Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

YẾU TỐ HIỆN THỰC VÀ YẾU TỐ LÃNG MẠN TRONG SÁNG TÁC CỦA KHÁI HƯNG VÀ NHẤT LINH THUỘC NHÓM TỰ LỤC VĂN ĐOÀN

Trong phạm vi một luận văn, sở dĩ tôi chỉ đi vào một số truyện ngắn cũng như tiểu thuyết và
cũng chỉ giới hạn đối tượng khảo sát ở các tác giả chủ soái: Nhất Linh – Khái Hưng vì những lý do
sau đây:
- Trong khuôn khổ một luận văn, không có điều kiện khảo sát toàn bộ các tác giả của Tự lực
văn đoàn.
- Hai tác giả này là người đề
xướng và là người thực hiện trực tiếp cho tinh thần, tôn chỉ của
Tự lực văn đoàn.
- Hai tác giả này có một khuynh hướng thẩm mỹ khá thống nhất với nhau có nhiều nét gần
gũi nhau về tư tưởng và phong cách (Khái Hưng – Nhất Linh có nhiều cuốn viết chung như Đời
mưa gió, Gánh hàng hoa).
Đồng thời, trong sự sáng tạo nghệ thuật không có một sự phân tách tuyệt đối giữa xu hướng
lãng mạn tiến bộ và xu hướng hiện thực. Trong tiểu thuyết lãng mạn tiến bộ của Khái Hưng và Nhất
Linh có những bức tranh xã hội, những chân dung được miêu tả không thua kém một nhà văn hiện
thực nào. Cho nên đề tài còn hướng đến tìm hiểu việc đánh dấu sự giao thoa giữa văn học lãng mạn
và văn học hiện thực.
IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài cung cấp m
ột cái nhìn tổng quát về văn xuôi lãng mạn những năm
1932-1945. Nội dung chủ yếu của đề tài là hướng sự quan tâm thiết thực vào việc nghiên cứu và học
một số sáng tác có xu hướng lãng mạn đan xen yếu tố hiện thực của hai tác giả Khái Hưng và Nhất
Linh. Đồng thời thấy được đây là những tác phẩm thể hiện trực tiếp và sâu sắc cái tôi đầy cảm xúc;
đề cập đến nh
ững số phận cá nhân và thái độ bất hòa, bất lực trước xã hội; diễn tả những khát vọng,
ước mơ của một bộ phận trí thức có điều kiện tiếp cận tư tưởng và văn hóa phương Tây và chịu ảnh
hưởng ít nhiều của phong trào đấu tranh cách mạng chống thực dân của nhân dân.
Đề tài còn góp phần cung cấp một số nhận thức, một số cách hiểu mới h
ơn, đầy đủ hơn về
văn xuôi lãng mạn trong tình hình xã hội hiện nay, làm tiền đề cho một số bài giảng về tác phẩm
được học trong nhà trường phổ thông. Đồng thời đề tài còn cung cấp một số tài liệu tham khảo mở
rộng về văn xuôi lãng mạn thời kì 1932-1945, đặc biệt là về hai tác giả Khái Hưng và Nhất Linh
thuộc phái Tự lực văn đoàn.
Qua đề tài, một số sáng tác củ
a nhất Linh và Khái Hưng viết trước 1945 được nghiên cứu
một cách có hệ thống, kết hợp các góc độ: văn học sử, xã hội học, thi pháp học…
Ngoài việc tìm hiểu yếu tố hiện thực và yếu tố lãng mạn trong các tác phẩm, thì trong quá
trình thực hiện đề tài, tác giả luận văn cố gắng phát hiện thêm:
1. Những tìm tòi sáng tạo của Nhất Linh và Khái Hưng trong quá trình hiện đại hóa thể loại
tiể
u thuyết và đặc biệt quan tâm tới tiểu thuyết luận đề (trước chưa được chú ý).
2. Những đóng góp về một số vấn đề trong quan niệm về con người, tình yêu, nghệ thuật tả
cảnh thiên nhiên
3. Chú ý phân tích thêm các tác phẩm trước đây thường chỉ được nhắc tên hoặc nói lướt qua
(Nho Phong, Nắng thu, trước 1932 và Dòng sông Thanh Thủy (1960, 1961 – 3 tập) và Xóm cầu
mới (1961) sau 1945).
Qua đó tôi muốn làm rõ hơn những cống hiến, cả những hạn chế của của nhất Linh và Khái
Hưng cũng nh
ư nhìn nhận lại việc phản ánh hiện thực xã hội trong các sáng tác và xác định vị trí
của nhà văn cũng như nhóm Tự lực văn đoàn trong lịch sử văn học Việt Nam.
Trong việc nghiên cứu một số sáng tác của nhất Linh và Khái Hưng trước 1945 cũng giúp ta
thấy được từng bước chuyển biến của quan điểm tư tưởng cùng với nghệ thuật của các nhà văn này.
V. Lị
ch sử vấn đề
Khi nghiên cứu về các tác phẩm văn xuôi lãng mạn cũng như các tác phẩm, tác giả trong
nhóm Tự lực văn đoàn, đã có rất nhiều ý kiến trước đây nhìn nhận, phân tích, phê bình, đánh giá.
Khen có, chê có, đồng ý, tán thành có, phản bác có…. Cho nên khi đánh giá hiện tượng văn học
này, chúng ta có những quan điểm lịch sử rõ ràng, đồng thời đặt trào lưu văn học lãng mạn này nói
chung và nhóm Tự lực văn đoàn nói riêng vào trong mộ
t giai đoạn lịch sử nhất định, có cơ sở lịch
sử xã hội, văn hóa riêng. Đồng thời tìm hiểu những đặc điểm chung của chủ nghĩa lãng mạn qua
thái độ của nhà văn đối với thực tại, qua việc xây dựng nhân vật, qua những phương thức biểu hiện.
Từ năm 1945 đến nay, việc đánh giá Tự lực văn đoàn cũng như
phê bình những sáng tác của
Nhất Linh cũng như của Khái Hưng có nhiều diễn biến phức tạp. Trong từng thời kỳ có những ý
kiến khác nhau. Ở phạm vi luận văn này, tôi chỉ điểm lại diễn biến đánh giá trong hơn nửa thế kỷ
qua về những sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng viết trước 1945.
Tôi tạm thời chia quá trình đánh giá đó như sau: Những ý kiến trước năm 1945; T
ừ sau năm
1945 đến 1986; Từ năm 1986 đến nay.
1. Trước năm 1945
Nhất Linh và Khái Hưng là một trong những tác giả được nhiều người nói tới, chủ yếu ở thể
loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Đó là các bài phê bình của Trương Tửu, Đức Phiên, Trần Thanh
Mại, Hà Văn Tiếp, Nguyễn Lương Ngọc, Mộng Sơn, Quan Sơn, Vũ Ngọc Phan,… đã đăng trên các
báo: Loa, Sông Hương, Tinh hoa, Ngày nay, Thời th
ế, Hà Nội tân văn, Phụ nữ thời đàm…. Ngoài ra
có các công trình nghiên cứu của Trương Chính: Dưới mắt tôi (1939), Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện
đại, tập II (1942), Dương Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu (1942)… đều có đánh giá các sáng
tác của Nhất Linh và Khái Hưng.
Thời kỳ này, các nhà phê bình đề cao sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng. Những sáng tác
của các ông được coi là sự tiến bộ của tư tưởng m
ới, có ý nghĩa “cách mạng”. Trương Tửu viết trên
báo Loa (1935): “Đoạn tuyệt là một vòng hoa tráng lệ đặt lên đầu của chủ nghĩa cá nhân. Tác giả
đàng hoàng công nhận sự tiến bộ, và hăng hái tin tưởng ở tương lai”.
Nhiều ý kiến ca ngợi nội dung tư tưởng chống lễ giáo phong kiến, chống chế độ đại gia đình,
đòi giải phóng cá nhân của hai cuốn Đoạn tuyệt và Lạnh lùng. Nguyễn Lương Ngọc viết trên báo
Tinh hoa
(1937) về cuốn Lạnh Lùng: “Đặt nhân đạo lên trên luân thường đạo lý”. Hà Văn Tiếp
khẳng định giá trị phản ánh hiện thực của Đoạn tuyệt là làm sống lại bức tranh về cuộc sống vô
nhân đạo, mẹ chồng áp chế nàng dâu: “Những lời lẽ gay gắt của bà Phán làm ta liên tưởng Nhất
Linh đã đi làm dâu một lần rồi”. Nhà phê bình Trương Chính đi sâu phân tích, lý giải các cuốn
Đoạn tuy
ệt, Lạnh lùng và một số tác phẩm của Nhất Linh viết chung với Khái Hưng, Ông cho
rằng: “Đoạn tuyệt đánh dấu một cách rõ ràng thời kỳ thay đổi tiến hóa của xã hội Việt Nam. Nó
công bố sự bất hợp thời của một nền luân lý khắc khổ, eo hẹp, đã giết chết bao nhiêu hy vọng”
(6.11).
Tuy nhiên, có một số ý kiến phê phán cuốn Lạnh lùng, cho đó là cuốn sách phụ
nữ không
nên đọc. Trương Tửu viết ở báo Thời Thế (1937): “Tôi có thể kết án cuốn Lạnh lùng của Nhất Linh
phá hoại sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam”. Nhiều ý kiến không tán thành cách dùng yếu tố ngẫu
nhiên để giải quyết mâu thuẫn trong Đoạn tuyệt. Riêng về bút pháp nghệ thuật ngày càng tiến bộ
của Nhất Linh đã được đa số công nhận. Về cách mô t
ả tâm lý nhân vật, Trương Chính nhận xét:
“Ông Nhất Linh đã dùng cách quan sát tinh vi để tả những phiền phức riêng trong tâm hồn nhân
vật” (5.12).
Lời văn, cách viết của Nhất Linh được Trần Thanh Mại khen ngợi trên báo Sông Hương
(1937): “Văn tài uyển chuyển mạnh mẽ, không có chỗ nào đáng bỏ, không có mục nào phải thêm”.
Vũ Ngọc Phan nhìn nhận: “Nhất Linh là tiểu thuyết gia có khuynh hướng về cải cách: Tiểu thuyết
của ông biến hóa mau lẹ
từ tiểu thuyết cổ lỗ đến tiểu thuyết tình cảm, rồi đi thẳng vào tiểu thuyết
luận đề. Trong loại tiểu thuyết luận đề tiểu thuyết của Nhất Linh chiếm địa vị cao hơn cả”…
(144.801).
Theo Dương Quảng Hàm (trong Việt Nam văn học sử yếu), tác phẩm của hai nhà văn chủ
chốt Nhất Linh và Khái Hưng được xếp vào khuynh hướng xã h
ội và được đánh giá là có nhiều
đóng góp về đường xã hội và văn chương. Về đường xã hội, hai nhà văn này muốn xóa bỏ hủ tục để
cải cách xã hội theo các quan niệm mới…, chỉ trích các phong tục, tập tục cũ và giãi bày những lý
tưởng mới về sinh hoạt trong gia đình hoặc xã hội. Về đường văn chương, hai nhà văn này muốn trừ
khử lối văn chịu ảnh hưởng c
ủa Hán văn mà viết lối văn bình thường, giản dị, ít dùng chữ Nho, theo
cú pháp mới, để được phổ cập trong dân chúng…” (56.445).
Xét ở phương diện yếu tố hiện thực trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, Thạch Lam, một
trong những người của nhóm đã viết: “Một quyển truyện, một tờ báo muốn cho người ta ham đọc
phải làm cho người ta vui hoặc người ta cảm động, mà muốn cho người ta cảm động thì cần phải
giống sự thật”. Còn Thế Lữ thì nói: “Chỉ có những cảm giác của cuộc đời thật là còn lại và in sâu
trong trí nhớ của người đọc, còn một cốt truyện kể ra và kết cấu một cách khéo léo cho vừa ý độc
giả sẽ bị quên ngay, không ai bàn đến nữa”. Như vậy, rõ ràng cả hai cây bút chủ chốt củ
a Tự lực
văn đoàn đều phản đối thứ văn chương tuyên truyền đạo lý một cách lộ liễu (3.90-91).
Tóm lại, các nhà phê bình trước 1945 đánh giá cao truyện ngắn, tiểu thuyết của Nhất Linh và
Khái Hưng. Về nội dung tư tưởng có ý nghĩa cải cách xã hội, làm cho người đọc ghét cũ, yêu mới,
coi trọng quyền tự do cá nhân, góp phần đem luồng không khí mới phấn khởi, tiến bộ vào xã hội….
Về nghệ thuật có sự đổi mới, thành công trong cách mô tả tâm lý nhân vật, tả cảnh, kể chuyện, cách
sử dụng ngôn ngữ tài tình… Ở thời điểm lúc đó, tôi thấy cách đánh giá như vậy cũng không phải là
đề cao thái quá.
2. Từ năm 1945 đến trước 1986
Khoảng thời gian 1945 – 1954 do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, việc đánh giá một số
hiện tượng văn học tạm thời lắ
ng xuống. Từ 1954 đến 1986 có thời gian khu vực miền Nam, miền
Bắc có những ý kiến khác nhau.
2.1. Ở miền Nam trước năm 1975 nhiều tác phẩm của Nhất Linh và Khái Hưng được in lại.
Các công trình khảo cứu, nghiên cứu ra đời như Phê bình văn học thế hệ 32, tập III (1972) của
Thanh Lãng, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III (1960) của Phạm Thế Ngũ, Tự lực vă
n
đoàn (1960) của Doãn Quốc Sỹ, Lược sử văn nghệ Việt Nam (1974) của Thế Phong, Bình giảng về
Tự lực văn đoàn (1958) của Nguyễn Văn Xung, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1972) của Bùi Xuân
Bào,… có đề cập đến những sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng. Ngoài ra còn nhiều bài báo nói
tới Nhất Linh với Khái Hưng và các tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của các ông.
Đặc biệt, trong
tuần lễ tưởng niệm Nhất Linh có các bài của Đặng Tiến, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Xung,
Doãn Quốc Sỹ, Vũ Hạnh, Tường Hùng, Dương Nghiệm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Trương Bảo Sơn,
Thế Uyên…. Ngoài ra còn có hồi ký của Nguyễn Vỹ, Nguyễn Thị Thế kể về Nhất Linh. Bản thân
Nhất Linh cũng nêu quan niệm sáng tác và tự đánh giá tác phẩm của mình ở cuốn Vi
ết và đọc tiểu
thuyết.
Dẫu có những quan niệm khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu phê bình miền Nam hầu hết
có xu hướng đề cao những sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng. Thanh Lãng trong công trình Phê
bình văn học thế hệ 32, mục viết về Nhất Linh, đã chỉ ra những cái mới bước đầu của tác giả này:
“Đoạn tuyệt và Lạnh lùng là những bản cáo trạng dữ dội, đánh vào gia đình c
ũ Việt Nam. Loan và
Nhung biểu hiện cho cái tâm lý hay đúng hơn là cái ý hướng khao khát cái mới, đòi hỏi giải phóng”
(98.320).
Bùi Xuân Bào trong cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (viết bằng tiếng Pháp) đã dành
nhiều trang phân tích tác phẩm của Nhất Linh. Ông viết: “Từ Đoạn tuyệt nhân cách văn học của
Nhất Linh được khẳng định, ông đứng ra bảo vệ cá nhân chống lại gia đình” và “Bướm trắng là
bước phát triển mới của Nhất Linh. Tiểu thuyết này rất độc đáo chưa bao giờ nh
ững người đi trước,
hoặc đồng thời với Nhất Linh, lại đi xa đến thế trong việc phát triển một tấn kịch lương tâm”. Thế
Phong khen tác phẩm Đôi bạn: “Nhất Linh tạo cho đời một cuốn tiểu thuyết mà chủ đề thật sự là
hành động cách mạng bí mật” hay: “Đôi bạn rất tiêu biểu cho bước chuyển tiếp diễn ra ở thanh
niên, từ giấ
c mơ hạnh phúc cá nhân, đến giấc mơ ưa thích hành động anh hùng” (147.82).
Thế Phong khen những đoạn mô tả tình yêu của Đôi bạn, cách tỏ tình bằng mắt của nhân vật
Loan – Dũng. Đặng Tiến viết: “Nhân vật Nhất Linh sống trong không gian không phải là ngoại giới
mà trong không gian nội tâm; Dũng sống không phải trong mùa thu trước mắt, mà là mùa thu của
lòng chàng” (164.16). Nhất Linh được coi là đã thành công trong việc mô tả chiều sâu nội tâm nhân
vật và tiểu thuyế
t của ông có tính hiện đại. Bùi Xuân Bào nhận định: “Đến Bướm trắng, kỹ thuật
viết tiểu thuyết của Nhất Linh đạt đến hoàn hảo” (4.371).
Các nhà nghiên cứu cũng phê phán những hạn chế của tiểu thuyết Nhất Linh. Phạm Thế Ngũ
nói về việc xây dựng nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt có nhiều chỗ vô lý như việc Loan chủ trương
thờ cúng; hay Doãn Quốc Sỹ cũ
ng chỉ ra cái không hợp lý trong tâm lý Loan nhất là ở chương hai.
Bùi Xuân Bào lý giải: “Do quá say sưa với luận đề nên nhân vật Loan thiếu sức sống, tác giả chiếu
vào nhân vật của mình một luồng ánh sáng quá mạnh khiến Loan trở thành trừu tượng” (4.372). Lê
Hữu Mục cho rằng, nhân vật Loan có hành vi trái với đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Nhất Linh trong cuốn Viết và đọc tiểu thuyết cũng nhận thấy “Ý
định chứng minh cho luận đề là
Đoạn tuyệt, Hai vẻ đẹp kể cả Lạnh lùng kém hay”.
Còn đối với văn chương Khái Hưng, các nhà nghiên cứu nhận xét hầu hết tác phẩm của ông
thường xoáy vào chủ đề: đề cao tình yêu tự do, chống lễ giáo phong kiến, một phần cải cách xã hội.
Khái Hưng rất hiểu tâm lý phụ nữ. Truyện của ông phần kết bao giờ cũng gây cả
m giác bâng
khuâng, man mác cho bạn đọc. Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Khái Hưng viết truyện ngắn tuyệt hay,
linh hoạt và cảm người ta hơn là truyện dài…. Truyện ngắn Khái Hưng có một đặc biệt là ông tìm ra
ý nghĩa của mọi việc trên đời, dùng ngôn ngữ giản dị trong sáng ghi lại, làm cho người ta cảm nhận
chứ không gò ép”. Theo Vũ Ngọc Phan: “Đọc những truyện ngắn của Khái Hưng, tôi nhận thấy
nghệ thuật của ông là tìm cho ra nh
ững ý nghĩa đau đớn hay khoái lạc của mọi việc ở trên đời, rồi
ghi lại bằng những lời văn gọn gàng, sáng suốt, làm cảm người ta bởi những việc mình dàn xếp, chứ
không phải cám dỗ người ta bởi những thuyết mà mình tưởng là cao cả”, còn với Phạm Thế Ngũ
thì: “Đây là một cây bút đi nhặt nhạnh chuyện người, một thứ gương pha lê bước ra cuộc
đời lắm
vẻ, dung nạp một cách trung thực và khoan hòa, dung dị và hóm hỉnh những tâm tư và hình thái của
một xã hội chung quanh ông qua nhiều trang bất hủ của Gia đình, nhất là của Thừa tự” (49.101).
Phê bình Vương Trí Nhàn nhận xét: “Bên cạnh một cuốn tiểu thuyết tâm lý kinh điển như
Hồn bướm mơ tiên chính là một tác phẩm lâu nay được xem là lãng mạn, Khái Hưng viết nhiều tiểu
thuyết mà về chất liệu là giàu chấ
t hiện thực và về cách viết là thuộc loại tiểu thuyết toàn cảnh”
(49.183).
Ngay cả trong lời tựa viết cho Hồn bướm mơ tiên, Nguyễn Bảo Sơn (tức Nhất Linh) cũng đã
nhận xét: “Tác giả không tả cảnh rườm rà, chỉ một vài nét chấm phá thanh đạm như những bức thủy
họa của Tàu” (39.282).
Đánh giá Tự Lực Văn Đoàn, Nguyễn Văn Trung, Giáo sư Đại h
ọc Văn khoa Sài Gòn, viết:
“Nếu nhìn con người theo diễn tiến lịch sử, có thể coi con người trong tác phẩm của nhiều nhà văn
trong Tự Lực Văn Đoàn tiêu biểu cho giai đoạn đầu tiên của sự diễn tiến đó, nghĩa là giai đoạn tự
giác. Sự tự giác đó xuất hiện trong lịch sử xã hội Việt Nam như một phản kháng chống đối với quan
niệm về
con người của xã hội cũ”. Nhận định nói trên gần gũi với cách đánh giá Tự lực văn đoàn
của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta lại không thể đồng tình khi ông Nguyễn Văn Trung cho rằng
những tác giả “trình bày những vấn đề gia đình, hôn nhân như kiểu Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt”
sẽ bị bỏ quên đi vì chúng phục vụ cho những mục tiêu nhất thời, trong khi đó Hồn bướ
m mơ tiên sẽ
có giá trị lâu dài vì tác phẩm “bày tỏ một cái gì trường tồn nơi con người và bày tỏ trong một công
trình xây dựng chứa đựng nhiều rung động nghệ thuật” (39.245).
Nhìn chung, các nhà phê bình miền Nam trước 1975 có xu hướng đánh giá quá cao những
sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng cả về nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên, họ cũng chỉ ra được
phần nào cái chưa hay trong các tiểu thuyết luận đề, và tính chất lãng mạn không tưởng trong một
số
tác phẩm.
2.2. Khu vực miền Bắc trước 1975, có các công trình: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam
(1957) của nhóm Lê Quý Đôn, Sơ thảo văn học Việt Nam của Viện văn học (1964), Tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại, tập I (1974) của Phan Cự Đệ, Văn học Việt Nam 1930 – 1945 (1961) của Bạch Năng
Thi – Phan Cự Đệ. Đồng thời một số
bài nghiên cứu của Nguyễn Đức Đàn, Vũ Đức Phúc, Nam
Mộc… cũng có đề cập đến Tự lực văn đoàn, Nhất Linh và Khái Hưng. Song, cách đánh giá còn dè
dặt, do quan điểm lúc đó khi nhìn nhận văn học lãng mạn còn bị định kiến chính trị chi phối, nên
gần như còn cái nhìn nặng nề với tác phẩm văn học, chẳng hạn: “Tinh thần dân tộc không có trong
tác phẩm của Nhất Linh, ít nhất c
ũng không có cơ sở chắc chắn. Bởi lẽ tác giả không nói tới sự áp
bức bóc lột của đế quốc”. Sách giáo khoa Văn lớp 12 phổ thông nhận định chung về văn học lãng
mạn: “Căn bản là bạc nhược, suy đồi, phản động, không giúp ích gì cho cách mạng” (NXB Giáo
dục Hà Nội, 1980, tr.8).
Nhận định về hai tác giả Khái Hưng và Nhất Linh – hai cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn,
Nguyễn Đức Đàn, trên tập san Văn – Sử – Địa, viết “cái tác hại rõ ràng nhất của các tiểu thuyết của
Khái Hưng và Nhất Linh là đã xô đẩy một số đông thanh niên trí thức và học sinh rạo rực những
khát vọng được sống xa hoa và phóng đãng, trốn tránh thực tế đấu tranh dân tộ
c.
Trong cuốn Sơ khảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945, Vũ Đức Phúc đã phê phán
những mặt tiêu cực, lạc lõng của Tự lực văn đoàn. Cách đánh giá của Vũ Đức Phúc khá cực đoan,
thiên về phủ định hơn là chắt lọc, “gạn đục khơi trong”. Về Nhất Linh, Vũ Đức Phúc viết: “Tóm lại,
sau khi chống phá lễ giáo phong kiến, Nhất Linh không còn biết phát hiện ra m
ột yếu tố gì tiến bộ
trong cuộc sống. Chỉ có những tư tưởng viễn vông về chủ nghĩa anh hùng cá nhân và một ít triết lý
về sự hành lạc ích kỷ” (48.18).
Những nhận định về Khái Hưng cũng nặng nề: “Tiêu Sơn tráng sĩ là một quyển truyện có ít
nhiều tính chất “kiếm hiệp” ca ngợi bọn người phục vụ cho một chế độ suy tàn, không hề nghĩ t
ới
nhân dân, khi gặp thất bại thì tìm cách thoát ly vào tình yêu và rượu. Trống mái tô vẽ lối sống của
tư sản: đẹp đẽ, sang trọng, ăn chơi nhàn rỗi. Nhân vật Hiền mê một người đánh cá như kiểu các phụ
nữ tư sản châu Âu yêu “một con vật đẹp”. Chủ nghĩa cải lương phản động biểu hiện rõ rệt nhất
trong Gia đình …” (48.18). Rõ ràng đây là cách nhìn nhận, đánh giá còn nặ
ng nề, nghiệt ngã, lướt
qua và đầy định kiến.
Nói chung việc đánh giá trào lưu văn học lãng mạn trước đây trên cả hai khu vực (Bắc và
Nam) đều chưa đạt yêu cầu khách quan, khoa học. Nếu ở Miền Nam, việc khen có phần nào dựa
trên hàm ý đề cao văn học lãng mạn tư sản thì ở miền Bắc, việc chê lại dựa trên nhưng tiêu chí sau:
a. Lấy những tiêu chí chính trị của văn học cách mạ
ng làm thước đo mà không thấy rằng văn
học lãng mạn có những đặc trưng riêng của nó.
b. Quan niệm về khái niệm “hiện thực” còn quá hẹp, cho rằng hiện thực của văn học lãng
mạn nói chung không phải là hiện thực của đời sống dân nghèo chống lại sự áp bức của địa chủ, đế
quốc (như văn học hiện thực phê phán). Với nhận định cho rằ
ng văn học lãng mạn “xa rời thực
tiễn”, các tác giả đã quên mất rằng thời kỳ 1932-1945 trong xã hội Việt Nam, tầng lớp trí thức tiểu
tư sản, thanh niên cũng là một bộ phận, một thành phần căn bản của xã hội và viết về đời sống tâm
tư của họ cũng là viết về một mảng hiện thực không thể thiếu được của đờ
i sống xã hội.
Dựa vào những tiêu chí trên, không xuất phát từ bản thân văn học đồng nhất con người chính
trị với con người văn học, nhiều nhận định đã gần như phủ định sạch trơn trào lưu văn học lãng mạn
Việt Nam là một hiện tượng văn học đặc biệt, đã tạo bước ngoặt cho văn học Việt nam chuyển hẳn
t
ừ trung đại sang hiện đại nên có những đóng góp độc đáo cũng như hạn chế lịch sử, không thể
tránh khỏi trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc.
Năm 1990, trong bài viết Mấy suy nghĩ về vấn đề học thuật hôm nay, nhân vấn đề văn học
lãng mạn, Văn Tâm đã đặt ra câu hỏi “Khi nhìn nhận lại văn học lãng mạn, liệu có cần thêm phần
cách tân quan điểm học thuật và bổ sung công cụ khám phá?”. Trước đó, năm 1989, câu hỏi trên
cũng đã được Nguyễn Đình Chú đề cập đến trong bài Cần nhận thức
đúng thời kỳ văn học 30 – 45
khi ông cho rằng việc đánh giá thời kỳ văn học 30 – 45 có hai điểm đáng chú ý nhất đó là:
a. Xử lý đúng mối quan hệ giữa quan điểm chính trị và văn chương. Thoát ly hoàn toàn quan
điểm chính trị là “sai lầm” nhưng “chính trị hóa việc nghiên cứu văn chương” như trước đây cũng là
“phiến diện và cực đoan”.
b. Khi đánh giá các hiện tượng v
ăn học, ta không thể bỏ qua thế giới vô thức, thế giới tâm
linh của con người. Trước đây ta mới chú ý đến con người “hữu thức, lý tính” và con người “giai
cấp” mà chưa chú ý đến con người “vô thức, tiềm thức, phi lý, trực giác, bản năng” và con người
“nhân loại”.
3. Từ năm 1986 đến nay:
Cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ kết thúc, đất nước thống nhất, chuyện hôm qua không
phả
i là chuyện hôm nay. Từ đó nhìn lại Tự lực văn đoàn cũng cần có sự đánh giá đúng đắn, cần ghi
nhận những đóng góp của trào lưu văn học này. Trên thực tế, từ sau Đại hội VI (1986) cùng với một
không khí dân chủ hóa trong đời sống xã hội, trong sáng tác văn học, lý luận phê bình cũng đã có sự
đổi mới từng. Tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã
được xuất bản trở lại ở các Nhà xuất bản Văn học,
Nhà xuất bản Đại học. Những tác phẩm chống lễ giáo phong kiến của Tự lực văn đoàn như Nửa
chừng xuân của Khái Hưng, Đoạn tuyệt của Nhất Linh, rồi Gánh hàng hoa, Đôi bạn, Lạnh
lùng…. Nhiều bài nghiên cứu về Tự lực văn đoàn được công bố
với tinh thần cởi mở hơn. Và đã
đến lúc cần có một tiếng nói chung qua trao đổi luận bàn để có thể thống nhất được những vấn đề cơ
bản.
Từ năm 1986 đến nay các nhà nghiên cứu phê bình có nhìn nhận lại nhóm Tự lực văn đoàn
và những sáng tác của Nhất Linh và Khái Hưng đã được đánh giá thỏa đáng hơn. Các bài nghiên
cứu của Trương Chính, Trần Hữu Tá, Nguyễn Hoành Khung, Lê Th
ị Đức Hạnh, Hoàng Xuân Hãn,
Trần Đình Hượu, Đỗ Đức Dục, Lê Thị Dục Tú, Nguyễn Hữu Hiếu, Hà Minh Đức, Đỗ Đức Hiểu
.v.v…, các công trình của Phan cự Đệ, Trần Thị Mai Nhi, Hồi ký của Tú Mỡ,… được đặc san báo
Người giáo viên nhân dân (Số 27 đến 31, năm 1989) đăng ý kiến trong cuộc hội thảo văn chương
Tự lực văn đoàn ngày 27-5-1989 của Khoa Ngữ văn Trường Đại h
ọc Tổng hợp phối hợp với nhà
xuất bản Đại học tổ chức (do Giáo sư Hà Minh Đức tổng thuật). Tham dự hội thảo có đông đảo các
nhà văn, nhà thơ ở cả hai thời kỳ trước và sau Cách mạng như Huy Cận, Tế Hanh, Nguyễn Văn
Bổng, Bùi Hiển, Trương Chính, Vũ Tú Nam, các giáo sư Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Hà Minh
Đức, Phong Lê…. Ý kiến tuy còn có chỗ khác nhau nhưng phần th
ống nhất chung là sự ghi nhận
những đóng góp quan trọng của Tự lực văn đoàn cho văn xuôi thời hiện đại. Ý kiến phát biểu của
các nhà văn về Tự lực văn đoàn không còn bồng bột như buổi ban đầu, không định kiến trong không
khí xã hội thời kỳ chiến tranh. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng nhận xét: “Họ đã cho chúng tôi thấy văn
chương là việc đúng đắn, sang trọng, gợi cho nhiều ngườ
i ước muốn lấy nó làm ý tưởng cho đời
mình. Nhìn lại trong thời đó, văn chương Tự lực văn đoàn không giúp ích gì vào việc thức tỉnh lòng
yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng của tuổi trẻ chúng tôi. Nhưng không phải vì vậy mà bỏ
qua những đóng góp đáng kể của họ vào văn học nước nhà, nhất là về ngôn ngữ nghệ thuật”. Nhà
văn Bùi Hiển nhắc đến những ấn t
ượng đẹp về một số nhân vật trong các tác phẩm Tự lực văn đoàn:
“Đó là những nhân vật có tinh thần phản kháng. Họ dám chống đối lại lễ giáo, đạo đức của đại gia
đình phong kiến. Họ khinh bỉ cả gốc quyền quý và lối sống bóc lột của gia đình mình như Dũng
trong Đoạn tuyệt và Đôi bạn. Mặt biểu hiện thứ hai là họ
có tình yêu và tình bạn khá trong sáng và
đẹp đẽ” (48.209).
Khi quan niệm yếu tố hiện thực trong văn chương lãng mạn thì giáo sư Lê Đình Kỵ cho rằng:
“Hầu hết những vấn đề mà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nêu ra đều là những vấn đề thời sự của xã
hội bấy giờ. Không ít tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn đã đưa ra nh
ững vần đề gay cấn của xã hội
vào trong trang sách. Chỉ có điều mặc dù họ đã cố gắng bám sát đời sống, đưa ra các vấn đề xã hội,
nhưng cách tiếp cận hiện thực của họ, quan niệm nghệ thuật của họ đã không làm cho các tác phẩm
của mình trở thành những sản phẩm của văn học hiện thực”.
Theo giáo sư Phan Cự Đệ thì tiểu thuyế
t Tự lực văn đoàn có những cuốn là lãng mạn tiến bộ,
thấm đẫm tinh thần dân tộc và khát vọng tự do, có tiểu thuyết giàu yếu tố hiện thực. Các tiểu thuyết
lãng mạn đã thực hiện yêu cầu điển hình hoá theo kiểu lãng mạn chủ nghĩa, nghĩa là xây dựng được
những nhân vật phóng đại và lý tưởng hoá, đứng cao hơn hoàn cảnh và nhìn chung, không chịu sự
tác động của hoàn c
ảnh. Một số nhân vật có những nét điển hình và giàu chất hiện thực.
Trường Chinh đã nhận xét: “Đối với trào lưu văn nghệ lãng mạn, chúng ta không nên mạt
sát, vơ đũa cả nắm mà cần đi vào phân tích những dòng tiến bộ trong những thời kỳ khác nhau.
Chúng ta cần hết sức cố gắng tìm hiểu mọi nhân tố yêu nước và tiến bộ trong những tác phẩm lãng
mạn trước đây” (141.145).
Nhận định đó là căn cứ và chuẩn mực để đánh giá văn học lãng mạn, văn chương Tự lực văn
đoàn. Tuy nhiên điều quan trọng là không khí xã hội mà trực tiếp là không khí tiếp nhận không
thích hợp để tác phẩm Tự lực văn đoàn có thể đến với người đọc. Nói như nhà phê bình Trương
Chính, tâm lý người nghiên cứu là dè dặt, phê phán hơn là khẳng định: “Rút cục lại trong một th
ời
gian rất dài, ở trường phổ thông cũng như trường đại học, học sinh, sinh viên cứ yên chí sách Tự lực
văn đoàn là văn chương đồi trụy, phản động thậm chí còn cho là sách cấm”.
Trưởng thành sau Cách mạng tháng Tám, Vũ Tú Nam là nhà văn am hiểu khá sâu sắc Tự lực
văn đoàn. Khoảng cách thời gian tạo cho ông một cách nhìn riêng về văn đoàn này: “Tự lực văn
đoàn có đóng góp tích cực ở nội dung chống phong kiến, đấu tranh cho tự do, chống phát xít. Nghệ
thuật có những cái mới, sách báo in đẹp, tổ chức giỏi…”(49.210). Huy Cận vốn là một cộng tác viên
thân thiết và gần gũi của Tự lực vă
n đoàn đã có những nhận xét thỏa đáng: “Ta đã có đủ thời gian
để đánh giá sự đóng góp của Tự lưc văn đoàn. Có thể nói Tự lực văn đoàn đã đóng góp lớn vào văn
học sử Việt Nam. Họ có hoài bão về văn hóa dân tộc. Họ có điều kiện để đi vào chuyện văn
chương…. Tự lực văn đoàn đã có đóng góp l
ớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói
và câu văn của dân tộc với lối văn trong sáng và rất Việt Nam” (49.208). Ngoài ra còn có các công
trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn như của giáo sư Phan Cự Đệ, các luận án tiến sĩ của Trịnh Hồ
Khoa và của Nguyễn Thị Dục Tú.
Giáo sư Hà Minh Đức nêu lên một số vấn đề cần đặt ra trong việc nghiên cứu Tự lực vă
n
đoàn: “Tự lực văn đoàn thường được xem là trào lưu văn học lãng mạn nhưng thực tế không thuần
nhất. Nhiều tác phẩm có giá trị hiện thực như Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Thoát ly,… cũng
không nên hiểu lãng mạn là hàm ý tiêu cực. Chất lãng mạn thường biểu hiện ở các nhân vật trẻ
trung, quan hệ yêu đương và những mơ ước của họ về hoạ
t động xã hội. Văn chương Tự lực văn
đoàn mang tính chất phản phong khá mạnh mẽ. Nó trực diện tiến công vào đạo đức và lễ giáo của
đại gia đình phong kiến và đã thắng thế trong công luận. Đó là điều mà các tác phẩm ở thập kỷ
trước chưa làm được…. Về nghệ thuật cũng cần phân tích rõ những đóng góp quan trọng của Tự lực
văn đoàn v
ới văn chương dân tộc, đặc biệt ở bước ngoặt, chuyển từ thời kỳ cận đại sang quỹ đạo
của thời kỳ hiện đại” (49.207).
Nhà nghiên cứu văn hóa Phong Lê nhận xét: “Cả một thời gian dài chúng ta phê phán Tự lực
văn đoàn. Bây giờ cần nói lại. Về chính trị mà nói Tự lực văn đoàn là tiếng thở dài chống chế độ
thực dân như
đồng chí Trường Chinh đã nói…. Tự lực văn đoàn có những cuốn hiện thực… và có
những cách tân và nhảy vọt về nghệ thuật” (49.210).
Giáo sư Trần Đình Hượu muốn đánh giá Tự lực văn đoàn như một hiện tượng “phát triển
liên tục của lịch sử trong quá trình hiện đại hóa của văn học phương Đông”. Những năm hai mươi là
quá trình khẳng định vă
n học mới và Tự lực văn đoàn đánh dấu giai đoạn toàn thắng với sự đóng
góp lớn, chủ động và tích cực”. Ông cho rằng trong nhiều tác phẩm trước kia, lễ giáo phong kiến
chưa hiện ra dưới bộ mặt tàn bạo và các tác giả chưa thấy rõ “sau số mệnh là những cái gì trói buộc
con người”. Tự lực văn đoàn rất có ý thức và rất nhất quán trong việc tố cáo sự
ràng buộc của gia
đình và họ hàng. Chủ trương giải phóng cá nhân hoặc cải cách của họ có nhiều hạn chế. Tuy nhiên
“so với các nhà văn những năm ba mươi, bốn mươi trước cách mạng tháng Tám, chính họ là nhóm
có ý thức cải tạo xã hội, muốn đổi mới xã hội” và “Tự lực văn đoàn rất có ý thức đi tìm cái đẹp.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét