Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014
TỔ CHỨC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN MA TUÝ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3
3) Xây dựng 2 chuyên đề bồi dưỡng chung cho người làm việc với TNSCN, 5 chuyên đề bồi
dưỡng cán bộ quản lý, 7 chuyên đề để bồi dưỡng tình nguyện viên, 10 chuyên đề giáo dục TNSCN
qua TVHN mà trước đó phải bồi dưởng cho tình nguyên viên tư vấn giáo dục.
10. Cấu trúc của luận án : Phần mở đầu
Chương 1 : Cơ sở lý luận về tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN
Chương 2: Thực trạng t
ổ chức TVHN cho TNSCN ở TP.HCM
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và cải tiến hoạt động TVHN cho TNSCN Kết luận và kiến nghị.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP
CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Tổ chức TVHN cho TNSCN là một vấn đề mới trong nghiên cứu và triển khai thực hiện
có hệ thống. Ở Tây phươ
ng, đặc biệt ở Mỹ, có hẳn một ngành học TVHN phục hồi cho các đối
tượng xã hội đặc biệt.(Vocational Rehabilitation Counseling- Viết tắt là VRC). Nhưng
chưa có những công trình nghiên cứu cụ thể về cách thức triển khai hướng tổ chức hệ thống
quản lý giáo dục ở cộng đồng, huy động các nguồn lực trong nhân dân.
TVHN ở Việt Nam chưa là môn khoa học phổ biến, thường các ng
ười tư vấn cho lời
khuyên ngay sau khi trắc nghiệm đo lường các chỉ số tâm sinh lý, dù công cụ chỉ là những
trắc nghiệm mô phỏng nước ngoài, chưa có tính chính xác đối với người Việt Nam.
Ngay từ “tư vấn”, cũng đã có nhiều cách hiểu khác nhau, do xuất phát từ nhiều lảnh vực và
học thuyết tư vấn khác nhau. Tổ chức TVHN một cách khoa học và nặng về giáo dục hướng
nghiệp, dướ
i nhãn quan quản lý giáo dục, giáo dục học, là một vấn đề tổ chức giáo dục lại đối
tượng đặc biệt TNSCN, bao hàm tính nhân văn, chịu ảnh hưởng của quá trình hoạt động công tác
xã hội đối với những thanh niên đã một lần mất niềm tin trong cuộc sống. Đề tài luận án có tính
liên ngành, liên quan đến nhiều lĩnh vực lý luận và thực tiễn. Để nghiên cứu đề tài n
ầy, tác giả đã
tổng quan tình hình nghiên cứu các lĩnh vực liên quan theo 3 hướng :
- Nghiên cứu về quản lý giáo dục người nghiện và sau cai nghiện ma tuý
- Nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp
- Tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện (đối tượng đặc biệt)
1.1.1. Nghiên cứu về quản lý giáo dục thanh niên nghiện và sau cai nghiện ma tuý
1.1.1.1. Về quản lý giáo dục Với Hà Thế Ngữ (1984) “Chức năng quả
n lý và nội dung công
tác quản lý của hiệu trưởng” . Nguyễn Ngọc Quang (1989) “Những khái niệm cơ bản của quản
lý giáo dục” Vũ Ngọc Hải (2004) “Các mô hình quản lý giáo dục; Đặng Bá Lãm, Nguyễn Cảnh
Hồ, Vũ Ngọc Hải, (2005) “Quản lý nhà nước về giáo dục - lý luận và thực tiễn”. Gần đây
Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn thị Mỹ Lộc (2005) Những xu thế quản lý hi
ện đại và việc vận dụng vào
quản lý giáo dục; Trần Kiểm “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục
1.1.1.2. Về tổ chức quản lý giáo dục người nghiện ma tuý, TNSCN Theo Báo cáo ma tuy thế
giới 2006 và Báo cáo hằng năm 2007 của Cơ quan Phòng chống tội phạm và ma túy Liên Hiệp
Quốc: Ở Mỹ, có 2 hình thức cai nghiện nội trú và ngoại trú, và chứng minh cai nghiện ngoại trú
có chi phí tổng thể
rẻ hơn nhiều lần so với nội trú. Ở Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore,
Malaysia tiến hành cùng lúc 5 giải pháp chữa trị, gồm: (1) Bắt buộc chữa trị 3 năm tập trung;
(2) Chữa trị tại địa phương hoặc nhà tạm (haftway house); (3) Chữa trị bằng methadone; (4)
Chữa trị lâu dài ở các trung tâm tư vấn dành cho người nghiện bị tâm thần; (5) Hệ thống các
trạm xá chăm sóc người nghiện ma túy. Tuy vậy, trong QLXH nặng về
thực thi luật pháp.
4
Ở Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu chung như:
- Đề tài nghiên cứu “Tệ nạn xã hội - Căn nguyên, Biểu hiện và Phương thức khắc
phục” của Viện thông tin KHXH (1996), - Đề tài“ Những vấn đề lý luận và thực tiễn của
việc đấu tranh phòng, chống các tệ nạn ở nước ta” của Võ khánh Vinh. Đề tài : «Đặc điểm
nhân cách gái mại dâm, nguyên nhân tâm lý – xã hội và một số kiế
n nghị về giải pháp » của
Lê Thị Hà (2002). Đề tài CB 2001 “Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy và
người mại dâm sau khi được chữa trị phục hồi” do Nguyễn văn Minh (2002) làm chủ nhiệm
; Đề tài CB 96-02-06, Cục phòng chống tệ nạn xã hội “Thử nghiệm cách hạn chế tái nghiện
cho các đối tượng sau khi được cai nghiện” do Trần Xuân Sắc Chủ nhiệm (2006), là những
c
ố gắng tìm kiếm giải pháp quản lý người sau cai nghiện. Tuy nhiên các giải pháp nặng về
tính vĩ mô, chưa đề cập sâu vấn đề quản lý giáo dục TNSCN qua con đường TVHN cho họ
tại cộng đồng. Bên cạnh đó, có một số công trình bàn đến giáo dục lại, quản lý giáo dục
người cai nghiện và sau cai nghiện như: Quy trình chữa trị cho người nghiện ma túy của
Trung tâm giáo dục dạy nghề Bình Triệu; Ch
ương trình giá trị sống là một chủ đề giáo dục
chủ yếu cho thanh niên cai nghiện trong các trung tâm cai nghiện, (www.giatrisong.org
,
email: vietnam@livingvalues.net
)
1.1.2. Nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp
1.1.2.1. Những nghiên cứu về tư vấn
Carl Rogers có tác phẩm Tư vấn và Tâm lý trị liệu (Counseling and Psychotherapy) mở ra
một trường phái tư vấn tâm lý biết lắng nghe, một cách trung thực và thấu cảm những cảm xúc của
thân chủ. Cuốn Áp dụng lý thuyết phát triển nghề nghiệp trong tư vấn (Applying Career
Development Theory to Counseling) của Richard S. Sharf, đã m
ở rộng phạm vi tư vấn tâm lý
sang nhiều lĩnh vực thông thường do nhu cầu được tư vấn của các đối tượng khác nhau
Về nghiệp vụ tư vấn tâm lý chuyên ngành cho TNSCN có các tác phẩm Tâm lý Bệnh học
Nghiện ma túy (Psychopathologies des additions) của Jean-Louis Pedinielli, Georges Rouan, Pascale
Bertagne (2000). Các tác giả đã phân tích sâu về tư vấn trị liệu tâm thần cho người nghiên ma tuý.
Cuốn Những vấn đề đặc biệt trong tư vấn tâm lý vị thành niên lệ thu
ộc chất gây nghiện (Specal
Problems in Counseling the Chemically Dependent Adolescent) do Eileen Smith Sweet chủ biên
(2001), gồm những bài viết chuyên sâu về bệnh nghiện ma túy và đặc điểm nhân cách của người
nghiện ma túy cũng như các yêu cầu đối với các nhà tư vấn …
1.1.2.2. Tư vấn nghề, tư vấn hướng nghiệp
Năm 1908, Frank Parson là người đặt nền móng cho các khái niệm cơ bản cho hoạt động
tư vấn hướng nghiệp (career counseling) hay tư vấn nghề
(vocational guidance) ngày nay.
Frank Parsons là người đầu tiên, trình bày khái niệm hướng nghiệp trong cuốn sách Chọn
nghề (Choosing a Vocation). Những khái niệm này đã trở thành lý luận cơ sở cho những lý
thuyết có liên quan đến đăc điểm tính cách con người (trait) và yếu tố nghề (factor)- (Trait
and factor theory: lý thuyết đặc điểm người/nghề). Trong hệ thống học đường, Jesse B.
Davis (1907) đã nhanh chóng đưa vào chương trình giáo dục học đường, rồi từ những năm
20-30 triể
n khai đại trà TVHN trong hầu hết các trường học.
Vào những năm 1930-1940, thời đệ nhị thế chiến, quân đội và các nơi tuyển dụng nhân
lực đã sử dụng những ứng dụng của lý thuyết này, để khẳng định về mặt năng lực cá nhân. Một
vài ứng dụng đã phát triển trở thành bộ trắc nghiệm xếp hạng quân lực tổng quát của Mỹ (US
Army General Classification Test).
Sau chiến tranh, lý thuyết này trở thành “Quan điểm và
thực hành Tư vấn của Đại học Minnesota” (Minnesota Point of view and actuarial counseling).
Emund G. Williamson, Viện trưởng Đại học Minnesota đã viết tóm lược lý thuyết này năm
5
1939 và 1965. Trong lúc này, phương pháp tư vấn theo lý thuyết của Williamson khác hẳn
phương pháp tư vấn của Carl Rogers. Một bên cho rằng tư vấn viên hướng nghiệp phải chia sẻ
thông tin trực tiếp với thân chủ; bên kia cho rằng tư vấn viên tâm lý phải gián tiếp lắng nghe
phản ánh cảm xúc của thân chủ dù cả hai đều quan tâm đến toàn bộ con người. Bắt đầu từ
những năm 60, đặc biệt những năm 70 c
ủa thế kỷ XX, khái niệm hướng nghiệp vì sự phát triển
cá nhân nổi lên một cách mạnh mẽ.
Chức năng giáo dục cá biệt của tư vấn về nghề nghiệp từ đây rất đậm nét.
Ở Việt Nam, công tác hướng nghiệp được đưa vào thí điểm và bước đầu triển khai tại một
số trường phổ thông trọng điể
m và phát triển cùng với sự thành lập và phát triển hệ thống mạng
lưới Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp -Hướng nghiệp Ở giai đoạn đầu 1977-1980 công tác
hướng nghiệp được tổ chức thí điểm ở một số trường phổ thông tại một số địa phương. Giai đoạn
1981-1986: Ban Giáo dục Hướng nghiệp Bộ Giáo dục tổ chức biên soạn tài liệu sinh hoạ
t hướng
nghiệp cho học sinh cuối cấp PTCS và các lớp PTTH. Từ 1987-1990, do sát nhập Bộ và phải thu
gọn đầu mối, Ban Giáo dục Hướng nghiệp sát nhập vào Vụ Giáo dục Phổ thông, công tác hướng
nghiệp tạm thời dừng lại. Tháng 3/1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập Trung tâm Lao động
- Hướng nghiệp, biên soạn tài liệu " Tư vấn nghề cho HSPT”, mở 2 lớp tập huấn cho 200 cán bộ
phụ trách tư vấ
n ở các TT KT TH-HN trên cả nước. Bộ họa đồ nghề, các bộ công cụ trắc
nghiệm hướng nghiệp được cải tiến… do nhiều chuyên gia tham gia biên soạn: Phạm Tất Dong,
Thế Trường, Lê Đức Phúc, Đỗ Thị Hòa, Nguyễn Đức Trí, Đặng Danh Ánh
Những năm gần đây có một số công trình tiêu biểu sau đây: Sinh hoạt hướng nghiệp 12
(1994), Sinh hoạt hướng nghiệp 11 (1996) của Hoàng Kiện, Nguyễn Thế
Trường, Phạm Tất
Dong. Tài liệu Những nẻo đường lập nghiệp do Đặng Danh Ánh chủ biên (2003) giới thiệu một
số ngành nghề nông-lâm-ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và những gương thành đạt về lập
thân, lập nghiệp của các bạn trẻ; … Từ năm 1998 đến 2005, dự án giáo dục kỹ thuật dạy nghề
do Ngân hàng ADB tài trợ đã đầu tư xây dựng 15 trường nghề tr
ọng điểm, trong đó mỗi trường
đều hình thành bộ phận tư vấn nghề và tư vấn việc làm. Tính đên năm 1996, cả nước đã có 320
Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp, làm tốt khâu TVHN cho HS phổ thông .Tác
phẩm Giúp bạn chọn nghề do Phạm Tất Dong (chủ biên) (2005): giới thiệu về nghề nghiệp trong
xã hội, những nghề cần khuyế
n khích phát triển, cách chọn nghề và những vấn đề tâm lý cần
chuẩn bị trước khi vào nghề. Bộ sách Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp dùng cho giáo viên
lớp 9- 10, 11-12 do Phạm Tất Dong (chủ biên), (2006),(2007) cùng với nhiều bộ sách hướng
nghiệp đang được phổ biến rộng rãi
1.1.3. TVHN cho các nhóm đối tượng đặc biệt Tài liệu Lập kế hoạch và thực hiện chương
trình giáo dục đồng đẳ
ng cho người nghiện chích ma tuý của Chung Á, Tài liệu Liệu pháp giáo
dục tâm lý xã hội cho người nghiện ma túy của Nguyễn Hữu khánh Duy, Nguyễn văn
Khuê,Trish Summerfiel (2002 có đề cập vấn đề TVHN, dạy nghề là con đường cơ bản giúp
người TNSCN tái hoà nhập xã hội hiệu quả ;Phan Thị Mai Hương (2002) khi nghiên cứu về
điểm nhân cách và hòan cảnh xã hội của thanh niên nghiên ma tuý, trong các kiến nghị có đề
xuất: gia đình và các đoàn thể xã h
ội cần giúp cho các thanh niên này được TVHN và tham gia
vào các sinh hoạt đoàn thể, xã hội. Tập sách
Tâm lý học giáo dục nhân cách người nghiện ma
túy của Phan Xuân Biên, Hồ Bá Thâm (2004), đề cập vấn đề giáo dục, quản lý giáo dục người
nghiện ma túy, trong đó vấn đề hướng nghiệp, đào tạo nghề và giải quyết việc làm được đề cập
đến như một giải pháp giáo dục quan trọng; Nhìn chung, có nhiều công trình nghiên cứu về
lĩnh vực quản lý giáo dục; về tư vấn, TVHN trên bình diện lý luận cũng nh
ư hoạt động thực
tiễn. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề: Tổ chức tư vấn
hướng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện ở TP HCM, như đề tài luận án tác giả đã chọn.
6
1.2. Một số khái niệm cơ bản của luận án
1.2.1. Ma tuý, nghiện, cai nghiện, sau cai nghiên
1.2.1.1. Ma tuý: Nghĩa Hán Việt, ma tuý là “chất làm cho mê mẩn”, là tên gọi chung các chất
“gây trạng thái ngây ngất đến đờ đẩn, dùng quen thành nghiện”. Theo tổ chức Y tế thế giới
WHO, “Ma túy là thực thể chất hóa học hay thực thể hỗn hợp, khi sử dụng làm thay đổi chức
năng sinh học của con người. Ngoại trừ một số ch
ất ma túy không gây sự lệ thuộc cơ thể, hầu
hết ma túy đều gây sự lệ thuộc và tăng liều lượng sử dụng (dose)”. Theo khái niệm khoa học:
Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên; bán tổng hợp, hay tổng hợp có tác dụng lên thần
kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu mà khi dùng
nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không s
ẽ rất khó chịu. Những định nghĩa trên có tính
khái quát cao, tuy nhiên chủ yếu nhấn mạnh vào những thay đổi mặt sinh học của con người
khi sử dụng ma tuý, chưa chú ý đến mặt tâm lý và hành vi xã hội của người lạm dụng ma tuý.
Chúng tôi tán thành quan niệm của tác giả Vũ Ngọc Bừng, cho rằng : Các chất ma tuý là các
chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể người có tác dụng
làm thay đổi tâm trạng, ý th
ức và trí tuệ, làm con người lệ thuộc vào chúng và cuối cùng gây
nên tổn thương cho cá nhân và cho cộng đồng.
1.2.1.2. Nghiện – nghiện ma tuý
a). Nghiện: Nghiện là trạng thái ham mê đến nỗi thành thói quen rất khó từ bỏ. Về mặt y khoa,
Nghiện là trạng thái bệnh lí tâm thần, phát sinh do lạm dụng các chất gây nghiện. Chất gây
nghiện có thể là các chất độc thuộc bảng B của dược điển như thuốc phiện, cocain hay các chất
độ
c khác như rượu, thuốc lá Cơ thể và tâm lý người nghiện bị lệ thuộc mạnh mẽ và có hệ
thống và các chất độc quen dùng. Tùy theo chất hay thể loại tác động gây nghiện, có nhiều loại
nghiện: nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện cà phê là những loại nghiện
những chất gây nghiện thường gặp. Nghiện còn được mở rộng chỉ các khái niệm khác, không
phải chỉ nghiệ
n chất gây nghiện, mà là những thói quen, yêu thích không bỏ ngay được. Từ
những say mê tích cực trở thành tiêu cực, tai họa như: Nghiện chơi thể thao: Bóng đá, quần
vợt bơi lội, billard, golf, Có những loại nghiện có mục đích tốt nhưng trở nên có hại khi
nghiện quá sâu, mất bình thường, trở nên bệnh hoạn có hại. Như nghiện thể thao; Nghiện công
việc; Nghiện enternet; Nghiện đ
ánh bài; Nghiện ăn vặt; Nghiện uống; Nghiện tình dục; Nghiện
phẩu thuật thẩm mỹ. Trên thế giới còn có nhiều hội chứng nghiện lạ khác, như nghiện tắm
nắng, nghiện ăn bẩn, nghiện nhai đá, Thậm chí có cả trường hợp nghiện đi đám ma…
b). Nghiện ma túy Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO “Nghiện ma túy là tình trạng lệ
thuộc về
mặt tinh thần hoặc thể chất, hoặc cả hai”. Chúng tôi tán thành quan niệm của Phan Thị Mai
Hương: Nghiện ma tuý là hiện tượng phụ thuộc cả về thể xác và tinh thần vào ma tuý do sử
dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân ở
người nghiện ma tuý, có hại cho cá nhân và xã hội.
1.2.1.3. Cai nghiện ma tuý: Cai nghiện ma tuý là một quá trình khó khăn, ph
ức tạp, tốn kém và
kết quả thường không đựợc như mong muốn. Có nhiều quan niệm khác nhau về cai nghiện ma
tuý. Chúng tôi xác định: Cai nghiện ma túy là biện pháp tổng hợp và lâu dài gồm các tác động
của nhiều biện pháp can thiệp của y khoa, giáo dục, tâm lý, xã hội, đạo đức, pháp luật giúp
người nghiện ma túy cắt các hội chứng cai, phục hồi sức khỏe, học tập tái hòa nhập cộng đồng.
1.2.1.4. Sau cai nghiện: không thể
là sau giai đoạn cắt cơn của quá trình điều trị cai nghiện tạm
thời. Mà phải ít nhất, là sau khi người nghiện ma túy qua thời gian sử dụng các biện pháp cai
nghiện lâu dài, thông qua qúa trình điều dưỡng, thanh tẩy thể chất và tinh thần do các độc tố
của ma túy còn di hại trong đời sống sức khỏe và trong hồi tưởng bất chợt.Thông thường, sau
cai nghiện được hiểu là sau giai đọan điều trị các li
ệu pháp tâm lý, giai đọan điều trị phục hồi
sức khỏe, tâm, sinh lý, giáo dục hành vi xã hội. Tiếp theo đó là giai đọan TVHN, học nghề, và
tạo vịệc làm tai các trung tâm hoặc cộng đồng.
7
1.2.2. Thanh niên sau cai nghiện: Theo quy định hiện nay, thanh niên sau cai nghiện được
hiểu là những người nam nữ từ 18 đến 35 tuổi, đã từng nghiện ma tuý, được cai nghiện tự
nguyện hoặc bắt buộc và sau các giai đọan điều trị liệu pháp tâm lý, điều trị phục hồi sức
khỏe, tâm, sinh lý, giáo dục hành vi xã hội, có thể bước vào giai đoạn tư vấn hướng nghiệp,
học nghề, tái hoà nhập xã h
ội, dưới sự giúp đỡ và giám sát của cộng đồng. TNSCN hiện nay
thường qua giai đoạn cai nghiện bắt buộc 24 tháng (qua giai đoạn 3), bước vào giai đoạn
TVHN, học nghề, tìm kiếm việc làm tại các trung tâm hoặc về gia đình sống tại cộng đồng.
1.2.3. Quản lý, tổ chức: Thuật ngữ “tổ chức” và “quản lý” trong thực tế được dùng khá linh
hoạt. Có khi một tổ chứ
c (nhà nước, doanh nghiệp ) bao gồm trong nó nhiều cấp quản lý,
phục vụ cho tổ chức. Ngược lại trong việc quản lý, tổ chức là một chức năng, một hoạt động cơ
bản gắn liền với các chức năng khác, như: Kế hoạch hoá, chỉ đạo, kiểm tra Trong luận án
này tổ chức TVHN được dùng với cả 2 khái niệm là hình thành một hệ thống t
ổ chức, vừa thiết
kế cơ chế vận hành của tổ chức vừa thực hiện một chức năng quản lý là tổ chức triển khai các
hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN.
1.2.3.1. Quản lý
a) Định nghĩa quản lý: Theo Mạc Văn Trang (2007), Quản lý là hoạt động có ý thức của con
người, đảm bảo cho đối t
ượng quản lý được bảo tồn, phát triển theo những quá trình và mục
đích xác định, bằng những công cụ, phương pháp phù hợp. Theo Phan Văn Kha, khái niệm
quản lý (về mặt xã hội) có nhiều cách hiểu: Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông
qua con người và làm việc với con người; Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh
đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mụ
c tiêu đề
ra; Chúng tôi lựa chọn định nghĩa: Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm tra công việc thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt
được các mục đích đã định.
b) Các chức năng quản lý Mạc Văn Trang (2007) cho rằng. có nhiều cách xác định các chức
năng quản lý khác nhau. Thông thường các nhà nghiên cứu xác đị
nh 4 chức năng quản lý cơ
bản: Kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra. Mỗi chức năng lại được phân chia ra nhiều
bước tiến hành với nhiều công việc cụ thể.
c. Các thành tố của quản lý
Theo Phan Văn Kha (2007) trong quản lý, quan trọng là phải xác định rõ chủ thể quản lý
và đối tượng quản lý. Trong đó chủ thể quản lý có thể là chủ thể qu
ản lý nhà nước đối với toàn
hệ thống giáo dục quốc dân; có thể chủ thể quản lý ở đơn vị tác nghiệp ở cơ sở. Trong luận án
này chủ thể quản lý ở đơn vị cơ sở, tổ chức TVHN cho TNSCN. Các thành tố của quản lý của
đơn vị cơ sở gồm: Chủ thể quản lý: Người/nhóm phụ trách tổ chức, Đối tượng quả
n lý: Các
hoạt động của tổ chức; Công cụ quản lý: Các chủ trương, chính sách, quy định, nguyên tắc,
phương pháp quản lý Nội dung quản lý, bao gồm: mục tiêu; nội dung; quá trình; phương
pháp; nhân sự, các nguồn lực (Tài chính, vật tư, thông tin, kỹ thuật ); môi trường bên trong và
những mối quan hệ với bên ngoài Chủ thể quản lý thực hiện các nội dung quản lý bao giờ cũng gắn
liền với một đơn v
ị, một tổ chức cụ thể.
1.2.3.2. Tổ chức
Theo Từ điển Tiếng Việt (1997, trg 973), cần phân biệt tổ chức khi là một danh từ và tổ
chức khi là một động từ. Tổ chức (danh từ) là: “Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì
những quyền lợị chung, nhằm một mục đích chung” (Tổ chức công đoàn, tổ chức Hội sinh viên,
tổ ch
ức khoa học, tổ chức giáo dục, );
8
Tổ chức (danh từ) là một thực thể cấu trúc có chức năng và được quản lý vận hành theo
một mục tiêu cụ thể. Theo Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn thị Mỹ Lộc (2000): Một tổ chức trong
khoa học quản lý là một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một
mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một con ngườ
i riêng lẻ không thể nào đạt
được. Để xây dựng một tổ chức (danh từ) cần phải:
+ Căn cứ vào sứ mệnh, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức để lựa chọn mô hình tổ chức
phù hợp (tổ chức nhà nước, tổ chức doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ, )
+ Xây dựng cơ cấu bộ máy tổ chức ( phân chia phòng ban, )
+ Xây dựng quy chế hoạ
t động của tổ chức
+ Phát triển nhân sự của tổ chức (Tuyển dụng, sử dụng, bồi dưỡng, bổ nhiệm)
- Tổ chức (động từ) thực chất là thực hiện chức năng “tổ chức” của hoạt động quản lý. Tổ
chức là quá trình tiến hành các hoạt động phát triển tổ chức và triển khai thực hiện các kế
hoạch của t
ổ chức để đạt được mục tiêu đã xác định
,bố trí và sử dụng các nguồn lực của tổ chức
một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
Như vậy thuật ngữ quản lý, tổ chức được dùng linh hoạt, cần
hiểu chúng trong từng văn cảnh cụ thể. Luận án này sử dụng thuật ngữ “tổ chức” với cả 2
nghĩa danh từ và động từ.
1.2.4. Tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN
1.2.4.1. Tư vấn
a. Định nghĩa tư vấn Theo Từ điển Tiếng Việt (1997,trg1035), Tư vấ
n là phát biểu ý kiến về
những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định.(Tư vấn thông tin hướng dẫn)
Ngày nay, tư vấn (tham vấn-tư vấn tâm lý) thể hiện mối quan hệ giữa nhà tư vấn (tư vấn
viên/chuyên gia tư vấn) với đối tượng (thân chủ/ khách hàng) mang tính trao đổi, giúp đỡ, chia
sẻ, thân tình Có thể xác định: Tư vấn là quá trình tương tác giữa nhà tư v
ấn với đối tượng tư
vấn thông qua sự trao đổi, chia sẻ chân tình, giúp cho đối tượng hiểu và chấp nhận thực tế của
mình, tự tìm thấy tiềm năng của bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình.
Định nghĩa này muốn nhấn mạnh:
- Tư vấn là một quá trình tương tác chứ không chỉ “hỏi gì, đáp nấy” lạnh lùng;
- Nhà tư vấn phải là ngườ
i có phẩm chất, năng lực tương ứng với lĩnh vực tư vấn;
- Đối tượng được tư vấn là những người có khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống, cần được
giúp đỡ để họ tự mình có thể vượt qua
- Công việc tư vấn như vậy mang ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc và phải đảm bảo các nguyên tắc:
Tôn trọng, tin tưởng vào đối t
ượng; coi đối tượng là trọng tâm; giữ bí mật thông tin về đối tượng…
b. Các hình thức tư vấn
Cùng với sự phát triển của xã hội, các hình thức tư vấn cũng ngày càng đa dạng, phong
phú. Có thể đến các hình thức tư vấn hiện nay:
- Tư vấn trực tiếp: Nhà tư vấn và đối tượng gặp mặt, giao tiếp trực tiếp, trao đối bằng lời nói,
cử chỉ, h
ướng dẫn sử dụng các công cụ hỗ trợ
- Tư vấn gián tiếp: Tư vấn thông qua điện thoại, báo chí, internet, TV
c. Các loại tư vấn Tư vấn ngày nay trở thành một loại dịch vụ đáp ứng các nhu cầu đa dạng của
xã hội. Xã hội có những nhu cầu gì thì có tư vấn về lĩnh vực đó. Tư vấn tâm lý;- Tư vấn pháp
luật;- Tư vấ
n sức khoẻ;- Tư vấn dinh dưỡng;- Tư vấn về hôn nhân - gia đinh;- Tư vấn phục hồi
(Rehabilitation Counselling)- Tư vấn việc làm;- Tư vấn hướng nghiệp
Theo Đặng Danh Ánh (2005), có 4 cách tiến hành TVHN:: + Tư vấn thông tin hướng
dẫn + Tư vấn chẩn đoán; + Tư vấn y học: + Tư vấn hiệu chỉnh:
9
1.2.4.2. Hướng nghiệp
a. Định nghĩa Theo từ điển Tiếng Việt (1997,trg458),”Hướng nghiệp (1) thi hành những biện
pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) theo ngành
và loại lao động; (2) Giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề”. Trong luận án này, sử dụng nghĩa
thứ hai. Theo Mạc Văn Trang (1993): Hướng nghiệp là quá trình tuyên truyền, hướng d
ẫn cho
đối tượng hiểu biết về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động và đặc điểm của cá nhân; trên
cơ sở đó họ có thể lựa chọn học nghề, tìm việc làm phù hợp với nguyện vọng, hoàn cảnh, năng
lực của cá nhân.
b. Bản chất của hướng nghiệp Định nghĩa trên dựa vào lý luận của K.K. Platonop thể hiện trong
sơ
đồ “Tam giác hướng nghiệp”. Người được TVHN phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Tôi thích/ muốn học nghề gì/làm việc gì? Tại sao?
- Tôi có khả năng, điều kiện học nghề đó/làm nghề đó không? Tại sao?
- Nghề đó xã hội/ thị trường lao động có cần không?
Theo Đặng Danh Ánh (2002), hướng nghiệp thường đi liền với giáo dục hướng nghiệp,
bao gồm 4 giai đ
oạn: (1) Giáo dục và tuyên truyền nghề; (2) Tư vấn nghề;
(3) Tuyển chọn nghề; (4) Thích ứng nghề.
1.2.4.3. Tư vấn hướng nghiệp cho TNSCN
TVHN choTNSCN thường qua con đường tư vấn ở tất cả 4 giai đoạn:
(1) Tư vấn Giáo dục ý thức nghề nghiệp và hướng sống;
(2) Tư vấn nghề nghiệp và việc làm;
(3)Tư vấn tìm việc, tự tạ
o việc làm;
(4)Tư vấn giúp TNSCN thích ứng nghề.
Trong thực tế con đường tư vấn lại nặng về tư vấn tâm lý hơn là tư vấn thông tin nghề
nghiệp, nghĩa là đòi hỏi tư vấn viên phải giỏi kỹ năng chân thành lắng nghe, thấu cảm,luôn tôn
trọng vô điều kiện người TNSCN mà họ phụ trách TVHN.
1.2.5. Tổ chức tư vấn hướ
ng nghiệp cho TNSCN
1.2.5.1. Lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp: Mô hình tổ chức TVHN cho TVSCN phải là
một mô hình phối hợp, liên kết giữa nhiều tổ chức chính trị xã hội khác nhau dưới sự chỉ đạo
về chủ trương đường lối của cơ quan nhà nước.
1.2.5.2. Xây dựng hệ thống bộ máy của tổ chức: Thường sự phân chia bộ phận dựa vào các
nguyên tác hoạ
t động điều phối của tổ chức: Nguyên tắc thống nhất chỉ huy; Nguyên tắc quan
hệ theo tuyến mắt xích; Nguyên tắc phân chia quy mô quản lý (span: phân đoạn- khẩu độ);
Nguyên tắc quyết định mức độ quan hệ điều phối và phân chia chức năng.
1.2.5.3. Xây dựng cơ chế hoạt động của tổ chức: Cần xây dựng được một cơ chế hoạ
t động
phù hợp, có quy định rõ ràng về các mối quan hệ chỉ đạo, bị chỉ đạo và các mối quan hệ bên
trong và bên ngoài tổ chức.
1.2.5.4. Phát triển nhân sự theo yêu cầu của tổ chức :
- Tuyển chọn đội ngũ cán bộ và tư vấn viên
- Bố trí và sử dụng đội ngũ cán bộ, tư vấn viên một cách hợp lý, có hiệu quả
- Bồi dưỡng về kiến thức và kỹ
năng chuyên môn về TVHN
1.2.5.5. Tổ chức triển khai các hoạt động TVHN cho TNSCN
a). TVHN về ý thức nghề nghiệp và hướng sống Đòi hỏi TNSCN phải
(1) Tự hiểu mình và định hướng tương lai, (2) Hiểu các đặc điểm công việc ;
(3) Biết rõ trong đời sẽ có thể xảy ra thất nghiệp, chuyển đổi nghề, công việc…
(4) Hiểu sự phức hợp nhiều yếu t
ố trong kế hoạch lập nghiệp.
10
(5) Nắm được những thông tin, kỹ năng cần thiết để chọn nghề.
b). TVHN về việc làm phù hợp: Thường qua các bước:
(1). Thông tin về thị trường lao động và thế giới nghề nghiệp
(2).Thông tin về kết quả trắc nghiệm sự phù hợp tâm lý người /nghề
(3). Thảo luận về sự phù hợp nghề và việc làm với TNSCN
c). Tư vấn về
tìm việc, tự tạo việc làm: Tư vấn viên TVHN cho TNSCN chính là người tuyển
chọn TNSCN trước khi giới thiệu với các doanh nghiệp
d). Tư vấn giúp TNSCN thích ứng nghề gồm:
- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ TNSCN thích ứng nghề.
- Giúp TNSCN tự tạo việc làm, sản xuất, kinh doanh dịch vụ quy mô nhỏ và vừa.
- Trợ giúp giải quyết các vấn đề cá nhân khác thuộc bản thân TNSCN khi nhậ
n việc làm.
1.2.5.6. Các hình thức TVHN cho TNSCN : Tư vấn cá nhân và tư vấn nhóm
1.3. Sự cần thiết và tính nhân văn của tổ chức TVHN cho TNSCN
1.3.1. Sự cần thiết của hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho TNSCN
1.3.1.1. Về mặt quản lý xã hội đối với việc tiếp tục tổ chức giáo dục TNSCN
1.3.1.2. Về mặt tâm sinh lý cá nhân TNSCN khi mới về hòa nhập cộng
đồng
1.3.1.3. Về mặt chiến lược phòng chống tái nghiện đối với TNSCN
1.3.2. Tính nhân văn của tổ chức TVHN cho TNSCN
1.3.2.1. Quan tâm đến TNSCN là chủ trương nhân ái
1.3.2.2. Hệ thống tổ chức có cơ chế điều hành linh hoạt
1.3.2.3. Tổ chức giáo dục qua con đường tư vấn tôn trọng con người
1.3.2.4. Giáo dục ý thức khởi nghiệp, giúp TNSCN thoát ly đờ
i sống phụ thuộc
1.3.2.5. Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống đối phó với tình huống nguy cơ
Tóm lại, tổ chức TVHN cho TNSCN là một quá trình liên kết các hoạt động của nhiều lực
lượng xã hội, được quản lý, điều phối bởi một tổ chức hạt nhân có trách nhiệm và khả năng
chuyên môn, nghiệp vụ, gắn bó thường xuyên với những TNSCN, giúp họ có niềm tin, tìm thấ
y
hướng sống, vượt qua được nguy cơ tái nghiện, có cơ hội học nghề, tạo được việc làm, từng bước
trở lại cuộc sống bình thường, tái hoà nhập cộng đồng có kết quả. Đó là một quá trình lâu dài, khó
khăn, phức tạp, đầy bất trắc, nhưng luôn khắc khoải niềm tin và hy vọng. Những người có trách
nhiệm cần phải lắng nghe và thấu cảm với hoàn cảnh c
ủa TNSCN và gia đình họ.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức TVHN cho TNSCN
1.4.1. Cán bộ quản lý tổ chức TVHN có phẩm chất và năng lực phù hợp
1.4.2. Đặc điểm tâm lý và hoàn cảnh xã hội của TNSCN
1.4.3. Tâm lý, trình độ nhận thức và thái độ của gia đình
1.5. Các tiêu chí đánh giá kết quả của hoạt động tổ chức TVHN cho TNSCN
Xác định tính khoa học của tổ ch
ức bộ máy giáo dục được thể hiện qua các đặc tính:
Khách quan: tính pháp lý của tổ chức bộ máy; Hợp lý: cơ cấu tổ chức bộ máy; Đồng bộ: mối
tương quan giữa yêu cầu chức năng, nhiệm vụ với việc bố trí lao động; Hiệu quả: kết quả chất
lương hoạt động giáo dục. Ở đây do giới hạn thờ
i gian, chúng tôi xác định đánh giá kết quả chất
lượng của việc tổ chức TVHN cho TNSCN theo các kết quả thu được như sau :
1.5.1. Đánh giá chung về mặt chất lượng nội dung giáo dục TNSCN
1.5.2. Đánh giá của cán bộ quản lý về mặt nhân sự tham gia TVHN
1.5.3. Đánh giá của chuyên gia về mặt khoa học của tổ chức TVHN
1.5.4. Kết quả thực tế của TNSCN có việc làm sau khi được TVHN
Ti
ểu kết chương 1
11
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG
TỔ
CHỨC TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP
CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN Ở TP. HỒ CHÍ MINH
2.1. Tình hình chung về QLGD và tổ chức TVHN cho TNSCN
2.1.1. Tình hình QLGD thanh niên nghiện và tái nghiện ma túy
+ Các sự kiện liên quan đến ma túy trong thời đại toàn cầu hóa
Ma túy, mà đại diện điển hình là thuốc phiện, đã xuất hiện từ rất lâu trước đây nhưng mãi
đến năm 1805, mới chiết xuất được morphin làm thuốc gây mê, 1858 trở thành thuốc chích thẳng
vào mạch máu. Năm 1874, C.R. Wright, tổng hợp được heroin (diacetymorphin) là một loại thuốc
gi
ảm đau. Năm 1906 được Hiệp hội Y học Mỹ cho sử dụng rộng rãi thay morphin trong những
trường hợp nhiễm trùng gây đau đớn.
Năm 1924 Mỹ thông qua Luật Cấm nhập khẩu và sản xuất Heroin, khi nước Mỹ có khoảng
200.000 người nghiện heroin, 94% tội phạm có dùng heroin.Với cây thuốc phiện, Trung Quốc chế
ra dọc tẩu để hút, sau cuộc chiến tranh nha phiến với thực dân Anh, năm 1838, có đến 2 triệu
ng
ười nghiện, năm 1878 có đến 120 triệu người nghiện.
Ở Việt Nam, sau năm 1884, theo bước chân viễn chinh Pháp, thuốc phiện tràn vào Việt
Nam được bảo hộ. Năm 1953, riêng Sài gòn-Chợ lớn, có đến 8.000 động hút thuốc phiện. Năm
1975 Nam Việt Nam có khoảng 500.000 người nghiện các chất ma túy đã được nhà nước vì tình
thương và trách nhiệm tổ chức cai nghiện, đưa đi lập nghiệp kinh tế mới, đi thanh niên xung phong
+ Vấn
đề ma túy toàn cầu hiện nay: Có thể kể từ tháng 6 năm 1998, trong khóa họp thứ 20
của Đại hội đồng LHQ chống buôn lậu và lạm dụng ma túy, 138 nước tham dự với khẩu
hiệu: ‘‘Đoàn kết chống lại thảm họa hàng đầu của thế giới trong thế kỷ 21’’. Toàn thế giới
quyết tâm giảm 50% ma túy vào năm 2008. Cùng với 3 công ước quốc tế : Năm 1961, 1971,
1988 làm thành một hệ thống luậ
t pháp quốc tế phòng chống và kiểm soát ma túy.
+ Tình hình quản lý giáo dục người nghiện ma túy ở Việt Nam Ở Việt Nam, số lượng người
nghiện được quản lý gíao dục trong cả nước mỗi năm tăng bình quân 9,21% ( 2000-2005 )
+ Nhóm người có nguy cơ nghiện ma túy cao: Có tới 37,1% thanh niên thất nghiệp và thiếu
việc làm nghiện ma tuý, 52,7% lao động thất nghiệp và bán thất nghiệp nghiện ma tuý để quên
đời; 24,1% gái mại dâm nghiệ
n ma tuý. Trong số đó, tỷ lệ gái mại dâm nghiện ma túy có hộ khẩu
thành phố là 65,7%. Tỷ lệ sử dụng ma tuý trong trẻ em lang thang lên đến 17.7%.
2.1.2. Tình hình tái nghiện ma túy và thí điểm phòng chống tái nghiện
+ Tỷ lệ tái nghiện bình quân cả nước là 83%.
+ Tỷ lệ tái nghiện vùng thí điểm: Một số xã sau 3 năm cai thí điểm theo mô hình “cai
nghiện lâu dài dựa vào cộng đồng, vì cộng đồng và cho cộng đồng” từ
tháng 12/1994 đến
tháng 12/1997 tỷ lệ tái nghiện chỉ còn dưới 20%.
+ Mối quan hệ giữa cai nghiện và tái nghiện. Cai nghiện có chất lượng và hiệu quả cũng góp
phần tích cực chống tái nghiện. Đặc biệt làm tốt chương trình cai nghiện và hậu cai, tỷ lệ tái
nghiện sẽ giảm đáng kể
12
2.1.3. Quản lý giáo dục người nghiện và sau cai nghiện của TpHCM
2.1.3.1.Tập trung thanh niên nghiện ma túy vào các trung tâm giáo dục dạy nghề và giải quyết
việc làm ( Trung tâm 06)
Từ năm 2001-2003, thực hiện Chương trình 3 giảm, năm 2002, thành phố Hồ Chí Minh
đã đưa vào các trung tâm giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm 23.190 người. Năm 2003,
tập trung các lực lượng quản lý xã hội đưa vào trung tâm giáo dục dạy nghề và giải quyết việc
làm 11.373 người. Tổng c
ộng, vào đầu năm 2004, ở các trung tâm cai nghiện do thành phố
quản lý lên đến : 34.563 người, hầu hết là thanh niên.
Theo đề án, thành phố đã tập trung đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây mới 20 cơ sở cai
nghiện, nâng công suất tiếp nhận cai nghiện lên 28-30.000 người, với hàng trăm hecta đất, trên
6 tỉnh thành khác nhau. Các Trung tâm, Trường cai nghiện được đầu tư tương đối đồng bộ, từ
nơi ăn ở, sinh ho
ạt, đến các lớp học văn hóa, học nghề, và lao động sản xuất cho học viên và
người sau cai nghiện.
2.1.3.2. Tổ chức QLGD sau cai nghiện ở trung tâm cai nghiện thêm 3 năm, để giáo dục hướng
nghiệp, học nghề, và giải quyết việc làm (TT06): Từ năm 2003-2006, Thành phố Hồ Chí Minh
có đề án “Tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện”được
Quốc Hội phê duyệt (NQ 16/2003/QH11). Tp H
ồ Chí Minh áp dụng chế độ tập trung cai
nghiện 2 giai đoạn, sau đó tiếp tục quản lý thêm một giai đoạn (giai đoạn 3) hội nhập cộng
đồng.
- Giai đoạn 1: 2 năm giáo dục tâm lý trị liệu, học nghề, hướng nghiệp
- Giai đoạn 2: 2-3 năm lao động, lao động nghề nghiệp, giải quyết việc làm trong khuôn viên
trung tâm /trường. Giai đoạn này không gọi là học viên mà gọi là ng
ười sau cai nghiện mà đa
số là thanh niên (TNSCN)
- Giai đoạn 3: Hội nhập cộng đồng. Các TNSCN được: (1) về địa phương sinh sống (2) đi lao
động, (3) đi lập nghiệp (4) tham gia các đội TNXP, (5) hoặc được sắp xếp làm công nhân ở các
cụm công nghiệp của thành phố ưu tiên nhận TNSCN.
2.1.3.3. Tổ chức QLGD TNSCN ở cộng đồng, tiếp tục giáo dục hướng nghiệp, giải quyết việc
làm phòng chống tái nghiện
Từ năm 2006 đến nay, thành phố lần lượt xét cho khoảng trên 20.000 TNSCN trở về
hội nhập cộng đổng. Để nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện về mặt tổ chức và cải
tiến nội dung hoạt động hệ thống tổ chức TVHN cho TNSCN, tác giả đã tiến hành khảo sát
thực trạng 3 đợt khảo sát (2 đợt tại cộng đồng, 1 đợt tại các trung tâm 06)
- Ba bảng h
ỏi ý kiến TNSCN về thực trạng tổ chức TVHN
9 1 bảng hỏi (01TNSCN 06) ở trung tâm cai nghiện (n=36) và
9 2 bảng hỏi (02 và 03 TNSCN CD) ở cộng đồng (n=58, n=120)
- Ba bảng hỏi ý kiến CB chuyên trách và tình nguyện viên Đội tình nguyện công tác xã
hội ( cán sự xã hội tình nguyện):
9 Bảng hỏi 01 CBQL 06, hỏi CB ở trung tâm cai nghiện (n=32)
9 2 Bảng hỏi 02,03 CBQLCĐ hỏi CB ở cộng đồng (n=44, n=64)
Mỗi bảng có mục đích hỏ
i một số chuyên đề riêng và có cách kết cấu, trình bày thích hợp,
thuận tiện cho người trả lời, từ 10-15 câu hỏi, có thử độ khó và độ phân biệt.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét