(3) Trong giai đoạn xây lắp : theo dõi , giám sát thường xuyên công
tác thi công xây lắp và lắp đặt thiết bị . Kiểm tra hệ thống đảm bảo chất
lượng , kế hoạch chất lượng của nhà thầu nhằm đảm bảo việc thi công xây
lắp theo đúng hồ sơ thiết kế đã được duyệt.
Kiểm tra biện pháp thi công , tiến độ thi công , biện pháp an toàn lao
động mà nhà thầu đề xuất . Kiểm tra xác nhận khối lượng hoàn thành , chất
lượng công tác đạt được và tiến độ thực hiện các công tác . Lập báo cáo
tình hình chất lượng và tiến độ phục vụ giao ban thường kỳ của chủ đầu
tư . Phối hợp các bên thi công và các bên liên quan giải quyết những phát
sinh trong quá trình thi công . Thực hiện nghiệm thu các công tác xây lắp .
Lập biên bản nghiệm thu theo bảng biểu qui định .
Những hạng mục , bộ phận công trình mà khi thi công có những dấu
hiệu chất lượng không phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đã định trong tiêu chí
chất lượng của bộ hồ sơ mời thầu hoặc những tiêu chí mới phát sinh ngoài
dự kiến như độ lún quá qui định , trước khi nghiệm thu phải lập văn bản
đánh giá tổng thể về sự cố đề xuất của đơn vị thiết kế và của các cơ quan
chuyên môn được phép .
(4) Giai đoạn hoàn thành xây dựng công trình : Tổ chức giám sát
của chủ đầu tư phải kiểm tra , tập hợp toàn bộ hồ sơ pháp lý và tài liệu về
quản lý chất lượng . Lập danh mục hồ sơ , tài liệu hoàn thành công trình
xây dựng. Khi kiểm tra thấy công trình hoàn thành đảm bảo chất lượng ,
phù hợp với yêu cầu của thiết kế và tiêu chuẩn về nghiệm thu công trình ,
chủ đầu tư tổ chức tổng nghiệm thu lập thành biên bản . Biên bản tổng
nghiệm thu là cơ sở pháp lý để làm bàn giao đưa công trình vào khai thác
sử dụng và là cơ sở để quyết toán công trình.
1.2.2. Nhiệm vụ của giám sát bảo đảm chất lượng trong công tác hoàn
thiện công trình và an toàn :
(i) Quan hệ giữa các bên trong công trường : Giám sát bảo
đảm chất lượng trong công tác hoàn thiện và an toàn cho
công trình nằm trong nhiệm vụ chung của giám sát bảo
đảm chất lượng công trình là nhiệm vụ của bên chủ đầu
tư. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chủ nhiệm dự án đại diện
cho chủ đầu tư có các cán bộ giám sát bảo đảm chất lượng
công trình . Những người này là cán bộ của Công ty Tư
vấn và Thiết kế ký hợp đồng với chủ đầu tư , giúp chủ đầu
tư thực hiện nhiệm vụ này. Thông thường chỉ có người
chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng xây lắp nói chung ,
còn khi cần đến chuyên môn nào thì Công ty tư vấn điều
5
động người có chuyên môn theo ngành hẹp đến tham gia
hỗ trợ cho người chịu trách nhiệm chung.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUAN HỆ ĐIỂN HÌNH MỘT CÔNG
TRƯỜNG
* * * * * * *
(ii) Phối hợp tiến độ là nhiệm vụ trước hết của chủ nhiệm dự án mà
người đề xuất chính là giám sát bảo đảm chất lượng . Trước khi bắt đầu
tiến hành các công tác xây lắp cần lập tổng tiến độ . Tổng tiến độ chỉ cần
vạch ra những việc thuộc bên thi công nào vào thời điểm nào mà mức chi
tiết có thể tính theo tầng nhà . Tổng tiến độ cho biết vào thời gian nào công
tác nào phải bắt đầu để các thành viên tham gia xây dựng toàn bộ công
trình biết và phối hợp . Từ tổng tiến độ mà các thành viên tham gia xây lắp
6
Chủ đầu tư
Nh thà ầu
Thầu phụ
Hoặc Nhà
máy
*Chủ nhiệm dự
án
*Tư vấn đảm bảo
chất lượng
*Các tư vấn
chuyên môn
*Kiểm soát khối
lượng
Chỉ huy
Công trường
Giám sát chất lượng
và
Phòng ban kỹ thuật
của nh thà ầu
Đội
thi công
Đội
thi công
Đội
thi công
và cung ứng lập ra bảng tiến độ thi công cho đơn vị mình trong đó hết sức
chú ý đến sự phối hợp đồng bộ tạo diện thi công cho đơn vị bạn .
(iii) Chủ trì thông qua biện pháp thi công và biện pháp đảm bảo
chất lượng.
Trước khi khởi công , Chủ nhiệm dự án và tư vấn đảm bảo chất lượng cần
thông qua biện pháp xây dựng tổng thể của công trình như phương pháp
đào đất nói chung , phương pháp xây dựng phần thân nói chung , giải pháp
chung về vận chuyển theo phương đứng , giải pháp an toàn lao động
chung, biện pháp thi công các công tác hoàn thiện, công tác lắp đặt trang
thiết bị, các yêu cầu phối hợp và điều kiện phối hợp chung . Nếu đơn vị
thi công thực hiện công tác theo ISO 9000 thì cán bộ tư vấn sẽ giúp Chủ
nhiệm dự án tham gia xét duyệt chính sách đảm bảo chất lượng của Nhà
thầu và duyệt sổ tay chất lượng của Nhà thầu và của các đợn vị thi công
cấp đội .
(iv) Chủ trì kiểm tra chất lượng , xem xét các công việc xây lắp
làm từng ngày . Trước khi thi công bất kỳ công tác nào , nhà thầu cần
thông báo để tư vấn đảm bảo chất lượng kiểm tra việc chuẩn bị . Quá trình
thi công phải có sự chứng kiến của tư vấn đảm bảo chất lượng . Khi thi
công xong cần tiến hành nghiệm thu chất lượng và số lượng công tác xây
lắp đã hoàn thành.
1.3. Phương pháp kiểm tra chất lượng trên công trường :
Thực chất thì người tư vấn kiểm tra chất lượng là người thay mặt
chủ đầu tư chấp nhận hay không chấp nhận sản phẩm xây lắp thực hiện
trên công trường mà kiểm tra chất lượng là một biện pháp giúp cho sự
khẳng định chấp nhận hay từ chối .
Một quan điểm hết sức cần lưu tâm trong kinh tế thị trường là :
người có tiền bỏ ra mua sản phẩm phải mua được chính phẩm , được sản
phẩm đáp ứng yêu cầu của mình. Do tính chất của công tác xây dựng khó
khăn , phức tạp nên chủ đầu tư phải thuê tư vấn đảm báo chất lượng.
Cơ sở để nhận biết và kiểm tra chất lượng sản phẩm là sự đáp ứng
các Yêu cầu chất lượng ghi trong bộ Hồ sơ mời thầu . Hiện nay chúng ta
viết các yêu cầu chất lượng trong bộ Hồ sơ mời thầu còn chung chung vì
các cơ quan tư vấn chưa quen với cách làm mới này của kinh tế thị
trường .
Những phương pháp chủ yếu của kiểm tra chất lượng trên công trường là :
7
1.3.1. Người cung ứng hàng hoá là người phải chịu trách nhiệm về chất
lượng sản phẩm trước hết .
Đây là điều kiện được ghi trong hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và
nhà thầu . Từ điều này mà mọi hàng hoá cung ứng đưa vào công trình phải
có các chỉ tiêu chất lượng đáp ứng với yêu cầu của công tác. Trước khi đưa
vật tư , thiết bị vào tạo nên sản phẩm xây dựng nhà thầu phải đưa mẫu và
các chỉ tiêu cho Chủ nhiệm dự án duyệt và mẫu cũng như các chỉ tiêu phải
lưu trữ tại nơi làm việc của Chủ đầu tư ở công trường. Chỉ tiêu kỹ thuật
(tính năng ) cần được in thành văn bản như là chứng chỉ xuất xưởng của
nhà cung ứng và thường yêu cầu là bản in chính thức của nhà cung ứng .
Khi dùng bản sao thì đại diện nhà cung ứng phải ký xác nhận và có dấu
đóng xác nhận màu đỏ và có sự chấp thuận của Chủ đầu tư bằng văn bản.
Mọi sự thay đổi trong quá trình thi công cần được Chủ đầu tư duyệt lại
trên cơ sở xem xét của tư vấn bảo đảm chất lượng nghiên cứu đề xuất đồng
ý. Nhà cung ứng và nhà thầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự
tương thích của hàng hoá mà mình cung cấp với các chỉ tiêu yêu cầu và
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng và sự phù hợp của sản
phẩm này.
Cán bộ tư vấn đảm bảo chất lượng là người có trách nhiệm duy nhất
giúp Chủ nhiệm dự án kết luận rằng sản phẩm do nhà thầu cung ứng là phù
hợp với các chỉ tiêu chất lượng của công trình . Cán bộ tư vấn giám sát bảo
đảm chất lượng được Chủ đầu tư uỷ nhiệm cho nhiệm vụ đảm bảo chất
lượng công trình và thay mặt Chủ đầu tư trong việc đề xuất chấp nhận
này .
1.3.2. Kiểm tra của tư vấn kỹ thuật chủ yếu bằng mắt và dụng cụ đơn giản
có ngay tại hiện trường :
Một phương pháp luận hiện đại là mỗi công tác được tiến hành thì
ứng với nó có một ( hay nhiều ) phương pháp kiểm tra tương ứng. Nhà
thầu tiến hành thực hiện một công tác thì yêu cầu giải trình đồng thời là
dùng phương pháp nào để biết được chỉ tiêu chất lượng đạt bao nhiêu và
dùng dụng cụ hay phương tiện gì cho biết chỉ tiêu ấy . Biện pháp thi công
cũng như biện pháp kiểm tra chất lượng ấy được tư vấn trình Chủ nhiệm
dự án duyệt trước khi thi công . Quá trình thi công , kỹ sư của nhà thầu
phải kiểm tra chất lượng của sản phẩm mà công nhân làm ra . Vậy trên
công trường phải có các dụng cụ kiểm tra để biết các chỉ tiêu đã thực hiện.
Thí dụ : người cung cấp bê tông hoặc vữa thương phẩm phải chịu trách
nhiệm kiểm tra cường độ chịu nén mẫu khi mẫu đạt 7 ngày tuổi . Nếu kết
quả bình thường thì nhà thầu kiểm tra nén mẫu 28 ngày . Nếu kết quả của
8
7 ngày có nghi vấn thì nhà thầu phải thử cường độ nén ở 14 ngày và 28
ngày để xác định chất lượng bê tông . Nếu ba loại mẫu 7 , 14 , 28 có kết
quả gây ra nghi vấn thì tư vấn kiểm tra yêu cầu làm các thí nghiệm bổ sung
để khẳng định chất lượng cuối cùng. Khi thi công cọc nhồi, nhất thiết tại
nơi làm việc phải có tỷ trọng kế để biết dung trọng của bentonite , phải có
phễu March và đồng hồ bấm giây để kiểm tra độ nhớt của dung dịch khoan
, phải có ống nghiệm để đo tốc độ phân tách nước của dung dịch . . .
Nói chung thì tư vấn đảm bảo chất lượng phải chứng kiến quá trình
thi công và quá trình kiểm tra của người thi công và nhận định qua hiểu
biết của mình thông qua quan sát bằng mắt với sản phẩm làm ra . Khi nào
qui trình bắt buộc hay có nghi ngờ thì tư vấn yêu cầu nhà thầu thuê phòng
thí nghiệm kiểm tra và phòng thí nghiệm có nghĩa vụ báo số liệu đạt được
qua kiểm tra cho tư vấn để tư vấn kết luận việc đạt hay không đạt yêu cầu
chất lượng. Để tránh tranh chấp , tư vấn không nên trực tiếp kiểm tra mà
chỉ nên chứng kiến sự kiểm tra của nhà thầu và tiếp nhận số liệu để quyết
định chấp nhận hay không chấp nhận chất lượng sản phẩm . Khi có nghi
ngờ , tư vấn sẽ chỉ định người kiểm tra và nhà thầu phải thực hiện yêu cầu
này .
1.3.3. Kiểm tra bằng dụng cụ tại chỗ :
Trong quá trình thi công , cán bộ , kỹ sư của nhà thầu phải thường
xuyên kiểm tra chất lượng sản phẩm của công nhân làm ra sau mỗi công
đoạn hay giữa công đoạn khi thấy cần thiết . Những lần kiểm tra này cần
có sự chứng kiến của tư vấn đảm bảo chất lượng. Mọi việc kiểm tra và thi
công không có sự báo trước và yêu cầu tư vấn đảm bảo chất lượng chứng
kiến , người tư vấn có quyền từ chối việc thanh toán khối lượng đã hoàn
thành này . Kiểm tra kích thước công trình thường dùng các loại thước như
thước tầm , thước cuộn 5 mét và thước cuộn dài hơn . Kiểm tra độ cao , độ
thẳng đứng thường sử dụng máy đo đạc như máy thuỷ bình , máy kinh vĩ .
Ngoài ra , trên công trường còn nên có súng bật nảy để kiểm tra sơ bộ
cường độ bê tông . Những dụng cụ như quả dọi chuẩn , dọi laze , ống
nghiệm , tỷ trọng kế , cân tiểu ly , lò xấy , viên bi thép , . . . cần được trang
bị . Nói chung trên công trường phải có đầy đủ các dụng cụ kiểm tra các
việc thông thường .
Những dụng cụ kiểm tra trên công trường phải được kiểm chuẩn
theo đúng định kỳ . Việc kiểm chuẩn định kỳ là cách làm tiên tiến để tránh
những sai số và nghi ngờ xảy ra qua quá trình đánh giá chất lượng.
Trong việc kiểm tra thì nội bộ nhà thầu kiểm tra là chính và tư vấn
bảo đảm chất lượng chỉ chứng kiến những phép kiểm tra của nhà thầu .
9
Khi nào nghi ngờ kết quả kiểm tra thì nhà thầu có quyền yêu cầu nhà thầu
thuê đơn vị kiểm tra khác . Khi thật cần thiết , tư vấn bảo đảm chất lượng
có quyền chỉ định đơn vị kiểm tra và nhà thầu phải đáp ứng yêu cầu này .
1.3.4. Kiểm tra nhờ các phòng thí nghiệm :
Việc thuê các phòng thí nghiệm để tiến hành kiểm tra một số chỉ
tiêu đánh giá chất lượng trên công trường được thực hiện theo qui định của
tiêu chuẩn kỹ thuật và khi tại công trường có sự không nhất trí về sự đánh
giá chỉ tiêu chất lượng mà bản thân nhà thầu tiến hành .
Nói chung việc lựa chọn đơn vị thí nghiệm , nhà thầu chỉ cần đảm
bảo rằng đơn vị thí nghiệm ấy có tư cách pháp nhân để tiến hành thử các
chỉ tiêu cụ thể được chỉ định. Còn khi nghi ngờ hay cần đảm bảo độ tin cậy
cần thiết thì tư vấn đảm bảo chất lượng dành quyền chỉ định đơn vị thí
nghiệm .
Nhà thầu là bên đặt ra các yêu cầu thí nghiệm và những yêu cầu này
phải được Chủ nhiệm dự án dựa vào tham mưu của tư vấn đảm bảo chất
lượng kiểm tra và đề nghị thông qua bằng văn bản . Đơn vị thí nghiệm
phải đảm bảo tính bí mật của các số liệu thí nghiệm và người công bố chấp
nhận hay không chấp nhận chất lượng sản phẩm làm ra phải là chủ nhiệm
dự án qua tham mưu của tư vấn đảm bảo chất lượng .
Cần lưu ý về tư cách pháp nhân của đơn vị thí nghiệm và tính hợp
pháp của công cụ thí nghiệm . Để tránh sự cung cấp số liệu sai lệch do
dụng cụ thí nghiệm chưa được kiểm chuẩn , yêu cầu mọi công cụ thí
nghiệm sử dụng phải nằm trong phạm vi cho phép của văn bản xác nhận
đã kiểm chuẩn .
Đơn vị thí nghiệm chỉ có nhiệm vụ cung cấp số liệu của các chỉ tiêu
được yêu cầu kiểm định còn việc những chỉ tiêu ấy có đạt yêu cầu hay có
phù hợp với chất lượng sản phẩm yêu cầu phải do tư vấn đảm bảo chất
lượng phát biểu và ghi thành văn bản trong tờ nghiệm thu khối lượng và
chất lượng hoàn thành.
1.3.5. Kết luận và lập hồ sơ chất lượng
(i) Nhiệm vụ của tư vấn đảm bảo chất lượng là phải kết luận từng
công tác , từng kết cấu , từng bộ phận hoàn thành được thực hiện là có chất
lượng phù hợp với yêu cầu hay chưa phù hợp với yêu cầu .
Đính kèm với văn bản kết luận cuối cùng về chất lượng sản phẩm
cho từng kết cấu , từng tầng nhà , từng hạng mục là các văn bản xác nhận
từng chi tiết , từng vật liệu cấu thành sản phẩm và hồ sơ kiểm tra chất
10
lượng các quá trình thi công. Lâu nay các văn bản xác nhận chất lượng vật
liệu , chất lượng thi công ghi rất chung chung . Cần lưu ý rằng mỗi bản xác
nhận phải có địa chỉ kết cấu sử dụng , không thể ghi chất lượng đảm bảo
chung chung.
Tất cả những hồ sơ này đóng thành tập theo trình tự thi công để khi
tra cứu thuận tiện.
(ii) Đi đôi với các văn bản nghiệm thu , văn bản chấp nhận chất
lượng kết cấu là nhật ký thi công . Nhật ký thi công ghi chép những dữ
kiện cơ bản xảy ra trong từng ngày như thời tiết , diễn biến công tác ở từng
vị trí, nhận xét qua sự chứng kiến công tác về tính hình chất lượng công
trình.
Ý kiến của những người liên quan đến công tác thi công khi họ
chứng kiến việc thi công , những ý kiến đề nghị , đề xuất qua quá trình thi
công và ý kiến giải quyết của tư vấn đảm bảo chất lượng và ý kiến của
giám sát của nhà thầu . . .
(iii) Bản vẽ hoàn công cho từng kết cấu và bộ phận công trình được
lập theo đúng qui định.
Tất cả những hồ sơ này dùng làm cơ sở cho việc thanh toán khối
lượng hoàn thành và cơ sở để lập biên bản tổng nghiệm thu , bàn giao công
trình cho sử dụng.
1.3.6. Phối hợp trình tự thi công các công tác hoàn thiện:
Công tác hoàn thiện là công tác cuối cùng của một công đoạn, một khu vực
thi công của ngôi nhà nên trình tự thi công công tác hoàn thiện cần cân nhắc,
tính toán sao cho quá trình thi công toàn nhà, không còn bất kỳ công tác nào
khác gây ra sự hư hỏng nơi đã được hoàn thiện. Quá trình thực hiện các
công tác thi công thường đan xen nên xảy ra hiện tượng việc sau làm hư
hỏng hoặc cản trở lẫn nhau nên người tư vấn giám sát chất lượng bên cạnh
chủ đầu tư là người phải tổ chức phối hợp các thành viên tham gia thi công
cho nhịp nhàng, ăn ý, không để đục đẽo, làm ảnh hưởng công việc của nhau
trong những đơn vị phải thi công trên một mặt bằng. Muốn đạt được sự ăn
ý, nhịp nhàng trong quá trình thi công hoàn thiện, người tư vấn giám sát chất
lượng bên cạnh chủ đầu tư phải đưa ra phương án phối hợp trong tiến độ
phối hợp ( master schedule ) và bàn bạc với các bên hữu quan để cùng thực
hiện, tránh kéo dài thời gian thi công, lãng phí công đục đẽo cũng như làm
đi, làm lại do sự thiếu phối hợp gây ra.
Một số qui trình khá kinh điển có thể tham khảo như sau:
11
• Nhà có số tầng dưới 6 , thi công phần thô nên tiến hành từ tầng dưới
lên tầng trên mà thi công hoàn thiện lại nên làm từ tầng trên xuống
thấp với lý do là khi đã hoàn thiện thì không phải đi qua lại nơi đã làm
hoàn thiện rồi.
• Đối với nhà nhiều tầng thì trình tự sẽ được cân nhắc cẩn trọng hơn, có
thể phân một số tầng, có thể là ba hay bốn tầng thành một phân đoạn
để thi công hoàn thiện. Có thể tiến hành hoàn thiện từ dưới lên vì thi
công nhà cao tầng, việc di chuyển cao thường dùng thang máy ngoài
trời, không phải thường xuyên qua lại các tầng từ dưới lên.
• Cần kiểm tra các điều kiện để bắt đầu tiến hành được công tác hoàn
thiện. Sự nóng vội hay sự thiếu thận trọng là nguyên nhân gây ra lãng
phí trong quá trình phối hợp trình tự thi công hoàn thiện. Các khâu
chuẩn bị cho công tác hoàn thiện như vạch tim, trục, vạch dấu cao độ
phải tiến hành xong, việc tạo độ phẳng của các lớp nền cho trát, bả,
láng, lát, ốp cũng như chuẩn bị cho mặt để quét vôi, lắp kính, sơn phủ
phải được kiểm tra trước khi cho phép tiến hành hoàn thiện.
• Trên một mặt bằng thi công chỉ được tiến hành một công tác hoàn
thiện, tránh chồng chéo công việc lên nhau gây lộn xộn và mất an toàn
lao động. Theo phương thẳng đứng không tiến hành nhiều công tác
hoàn thiện, tránh tai nạn do người thi công bên trên gây ra cho người
thi công dưới thấp .
• Thi công hoàn thiện với những việc phát toả ra hơi khí khó chịu như
mùi sơn , mùi các dung môi của sơn, của nhựa , hơi cacbua hydro
nồng độ vượt qui định, công nhân phải được trang bị khẩu trang, đôi
khi cần thiết , công nhân cần được trang bị mặt nạ phòng độc có bộ
phận lọc khí.
• Quá trình thi công có hiệu ứng toả nhiệt hay thu nhiệt làm cho môi
trường lao động có nhiệt độ không thích nghi cho người lao động,
công nhân cần được trang bị quần áo thích hợp với điều kiện lao động.
Nếu cần thiết đảm bảo môi trường lao động thích hợp, phải tổ chức
thông gió, điều hoà không khí.
12
II. Giám sát thi công và nghiệm thu công tác trát, bả và láng :
2.1 Khái niệm :
(i) Thuật ngữ :
Lớp trát, lớp bả, lớp láng bao phủ bên ngoài kết cấu, bảo vệ cho kết cấu
nhằm chống các tác động của sự va đập cơ học, sự ăn mòn hoá học và sinh
học, làm chậm tác hại của nhiệt độ cao do ngọn lửa cháy đồng thời tạo ra
vẻ đẹp cho công trình.
Lớp trát là lớp phủ kết cấu nằm trên độ cao nền nhà hoặc nền buồng như lớp
trát tường, trát cột, trát dầm, trát trần nhà.
Trát có bề mặt phẳng, nhưng cũng có bề mặt trên đó gắn những gờ chỉ theo
mỹ quan tạo ra phân vị khi nhìn. Có nhiều mặt trát trên đó gắn những đường
gờ, đường viền hoặc hoa văn hoặc hình phù điêu, nhất là các lớp trát trần của
các gian buồng.
Lớp bả là lớp phủ bên ngoài lớp trát hoặc ngay chính kết cấu cần bảo vệ và
có độ dày nhỏ hơn chiều dày lớp trát khá nhiều.
Lớp láng là lớp phủ nằm trên mặt phẳng nằm ngang, đó chính là lớp mặt trên
của kết cấu nền nhà, nền lối đi lại. Lớp láng thường nằm ở chân của tư thế
đứng của người ta.
13
Trát, bả, láng là các công tác được thi công theo quá trình ướt . Sau khi thi
công cần có thời gian để vật liệu đóng rắn , đạt độ cứng và sự ổn định theo
yêu cầu.
Tuỳ thuộc vào vật liệu tạo nên lớp trát, bả, láng và biện pháp thi công mà
những lớp này có tên gọi:
Lớp trát vữa vôi, trát vữa xi măng cát, trát thạch cao.
Lớp trát granito còn gọi là trát đá mài, trát đá rửa hay còn gọi là trát lộ đá,
trát granitine còn gọi là trát đá mài hạt nhỏ mịn, trát đá băm.
Bả lớp vữa hạt mịn.
Láng nền nhà, láng lối đi, láng lòng rãnh . . .
Tuỳ thuộc vào vị trí và hình dạng của lớp trát mà lớp trát có tên : trát tường,
trát trần, trát phào, trát gờ chỉ.
(ii) Vật liệu làm lớp trát:
Vật liệu chứa trong vữa dùng để trát có :
Vữa vôi, cát : trong thành phần vữa chỉ có cát và vôi
Vữa tam hợp : có cát , vôi, xi măng
Vữa xi măng cát: có cát và xi măng
Vữa thạch cao có thạch cao, bột đá hoặc chỉ đơn thuần thạch cao.
Vữa để bả : xi măng trắng, bột đá hạt mịn và chất tạo màu
Vữa granito, vữa trát đá rửa, vữa trát đá băm, vữa trát granitine : xi măng
trắng, bột đá, đá hạt và chất tạo màu.
Vữa trát chống phóng xạ : xi măng, bột ôxyt bôric và cát thạch anh.
Vữa trát chịu lửa : xi măng, bột chịu lửa như bột samốt, bột ôxyt manhê . . .
Vữa trát chịu axit : thuỷ tinh lỏng, chất đóng rắn cho thuỷ tinh lỏng, cát
thạch anh.
Vữa thường được chế tạo tại chỗ. Trên thị trường hiện nay đã có các loại
vữa trộn sẵn, khi dùng chỉ thêm lượng nước theo hướng dẫn.
Vật liệu để bả có tên gọi là mát tít nhưng nhiều người vẫn gọi chung là vữa
để trát bả.
2.2 Các yêu cầu kỹ thuật của lớp trát, bả, láng :
Lớp che phủ trát, bả, láng phải gắn chặt với lớp nằm dưới được gọi là lớp
nền. Từ yêu cầu này, lớp nền phải sạch sẽ để có thể bám dính với vật liệu
dán lớp trát, bả , láng .
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét