năm 2001
Số hộ
nghèo
(nghìn hộ )
So với tổng
số hộ trong
vùng (%)
So với tổng
số hộ nghèo
cả nớc (%)
Tổng số 2.800 17,2 100
Vùng Tây Bắc 146 33,9 5,2
Vùng Đông Bắc 511 22,3 18,2
Vùng Đồng bằng sông Hồng 337 9,8 12,0
Vùng Bắc Trung Bộ 554 25,6 19,8
Vùng duyên hải miền Trung 389 22,4 13,9
Vùng Tây Nguyên 190 24,9 6,8
Vùng Đông Nam Bộ 183 8,9 6,6
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 490 14,4 17,5
Nguồn: chơng trình quốc gia xoá đói giảm nghèo
7. Tỷ lệ hộ nghèo đói đặc biệt cao trong các nhóm dân tộc ít ngời
Trong thời gian qua, Chính phủ đã đầu t và hỗ trợ tích cực, nhng cuộc
sống của cộng đồng dân tộc ít ngời vẫn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Mặc dù
dân số dân tộc ít ngời chỉ chiếm khoảng 14% tổng số dân c, song lại chiếm
khoảng 29% trong tổng số ngời nghèo
Đa số ngời dân tộc ít ngời sính sống trong các vùng sâu, vùng xa bị cô
lập về mặt địa lý, văn hoá, thiếu điều kiện phát triển về hạ tầng cơ sở và các
dịch vụ xã hội cơ bản.
II. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến đói nghèo hiện nay:
Nghèo khổ hay nghèo đó là một hiện tợng kinh tế xã hội, vừa là vấn đề
lịch sử để lại vừa là vấn đề của phát triển, thờng có trong quá trình phát triển mà
các quốc gia nào cũng vấp phải. Nó tác động trực tiếp đến cuộc sống của con
ngời, từ mỗi cá nhân, gia đình đến cộng đòng. Mỗ quốc gia ở các mức độ khác
nhau đều phải quan tâm, giải quyết vấn đề đói nghèo để vợt qua những trở ngại
cho sự phát triển phồn thịnh về kinh tế và từng bớc đạt đến công bằng xã hội.
Để chống lại đói nghèo, giảm bớt sự nghèo khoỏ thì đòi hỏi chúng ta phải
xác định đúng những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói.
- 13 -
Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc xác định nguyên nhân dẫn đến
nghèo đói. Trên thực tế. Thì không có một một nguyên nhân biệt lập riêng rẽ
nào dẫn đến nghèo đói, nhất là nghèo đói ở diện rộng, có tính chất xã hội. Nó
không phải là những nguyên nhân thuần tuý về kinh tế hoặc do thiên tai dịch
hoạ. ở đây tình trạng nghèo đói có sự đan xen thâm nhập vào nhau kể cả cái tất
yếu lẫn ngẫu nhiên, cả cái cơ bản và tức thời, cả nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên
nhân trực tiếp, cả khách quan lẫn chủ quan, tự nhiên lãn kinh tế xã hội.
Vì vậy để giải thích hiện tợng này theo hệ thống các nguyên nhân, nhận
diện các nhóm nguyên nhân có tính phổ biến và đặc thù khác nhau. Có ý kiến
đa ra 5 nhóm nguyên nhân sau:
1. Những nguyên nhân chủ quan.
Đây là những nguyên nhân do bản thân ngời lao động, phổ biến là:
-Không có kinh nghiệm làm ăn, không biết cách sản xuất kinh doanh.
-Thiếu hoặc không có vốn.
-Đông con ít lao động.
-Neo đơn, thiếu lao động.
-Rủi ro, đau ốm.
-ăn tiêu lãng phí lại lời biếng
2. Những nguyên nhân khách quan.
Những nguyên nhân khách quan lại đợc chia ra thành 2 nhóm nguyên
nhân về mặt tự nhiên và về mặt xã hội:
2.1 Những nguyên nhân khach quan ve điều kiện tự nhiên nh:
-Đất đai canh tác ít.
-Đất cằn cỗi, ít màu mỡ, canh tác khó, năng suất cây trồng, vật nuôi đều
thấp.
-Thời tiết, khí hậu không thuận lợi cho sản xuất.
-Xa xôi, hẻo lánh.
-Không có đờng giao thông
2.2 Những nguyên nhân khách quan về mặt xã hội.
Nhóm yếu tố này ảnh hởng mạnh tới tình trạng nghèo đói của nhân dân
trong cả nớc và ở từng địa phơng. Chẳng hạn nh:
-Sự quan tâm và các chính sách của chính quyền trung ơng và địa phơng
không đầy đủ, không thích hợp.
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét