Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
- Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình
thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký kết, hoặc theo đơn đặt hàng doanh
nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá, dùng phương tiện vận tải của mình
hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào
đó bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp thương mại, chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận,
thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi
là tiêu thụ. Chí phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên
mua chịu là do sự thoả thuận từ trước giữa hai bên. Nếu doanh nghiệp thương
mại chịu chi phí vận chuyển, phải thu tiền của bên mua .
2.2.2 Bán lẻ hàng hoá
Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng
hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính
chất tiêu dùng nội bộ. Bán hàng theo phương thức này cóđặc điểm là hàng
hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Giá trị và giá
trị sử dụng của hàng hoá đã được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc
hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định. Phương thức bán lẻ có thể thực
hiện dưới các hình thức sau:
- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng mà trong
đó, tách rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho
người mua. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền
của khách, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở
quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Hết ca bán hàng, nhân viên bán hàng
căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá
tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo
cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho
thủ quỹ.
- Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Là hình thức bán hàng trực tiếp thu
tiền và giao hàng cho khách .Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng
làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn
quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo
bán hàng. Theo hình thức bán hàng này, khách hàng không mất thời gian chờ
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
thanh toán nhưng đòi hỏi nhân viên bán hàng phải có nghiệp vụ vững vàng
,nhanh nhẹn hoạt bát, có trách nhiệm cao để tránh tình trạng nhầm lẫn, mất
mát khi đông khách.
- Hình thức bán hàng trả góp : Theo hình thức này, người mua được trả
tiền mua hàng thành nhiều lần. Doanh nghiệp thương mại, ngoài số tiền thu
theo giá bán thường còn thu thêm người mua một khoản lãi do trả chậm. Về
thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết tiền
hàng. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hoá
bán trả góp được coi là tiêu thụ, bên bán ghi nhân doanh thu.
- Hình thức bán hàng tự động: Bán hàng tự động là hình thức bán lẻ
hàng hoá mà trong đó, các doanh nghiệp thương mại sử dụng các máy bán
hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc nột vài loại hàng hoá nào đó đặt ở
các nơi công cộng, sau khi người mua bỏ tiền bào máy, máy sẽ tự động đẩy
hàng ra cho người mua.
2.2.3 Phương thức bán hàng đại lý:
- Hình thức gửi hàng đại lý bán hay ký gửi hàng hoá: Theo hình thức
này doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cở đại lý, ký gửi để cơ sở này
trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý ,ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh
toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các
cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho
đến khi doanh nghiệp thương mại được cơ sở đại lý ký gửi thanh toán tiền hay
chấp nhận thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp
mới mất quyền sở hữu về số hàng này.
- Hình thức bán hàng nhận đại lý: Theo hình thức này doanh nghiệp sẽ
nhận bán hàng cho doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp có trách nhiệm về số
hàng đã nhận, tổ chức bán hàng và thanh toán kịp thời, đầy đủ tiền hàng cho
người giao đại lý khi hàng hoá đã được tiêu thụ. Hình thức bán hàng này có
đặc điểm là hàng hoá không thuộc sở hữu bán của doanh nghiệp và khi bán
được hàng thì doanh nghiệp được hưởng hoa hồng tính trên giá bán.
2.3 Các phương thức thanh toán :
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
Tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như trị giá lô hàng bán, mức độ thường
xuyên trong quan hệ mua bán, mức độ tín nhiệm lẫn nhau, . . . mà doanh
nghiệp thương mại và người mua có thể thoả thuận lựa chọn sử dụng các
phương thức, hình thức thanh toán khác nhau.
2.3.1 Phương thức thanh toán trực tiếp: Là quá trình bán hàng và thu tiền
phát sinh cùng một thời điểm. Theo phương thức thanh toán này, có các hình
thức sau :
- Hình thức thanh toán bằng tiền mặt, ngân phiếu: Là hình thức thanh
toán trực tiếp giữa người mua và người bán. Khi bên bán chuyển giao hàng
hóa, dịch vụ thì bên mua xuất tiền, ngân phiếu để trả trực tiếp tương ứng với
giá cả mà hai bên đã thỏa thuận. Thanh toán theo hình thức này đảm bảo khả
năng thu tiền nhanh, tránh được rủi ro trong thanh toán nhưng thường chỉ áp
dụng trong trường hợp hàng hóa có giá trị không lớn.
- Hình thức trao đổi hàng: Theo hình thức này, khi bên bán chuyển
giao hàng hóa cho bên mua thì bên mua xuất giao cho bên bán một lô hàng có
giá trị tương ứng với giá trị lô hàng đã nhận được từ bên bán. Trong trường
hợp này người bán đồng thời là người mua, mục đích không phải là thu tiền
mà là mua một hàng khác tương ứng. Việc giao hàng diễn ra hầu như là đồng
thời. Hiện nay, đôi lúc có thể dùng tiền để thanh toán một phần thiếu hụt.
2.3.2 Phương thức thanh toán không trực tiếp
Thanh toán không trực tiếp là phương thức thanh toán được thực hiện
bằng cáchh trích chuyển ở tài khoản của doang nghiệp hoặc bù trừ giữa hai
bên thông qua các tổ chức kinh tế trung gian thường là Ngân hàng. Ngân hàng
là tổ chức trung gian thanh toán, nó giúp cho việc thanh toán giữa người mua
và người bán được thực hiện đầy đủ, nhanh chóng và đúng luật, tuỳ thuộc vào
từng thương vụ, từng đối tượng khách hàng mà việc thanh toán không trực
tiếp có thể được thực hiện theo một số hình thức sau:
- Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm chi: Uỷ nhiệm chi là giấy uỷ
nhiệm của chủ tài khoản mà Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền
nhất định để trả cho người cung cấp hàng hóa lao vụ.
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
- Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm thu: Là hình thức thanh toán
trong đó người bán sau khi hoàn thành nhiệm vụ giao hàng hoặc cung ứng
dịch vụ cho người mua thì sẽ lập uỷ thác thu yêu cầu Ngân hàng thu hộ số
tiền từ người mua.
Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm thường áp dụng đối với các
doanh nghiệp có quan hệlàm ăn thường xuyên và tín nhiệm lẫn nhau hay dưới
hình thức k inh doanh công ty mẹ - công ty con.
- Hình thức thanh toán bằng séc: Séc là tờ lệnh trả tiền của chủ tài
khoản được lập theo mẫu do Ngân hàng Nhà nước quy định yêu cầu đơn vị
thanh toán trích một số tiền nhất định từ “Tài khoản tiền gửi thanh toán” của
mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên tờ lệnh đó hoặc cho người cầm tờ
lệnh đó.
- Hình thức thanh toán trả bằng thư: Là hình thức thanh toán trong đó
bên mua yêu cầu Ngân hàng mở thư tín dụng tiến hành trả tiền cho bên bán
nếu bên bán xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các nội dung
đã ghi trong thư tín dụng. Hình thức thanh toán này, được áp dụng rất phổ
biến, đặc biệt là trong kinh doanh xuất nhập khẩu, trong trường hợp bên mua
và bên bán chưa có mối quan hệ tín nhiệm lẫn nhau vì theo phương thức này
nó bảo đảm cả quyền lợi cho người mua và người bán.
- Phương thức thanh toán nhờ thu
Là phương thức thanh toán mà trong đó người bán sau khi đã hoàn
thành nghĩa vu giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người mua sẽ tiến
hànhuỷ thác cho Ngân hàng của mình thu nợ số tiền ở người mua trên cơ sở
hối phiếu của người bán lập ra .
Ngày nay, trong hoạt động kinh doanh thương mại việc thanh toán
không trực tiệp được áp dụng phổ biến là trong hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu. Theo phương thức này, nó tiết kiệm mà đảm bảo sự an toàn về
vốn cho cả người mua và người bán, chống lạm phát ổn định giá cả và thúc
đẩy sự phát triển của hệ thống liên Ngân hàng. Quá trình thanh toán trở lên
đơn giản và thuận lợi hơn. Tuy nhiên, do đặc điểm của nền kinh tế nước ta là
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
nền kinh tế nhiều thành phần, sản xuất vừa và nhỏ là chủ yếu trong đó các hộ
kinh tế các thể chiếm tỷ trọng lớn mà hầu hết họ không mở tài khoản riêng tại
Ngân hàng nên việc thanh toán trực tiếp còn nhiều hạn chế.
2.3.3 Phương thức thanh toán chậm
Theo phương thức này, khi người bán giao hàng cho người mua thì
người mua không thanh toán ngay mà ký chấp nhận nợ từ đó hình thành
khoản công nợ phải thu của người mua. Hết thời hạn tín dụng, theo thoả thuận
bên mua có nghĩa vụ phải thanh toán hết số tiền hàng cho bên bán. Việc thanh
toán có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức: tiền mặt, ngân phiếu,
séc Phương thức thanh toán này, thường áp dụng trong trường hợp hai bên
có mối quan hệ mua bán thường xuyên và có tín nhiệm lẫn nhau.
2.4 Giá bán của hàng hóa
Giá cả là một yếu tố rất quan trọng, có tính quyết định đếnviệc tiêu thụ
hàng hóa. Giá của hàng hóa phải thể hiện được giá trị, chất lượng của hàng
hoá, giá cả có hợp lý thì khách hàng mới chấp nhận có nghĩa là hàng hoá
được tiêu thụ. Vậy trong doanh nghiệp thương mại thì giá bán được xác định
như thế nào ?
Giá bán hàng hoá của doanh nghiệp thương mại được xác định là giá
thỏa thuận giữa người mua và người bán, được ghi trên hóa đơn hoặc hợp
đồng và có thể được tính theo công thức:
Giá bán = Giá mua thực tế + Thặng số thương mại
Thặng số thương mại = Giá mua thực tế * Tỷ lệ % thặng số thương mại
Trong đó, thặng số thương mại là khoản chênh lệch giữa bán và giá
mua hàng hoá nhằm bù đắp chi phí và hình thành thu nhập cho doanh nghiệp.
Theo chế độ kế toán mới áp dụng, 01/11/1999 thì nếu doanh nghiệp áp
dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì giá mua
trong công thức trên là giá bao gồm cả thuế GTGT. Còn nếu doanh nghiệp
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì giá mua trong công thức trên
là giá không bao gồm thuế GTGT.
Bên cạnh việc tính toán được mức giá bán hợp lý của hàng hóa bán ra
doanh nghiệp còn phải quan tâm đến việc xác định chính xác trị giá vốn của
hàng hóa vì nó ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định đúng đắn kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Trị giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí kinh doanh
liên quan đến quá trình bán hàng bao gồm: giá vốn hàng xuất kho, chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho số hàng đã bán.
Đối với doanh nghiệp thương mại, trị giá vốn hàng xuất kho để bán bao
gồm trị giá mua thực tế và chi phí mua của một số hàng hóa đã xuất kho. Trị
giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho được xác định theo một trong số các
phương pháp sau:
- Phương pháp tính theo giá đích danh
- Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp nhập trước, xuất trước
- Phương pháp nhập sau, xuất trước
Trong một thị trường ổn định, khi giá cả không thay đổi thì việc tính trị
giá mua của hàng hóa xuất kho theo bất cứ phương pháp nào là không quan
trọng vì khi đó tất cả các phương pháp đều cho một kết quả tương tự nhau.
Tuy nhiên, nếu giá cả thay đổi ở các kỳ khác nhau thì các phương pháp khác
nhau sẽ cho kết quả khác nhau. Vì vậy, việc lựa chọn một phương pháp tính
giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho đòi hỏi doanh nghiệp phải nhất quán
qua các kỳ hách toán, nó đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong kế toán.
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
10
Giá ghi
trên HĐ
(chưa thuế
VAT)
Thuế phải
nộp ở
khâu mua
(nếu có)
Trị giá mua
thực tế của
hàng hóa
=
Chi phí p.s
trong quá
trình mua
(chưa thuế
VAT)
+
Các
khoản
giảm trừ
(nếu có)
+
_
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
Trị giá vốn của hàng xuất kho còn bao gồm cả chi phí mua nên ta cần
phải phân bổ chi phí mua cho hàng hóa đã xuất kho bán, theo công thức sau:
Trên cở sở trị giá mua thực tế và chi phí mua của hàng xuất kho đã tính
được, kế toán tổng hợp lại để xác định trị giá vốn thực tế của hàng đã xuất
kho. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được coi là chi phí
thời kỳ, trong kỳ tập hợp được bao nhiêu sẽ kết chuyển cho hàng đã bán. Tuy
nhiên, để xác định chính xác kết quả bán hàng thì các doanh nghiệp có chu kỳ
sản xuất kinh doanh dài, doanh thu bán hàng trong kỳ thấp có thể phân bổ các
chi phí này cho hàng đã bán theo công thức:
Sau khi tính được trị giá vốn hàng xuất kho để bán và chi phí bán hàng, chi
phí quản lý doanh nghiệp của số hàng đã bán, kế toán tổng hợp lại để tính trị
giá vốn hàng đã bán.
2.5 Phạm vi, thời điểm xác định hàng bán và ghi chép
2.5.1 Phạm vi hàng bán
Hàng hoá được coi là đã hoàn thành việc bán trong doanh nghiệp
thương mại, được ghi nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
11
Trị giá vốn
h ng à đã bán
Trị giá vốn h ng à
xuất kho để bán
= +
Chi phí bán h ng v chi phí à à
QLDN của số h ng à đã bán
Trị giá
mua của
hàng
xuất kho
Chi phí
mua phân
bổ cho
hàng hóa
đã xuất
kho
=
Chi phí mua phân
bổ cho hàng đầu kỳ
Chi phí mua hàng
phát sinh trong kỳ
+
⋅⋅
Trị giá mua của
hàng còn đầu kỳ
Trị giá mua của hàng
nhập trong kỳ
+
×
Chi phí bán
h ng (chi phí à
QLDN)
phân bổ cho
h ng à đã bán
Chi phí bán h ng (chi à
phí QLDN) phân bổ cho
h ng phát sinh trong kà ỳ
Trị giá
vốn của
h ng à
bán ra
trong kỳ
Chi phí bán h ng (chi à
phí QLDN) phân bổ
cho h ng à đầu kỳ
+
Trị giá vốn của
h ng còn à đầu kỳ
+
Trị giá vốn của
h ng nhà ập trong kỳ
×
=
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
nhất định. Theo quy định hiện hành, được coi là hàng báh phải thoả mãn các
điều kiện sau:
- Hàng hoá phải thông qua quá trình mua, bán và thanh toán theo một
phương thức thanh toán nhất định
- Doanh nghiệp thương mại mất quyền sở hữu về hàng hóa và nắm
được quyền sở ữu về tiền tệ hoặc có quyền được đòi tiền ở khách hàng
- Hàng hóa bán ra phải thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, do
doanh nghiệp mua vào hoặc gia công chế biến hay nhận góp vốn, nhận cấp
phát, tặng thưởng,. . .
Ngoài ra, trong một số trường hợp sau cũng được coi là hàng bán:
+ Hàng hóa xuất để đổi lấy hàng hóa khác, còn được gọi là hàng đối
lưu hay hàng đổi hàng.
+ Hàng hóa xuất để thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho công nhân
viên thanh toán thu nhập cho các thành viên của doanh nghiệp
+ Hàng hóa xuất để làm quà biếu tặng, quảng cáo, chào hàng
+ Hàng hóa xuất dùng trong nội bộ, phục vụ cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp
+ Hàng hóa hao hụt, tổn thất trong quá trình vận chuyển bán ra theo
hợp đồng bên bán chịu
+ Hàng xuất là nguyên liệu để sản xuất chế biến sản phẩm rồi bán ra
+ Hàng xuất để tham gia hội chợ triển lãm
+ Hàng xuât để góp vốn liên doanh,. . .
2.5.2 Thời điểm xác định hàng bán và ghi chép (Thời điểm ghi nhận
doanh thu)
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
Theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì doanh
thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người
sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa ;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc đã thu được lợi ích kinh tế từ giao
dịch bán hàng.
Nhưng trên thực tế do sự vận động của hàng bán có sự khác nhau, có
các trường hợp xác định sau:
+ Trường hợp 1: doanh nghiệp mất quyền sở hữu về hàng hóa trước khi
nắm được quyền sở hữu về tiền tệ. Thời điểm xác định và ghi chép hàng bán
là khi khách hàng đã nhận hàng và ký nhận trên hoá đơn bán hàng.
+ Trường hợp 2: doanh nghiệp nắm được quyền sở hữu về tiền tệ trước
khi mất quyền sở hữu về hàng hóa, thời điểm xác định và ghi chép hàng bán
là khi doanh nghiệp đã thu tiền (phiếu thu hoặc giấy báo có).
+ Trường hợp 3: doanh nghiệp mất quyền sở hữu về hàng hóa đồng
thời nắm được quyền sở hữu về tiền tệ, thời điểm xác định và ghi chéo hàng
bán là khi khách hàng đã nhận hàng và ký nhận trên chứng từ.
3. Nội dung, yêu cầu quản lý ghi chép nghiệp vụ bán hàng
Trong các doanh nghiệp thương mại, nghiệp vụ bán hàng mang tính
thường xuyên, liên tục và chiếm một tỷ trọng lớn, vì thế công tác quản lý
nghiệp vụ bán hàng cũng mang tính thường xuyên liên tục.
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
§¹i häc Th¬ng m¹i
Quản lý nghiệp vụ bán hàng đòi hỏi phải quản lý về các chỉ tiêu, số
lượng và chất lượng, giá cả hàng hóa, thu hồi tiền bán hàng và xác định kết
quả. Cụ thể:
- Quản lý về số lượng, chất lượng và giá trị của hàng gửi bán. Hàng hoá
đem gửi bán cho bên mua đang trên đường đi hoặc bên mua đã nhận được
hàng nhưng chưa thanh toán thì số hàng đó vẫn thuộc quyến sở hữu của
doanh nghiệp. Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải quản lý, theo dõi lô hàng đó.
- Quản lý về giá cả hàng hóa: Giá cả là một trong những yếu tố cạnh
tranh, vì vậy đòi hỏi nhà quản lý phải định giá cho thật hợp lý, phải xây dựng
biểu giá cho từng mặt hàng, nhóm hàng, từng phương thức bán phù hợp cho
từng địa điểm kinh doanh và quản lý việc thực hiện giá bán hàng mà chú
trọng giám sát việc thi hành giá của nhân viên bán hàng tránh những biểu hiện
tiêu cực như tuỳ ý nâng giá. Để quản lý tốt thì doanh nghiệp sử dụng kế toán
như một công cụ đắc lực và sắc bén nhất. Kế toán nghiệp vụ bán hàng là một
bộ phận trực tiếp về giá cả hàng hóa, việc phản ánh giá cả hàng hóa vào sổ kế
toán căn cứ vào các chứng từ xuất nhập kho hàng hóa, chứng từ về bán hàng
có xác nhận của cả hai bên: bên mua và bên bán.
- Quản lý việc thu hồi tiền hàng và xác định kết quả: Để đảm bảo được
việc thu hồi tiền bán hàng một cách nhanh chóng và đầy đủ, xác định kết quả,
người quản lý phải tính đúng, đủ và theo dõi tình hình thanh toán của từng
khách hàng. Thực hiệnđược công việc này sẽ tạo điều kiện cho vốn được quay
vòng nhanh, và có thể được kịp thời huy động vốn khi cần thiết. Vì vậy, kế
toán cần theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tiền hàng của khách hàng, có
thể đôn đốc khách hàng để kịp thời thu hồi tiền ngay khi đến hạn, tránh bị
chiếm dụng vốn kinh doanh .
Bên cạnh đó việc quản lý nghiệp vụ bán hàng cũng cần bám sát một số
yêu cầu như: quản lý sự vận động của từng loại hàng hóa trong quá trình xuất
nhập tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị. Nắm bắt theo
dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng, từng thể thức thanh toán, từng khách
hàng và từng loại hàng hóa tiêu thụ. Tính toán xác định từng loại hoạt động
Ph¹m Thanh Minh 6CB2KT
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét