Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
5
pháp cụ thể cho việc phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian
sắp tới.
Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp chung được thực hiện xuyên suốt luận văn là xem xét và
giải quyết các vấn đề có liên quan trong mối liên hệ phổ biến, trong trạng thái
vận động và phát triển. Kết quả hoạt động cũng như những mặt còn hạn chế của
thị trường chứng khoán Việt Nam được phân tích đánh giá có gắn với việc
nghiên cứu hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của nền kinh tế nước ta cũng như xu
thế phát triển chung của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới
mang tính thực tế khách quan.
Ngoài ra, một số phương pháp khác cũng được sử dụng trong luận văn
như phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và phương pháp nghiên cứu dữ liệu
sơ cấp.
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp được áp dụng để nghiên cứu cơ
sở lý luận về TTCK thông qua việc lựa chọn hệ thống hóa các vấn đề có mang
tính tất yếu cho sự hình thành TTCK tại Việt Nam. Dữ liệu thứ cấp còn dùng
làm căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động của các chủ thể trong thị trường chứng
khoán Việt Nam từ đó đưa ra hệ thống giải pháp ở phần sau.
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp nhằm thu thập và phân tích thông
tin liên quan đến nhận thức và nhu cầu về triển vọng cũng như định hướng các
giải pháp cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Để thu thập dữ liệu sơ cấp thực
hiện cho việc nghiên cứu đề tài này, một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi đã
được thực hiện với trên 100 mẫu điều tra từ các sinh viên, học viên các lớp học
ngoài giờ tại trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Quá trình nghiên cứu luận văn, phương pháp phân tích tổng hợp cũng
được tích cực thực hiện dựa trên việc nghiên cứu các đề xuất, giải pháp đã được
các nhà chuyên môn đưa ra trước đây từ đó lựa chọn các giải pháp cần phát huy
mở rộng cũng như đưa ra các giải pháp cụ thể, sâu hơn cho từng khía cạnh cần
phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
6
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu :
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa cả về mặt khoa học cũng như thực
tiễn.
Về mặt khoa học, đề tài đã khẳng định được vai trò của TTCK trong nền
tài chính quốc gia, sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
là yêu cầu tất yếu trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh và trong
bối cảnh hội nhập.
Về mặt thực tiễn, các kết quả đạt được cũng như các mặt còn tồn tại của
thị trường chứng khoán Việt Nam nêu lên trong luận văn phản ánh đúng thực tế
đang diễn ra. Các giải pháp đưa ra cũng dựa trên chiến lược phát triển thị trường
chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 đã được Chính phủ phê duyệt vì vậy có
thể nghiên cứu phát triển và áp dụng cho từng chủ thể trong thị trường nhằm xây
dựng một định chế TTCK cho Việt Nam hoàn thiện và phù hợp với xu thế phát
triển.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung của luận văn bao gồm ba chương :
Chương I : Tổng quan về thị trường chứng khoán
Chương II : Thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam
trong thời gian qua
Chương III : Giải pháp hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán
Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
7
C
C
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
G
1
1
:
:
T
T
Ổ
Ổ
N
N
G
G
Q
Q
U
U
A
A
N
N
V
V
Ề
Ề
T
T
H
H
Ị
Ị
T
T
R
R
Ư
Ư
Ờ
Ờ
N
N
G
G
C
C
H
H
Ứ
Ứ
N
N
G
G
K
K
H
H
O
O
Á
Á
N
N
1.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Tính tất yếu và sự ra đời của thị trường chứng khoán trên thế
giới
1.1.1.1 Khái niệm
Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và
lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ
chức phát hành.
Chứng khoán chủ yếu bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán
phái sinh (hợp đồng quyền chọn, hợp đồng giao sau, quyền ưu tiên mua cổ phần,
chứng quyền, …)
Thị trường chứng khoán (TTCK- Securities market) là thuật ngữ dùng để
chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn. Thị trường
chứng khoán còn được định nghĩa là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn
vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế. Do đó TTCK có tác động rất lớn đến môi
trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung.
1.1.1.2 Tính tất yếu và sự ra đời của TTCK trên thế giới
Trong xã hội của nền kinh tế hàng hóa, luôn tồn tại hai nhóm đối tượng
đối lập nhau: nhóm người có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và nhóm người có nhu
cầu sử dụng vốn. Trong tình huống này; những người có cơ hội đầu tư sinh lời
thì thiếu vốn, trong khi đó những người có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu
tư hoặc không biết đầu tư vào đâu. Từ đó, nền kinh tế xuất hiện nhu cầu giao lưu
vốn.
Quá trình giao lưu vốn này không phải lúc nào, nơi nào cũng được
khuyến khích phát triển. Chỉ trong nền kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế
8
được tự do kinh doanh, tự do hoạt động trong khuôn khổ luật pháp cho phép thì
quá trình giao lưu vốn mới hình thành và phát triển.
TTCK hình thành đầu tiên ở các nước phương Tây cách đây hàng trăm
năm. Vào khoảng thế kỷ 15 ở các thành phố trung tâm thương mại của các nước
phương Tây, trong các chợ phiên hay hội chợ, các thương gia thường tụ tập tại
các quán cà phê để thương lượng mua bán, trao đổi hàng hóa. Đặc điểm của hoạt
động này là các thương gia chỉ trao đổi bằng lời nói với nhau về các hợp đồng
mua bán mà không có sự xuất hiện của bất cứ giấy tờ, hàng hóa nào.
Đến cuối thế kỷ 15, “khu chợ riêng” đã trở thành thị trường hoạt động
thường xuyên với những quy ước xác định cho các cuộc thương lượng. Những
quy ước này dần trở thành các quy tắc có tính chất bắt buộc đối với các thành
viên tham gia.
Buổi họp đầu tiên diễn ra năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber
tại thành phố Bruges - Bỉ. Trước lữ quán có một bảng hiệu vẽ hình ba túi da và
chữ Bourse. Ba túi da tượng trưng cho ba nội dung của thị trường : thị trường
hàng hóa, thị trường ngoại tệ và TTCK động sản, còn chữ Bourse có nghĩa là
“Mậu dịch thị trường” hay còn gọi là nơi mua bán chứng khoán.
Tuy nhiên, vào năm 1531 thị trường này đã được dời tới thành phố cảng
Anvers - Bỉ, và từ đó thị trường này phát triển nhanh chóng. Một thị trường như
vậy cũng được thành lập ở London - Anh vào thế kỷ 18 và sau đó là một loạt thị
trường tại Pháp, Đức, Ý và một số nước Bắc Âu và Mỹ cũng được thành lập.
Sau một thời gian hoạt động, các thị trường trên đã cho th
ấy
khả năng
không đáp ứng được yêu cầu của cả ba giao dịch khác nhau. Vì thế, thị truờng
hàng hóa được tách ra thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách
ra và phát triển thành thị trường hối đoái, còn TTCK động sản trở thành thị
trường chứng khoán. Như vậy, TTCK được hình thành cùng với thị trường hàng
hóa và thị trường hối đoái.
9
1.1.2 Các chủ thể tham gia thị trường
1.1.2.1 Chủ thể phát hành – Issuer
Chủ thể phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua
TTCK, là người cung cấp các chứng khoán – hàng hóa cho thị trường chứng
khoán. Chính phủ và chính quyền địa phương phát hành trái phiếu Chính phủ,
trái phiếu địa phương, trái phiếu công trình, tín phiếu kho bạc. Công ty là chủ thể
phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty.
TTCK Việt Nam bắt đầu hoạt động với hai cổ phiếu niêm yết của hai
công ty cổ phần hóa là REE và SAM. Cho đến nay, ngoại trừ một số ít cổ phiếu
niêm yết có nguồn gốc từ các công ty cổ phần như Công ty Cổ phần Kinh đô
(KDC), Công ty Kinh đô miền Bắc (NKD), công ty có vốn đầu tư nước ngoài
(FDI) chuyển đổi thành công ty cổ phần như Công ty Dây và Cáp điện Taya –
Đài Loan (TYA), còn lại hầu hết là hơn 90% số cổ phiếu niêm yết trên thị trường
có nguồn gốc từ các công ty nhà nước đã được cổ phần hóa.
Ngoài ra, trên thị trường chứng khoán tập trung, số lượng cổ phiếu tham
gia giao dịch cũng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, mà phần lớn là trái phiếu Chính phủ
và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành.
1.1.2.2 Nhà đầu tư – Investor
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn tạm thời nhàn rỗi, tham gia
mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, lợi nhuận luôn
đi kèm và tương quan với rủi ro.
Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán
chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp
chính trên TTCK là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty
đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ hỗ tương, quỹ lương hưu, và các quỹ bảo hiểm xã
hội khác.
10
1.1.2.3 Công ty chứng khoán – Security Company
Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều nghiệp vụ chính như bảo lãnh phát hành,
tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán.
1.1.2.4 Ngân hàng thương mại – Commercial Bank
Ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có để tăng và đa dạng hóa
lợi nhuận thông qua việc đầu tư vào các chứng khoán. Tuy nhiên, ngân hàng
thương mại chỉ có thể đầu tư vào chứng khoán trong những giới hạn nhất định để
bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán.
1.1.2.5 Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động của TTCK
Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK có thể có những tên gọi khác nhau
tùy thuộc từng nước và nó được thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước đối với TTCK. Cơ quan này được hình thành để bảo vệ lợi ích cho các nhà
đầu tư và đảm bảo sự hoạt động của thị trường được thông suốt, ổn định và an
toàn.
Từ những kinh nghiệm của các nước, Việt Nam đã thành lập Ủy ban
chứng khoán Nhà nước - cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị
trường chứng khoán trước khi ra đời TTCK Việt Nam. Ủy ban chứng khoán Nhà
nước đư
ợc
thành lập theo Nghị định số 75/NĐ-CP ban hành ngày 28/11/1996.
1.1.2.6 Các tổ chức có liên quan
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của các
công ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng
khoán, được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên và các nhà
đầu tư trên thị trường.
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán là tổ chức nhận lưu giữ
các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao dịch
chứng khoán. Các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán đáp ứng đủ
các điều kiện của UBCKNN sẽ thực hiện dịch vụ lưu ký và thanh toán bù trừ
chứng khoán.
11
Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ
đánh giá năng lực thanh toán và tiềm lực tài chính của các tổ chức phát hành.
1.1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán
TTCK luôn đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc
gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường.
1.1.3.1 Thị trường chứng khoán khuyến khích dân chúng tiết kiệm
và thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư
Người dân Việt Nam từ xưa tới nay chỉ mới biết khai thác lợi ích nguồn
vốn tiết kiệm và để dành của mình bằng phương cách duy nhất là gửi vào ngân
hàng. Trong những năm gần đây, chúng ta đã có thêm hình thức mới đó là mua
cổ phiếu, trái phiếu.
Từ khi TTCK ra đời, công chúng đã có thêm công cụ đầu tư mới đa dạng,
phong phú phù hợp với từng loại đối tượng có suy nghĩ và tâm lý riêng. Những
người tiết kiệm có thể tự mình hoặc thông qua những nhà tài chính chuyên môn
lựa chọn những loại cổ phiếu, trái phiếu của các công ty khác nhau từ nhiều
ngành kinh tế, nhiều lĩnh vực.
Ngoài việc nhận được cổ tức (phần chia lời) hàng năm từ việc mua cổ
phiếu, nhà đầu tư còn thu được lợi ích lớn hơn đó là sự gia tăng giá trị công ty,
giá trị cổ phần qua việc tích lũy và giá chứng khoán trên thị trường cao hơn
mệnh giá do kết quả hoạt động và uy tín của công ty phát hành. Ngoài ra, nhà
đầu tư còn được thực hiện quyền kiểm soát đối với công ty mà mình góp vốn.
Đây chính là những nhân tố kích thích ý thức tiết kiệm của dân chúng.
Trong xã hội, luôn tồn tại những loại quỹ có vốn tạm thời nhàn rỗi như
quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi tập thể, và các loại quỹ tương tự khác. Một phần vốn
của các loại quỹ này được gửi vào ngân hàng để thực hiện việc thanh toán. Số
còn lại quan trọng hơn, những người quản trị quỹ phải luôn tìm mọi cách để số
vốn này vừa được sinh lời nhiều nhất, vừa an toàn, …Và họ đã có thể thực hiện
điều này khi tham gia đầu tư trên TTCK.
12
Thực tế cho thấy, một doanh nghiệp dù là một tỷ phú cũng không thể có
được một số lượng vốn lớn hơn tổng số tiết kiệm của dân chúng. Mỗi người
trong xã hội chỉ có một số tiền nhỏ, nhưng n
ếu được
tập hợp lại sẽ thành một
khối lượng khổng lồ. Nhờ TTCK, đại đa số dân chúng đều có thể tham gia được
vào công cuộc đầu tư bằng số vốn ít ỏi của mình.
1.1.3.2 TTCK là một công cụ giúp Nhà nước thực hiện chương trình
phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước của mỗi quốc gia từ trước
đến nay chủ yếu thông qua thuế, phí, lệ phí,… Nhưng thông thường nguồn thu
này không đủ đáp ứng cho chỉ tiêu của Chính phủ. Vì vậy ở hầu hết các quốc
gia, Chính phủ thực hiện phát hành trái phiếu thông qua TTCK tức là vay tiền
của dân để giải quyết nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Đây được xem là một
biện pháp thường xuyên và có kỹ thuật tiên tiến. Nếu là trái phiếu kho bạc, đó là
nguồn thu thường xuyên của ngân sách, vốn huy động được hòa vào nguồn thu
thuế, phục vụ cho các chi tiêu thường xuyên của Nhà nước. Nếu là công trái hay
trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn thu đó được sử dụng vào những mục
đích đã định như xây dựng cơ sở hạ tầng: cầu, đường, sân bay, bến cảng, các
công trình văn hóa và phúc lợi xã hội.
Không có TTCK thì Nhà nước cũng có thể phát hành được trái phiếu,
nhưng đó chỉ là trái phiếu ngắn hạn hoặc trung hạn. Nói chung việc phát hành
trái phiếu sẽ gặp khó khăn vì khả năng thanh khoản của trái phiếu (chuyển từ trái
phiếu thành tiền và ngược lại) là không đơn giản. Nếu chúng ta có TTCK tập
trung, nghĩa là có hoạt đ
ộng
phát hành, mua đi bán lại trái phiếu theo đúng tính
chất thị trường, thì việc phát hành trái phiếu của Nhà nước sẽ rất thuận lợi.
1.1.3.3 Thị trường chứng khoán là công cụ thu hút và kiểm soát vốn
đầu tư nước ngoài
TTCK là công cụ cho phép vừa thu hút vốn, vừa kiểm soát vốn đầu tư
nước ngoài một cách tốt nhất.
13
Trước hết nói về khả năng thu hút vốn đầu tư của TTCK. Luật đầu tư
nước ngoài của ta được đánh giá là thông thoáng, nhưng trong quá trình thực
hiện cũng có những trở ngại không nhỏ đó là sự thiếu thông tin; một trong những
vấn đề mà nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm. Ngược lại, về phía chúng ta cũng
đã có không ít trường hợp do không đủ thông tin thẩm định nên đã mắc sai lầm
trong việc cấp giấy phép đầu tư cho những tổ chức không đủ năng lực đầu tư,
thậm chí cấp cho những tổ chức không có thật. TTCK hoạt động theo nguyên tắc
công khai. Nghĩa là, mọi đối tượng tham gia mua bán chứng khoán phải công
khai hóa và cập nhật toàn bộ thông tin liên quan đến giá trị chứng khoán, và
công khai khả năng tài chính trong các giao dịch mua bán chứng khoán.
Như vậy, nếu có TTCK sẽ khắc phục được tình trạng thiếu thông tin hoặc
thông tin không trung thực cho cả hai phía.
Hai là về khả năng kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài của TTCK. Trong
mỗi loại chứng khoán theo luật định sẽ có một phần được bán cho người nước
ngoài. Hiện nay, tỷ lệ nắm giữ tối đa của nhà đầu tư nước ngoài đối với cổ phiếu
của một tổ chức niêm yết được quy định theo pháp luật Việt Nam là 49%. Đó là
sự khống chế việc tham gia quản lý và kiểm soát công ty có vốn đầu tư nước
ngoài luôn luôn thuộc về ta. Đây là ưu điểm cơ bản của phương thức thu hút vốn
đầu tư từ nước ngoài thông qua TTCK.
1.1.3.4 Thị trường chứng khoán lưu động hóa mọi nguồn vốn trong
nước
Các cổ phiếu, trái phiếu tượng trưng cho một số vốn đầu tư được mua đi
bán lại trên TTCK như một thứ hàng hóa. Người có vốn (nắm giữ cổ phiếu, trái
phiếu,…) không sợ vốn của mình bị bất động vì khi cần họ có thể bán cổ phiếu,
trái phiếu trên TTCK để mua lại cổ phiếu, trái phiếu khác, nhờ vậy hoạt động
kinh tế thêm sôi động.
Với một TTCK phát triển tốt, các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn đầu tư phát
triển công nghệ. Vì với những doanh nghiệp mới thành lập, giá cổ phiếu thường
thấp hơn mệnh giá. Và đến giai đoạn phát triển, giá trị cổ phiếu thường tăng lên
14
lớn hơn mệnh giá, người ta bán số cổ phiếu đó đi để kiếm lời rồi lại đầu tư vào
một cuộc kinh doanh khác. Vốn của họ luôn được luân chuyển để tài trợ cho các
dự án đầu tư. Đây là phương thức thông dụng mà các nước theo cơ chế thị
trường đã làm, nó làm cho mọi nguồn vốn được lưu động hóa.
1.1.3.5 Thị trường chứng khoán là tiền đề cho quá trình cổ phần hóa
Cổ phần hóa là quá trình chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty
cổ phần, đòi hỏi phải có TTCK. Công ty cổ phần và TTCK là hai chủ thể luôn
gắn bó hữu cơ và tồn tại song hành như hình với bóng. Nhà đầu tư khi bỏ tiền ra
mua cổ phiếu và họ cần có nơi để bán cổ phiếu đi khi muốn rút vốn ra khỏi công
ty và nơi diễn ra hoạt động mua bán này chính là TTCK.
Một doanh nghiệp Nhà nước khi tiến hành cổ phần hóa, mệnh giá cổ
phiếu của công ty sẽ do Nhà nước mà đại diện là ban cổ phần hóa xác định trên
cơ sở tài sản có của công ty. Nhưng giá bán cổ phiếu đó là bao nhiêu sẽ do thị
trường quyết định. Đó là phương pháp cổ phần hóa thông qua TTCK. Và chỉ có
thông qua TTCK thì Nhà nước mới có thể thực hiện cổ phần hóa đối với bất cứ
loại hình doanh nghiệp nào, dù là doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi hay thua
lỗ vì TTCK là nơi tập trung được toàn bộ quan hệ cung cầu về vốn và là nơi tập
trung các nhà đầu tư.
Mặt khác, nếu không có TTCK thì vốn đầu tư qua cổ phiếu sẽ bị bất
động, như vậy sẽ rất khó khăn trong việc phát hành. Mục tiêu chủ yếu cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước và các loại hình doanh nghiệp khác là thu hút mọi
nguồn vốn nhỏ lẻ trong dân chúng vào đầu tư. Vì vậy, TTCK là tiền đề vật chất
cho quá trình cổ phần hóa.
1.1.3.6 Thị trường chứng khoán kích thích các doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả hơn
Khi tham gia niêm yết trên TTCK tập trung, các công ty cổ phần phải đáp
ứng được một số điều kiện: kinh doanh hợp pháp, tài chính lành mạnh, có lợi
nhuận, …và công chúng cũng chỉ mua cổ phiếu của những công ty thành đạt.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét