Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

6Các loại phép biện chứng

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

-Đặt vấn đề
Phép biện chứng là một bộ môn khoa học triết học, nó có ý nghĩa thế giới
quan rộng lớn cũng nh bản thân của triết học vậy. Lịch sử phép biện chứng đã
trải qua quá trình phát triển lâu dài, với hơn 2000 năm lich sử mà đỉnh cao của
nó là phép biện chứng Mácxít. Phép biện chứng mácxít dựa trên truyền thống
t tởng biện chứng của nhiều thời kì lịch sử trớc đó để nêu ra những đặc điểm
chung nhất của biện chứng khách quan. Nghiên cứu những quy luật phổ biến
của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài ngời và của cả t duy
nữa. Nó là chìa khoá giúp con ngời nhận thức và chinh phục thế giới. Nắm
vững những nguyên tắc phơng pháp luận của phép biện chứng duy vật không
những là một nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan mà còn là điều kiện
tiên quyết cho sự sáng tạo của đảng cách mạng
Thực tiễn cách mạng đã chứng minh chỉ khi nào ta nắm vững những lý luận
phép biện chứng, biết vận dụng các nguyên tắc phơng pháp luận của nó một
cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Lấy cái bất biến ứng vào cái vạn
biến nh chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói thì vai trò và hiệu lực cải tạo tự nhiên,
biến đổi xã hội đợc tăng cờng. Ngợc lại cách nghĩ, cách làm chủ quan duy ý
chí siêu hình đã dẫn đến những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng gây tổn
thất cho cách mạng và quá trình phát triển xã hội nói chung. Vì vậy học tập,
nghiên cứu sự hình thành và phát triển của phép biện chứng là một nhu cầu hết
sức cần thiết.
Hiện nay nớc ta đang tiếp tục công cuộc đổi mới tiến hành công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nớc. Việc nghiên cứu lịch sử phép biện chứng một cách có hệ
thống và nhất là nắm vững bản chất biện chứng duy vật mácxít càng là nhu
cầu bức thiết để đổi mới t duy tiếp tục vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh. Quan điểm đờng lối của Đảng ta là biện chứng
chủ quan phản ánh biện chứng khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Nó đang là định hớng t tởng và là công cụ t duy sắc bén để đa cách mạng nớc
ta lên giành thắng lợi trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phép biện chứng đã phát triển qua 4 hình thức cũng là 4 trình độ khác nhau.
Quá trình phát triển đó phù hợp với trình độ khoa học bấy giờ cũng nh phù hợp
với các điều kiện khách quan khác nh chính trị ,kinh tế-xã hội, cũng nh là phù
hợp với tiền đề lý luận.

II-Giải quyết vấn đề
Trớc hết ta cần phải hiểu những nội dung của phép biện chứng để từ đó có
thể nắm bắt đợc những t tởng biện chứng, cũng nh sự phát triển của những t t-
ởng đó trong việc nghiên cứu lịch sử phép biện chứng. Phép biện chứng là
những lý luận về tính biện chứng của thế giới nh là liên hệ, vận động biến đổi,
phát triển, mâu thuẫn, liên hệ, tác động lẫn nhau thông qua những hệ thống
quy luật nh: quyluật về mối liên hệ phổ biến, quy luật mâu thuẫn v.v Phép
biện chứng cho rằng mọi sự vật, hiện tợng của thế giới, cũng nh hình ảnh tinh
thần của chúng có quan hệ qua lại với nhau, không ngừng vận động và phát
triển. Trong đó vận động đợc hiểu là tự vận động, còn phát triển là phát triển
tự thân, phát triển thông qua mâu thuẫn, là sự chuyển hoá trạng thái này thành
trạng thái cao hơn, một sự vật này thành sự vật khác mới về chất.
1)Phép biện chứng cổ đại: Tiêu biểu bằng ba nền triết học ấn Độ cổ đại,
Trung Hoa cổ đại và Hy Lạp cổ đại
1.1)Triết học ấn Độ cổ đại
ấn Độ cổ đại là vùng đất thuộc nam châu á với đặc điểm khí hậu hết sức
khắc nghiệt,do đó yếu tố địa lý cũng có ảnh hởng không nhỏ tới t tởng triết
học của ngời ấn Độ.Tuy nhiên nhân tố ảnh hởng lớn nhất tới quá trình đó là
nhân tố xã hội, trong đó đặc biệt là sự tồn tại rất sớm và kéo dài của kết cấu
kinh tế-xã hội theo mô hình riêng đặc biệt đợc C.Mác gọi là Công xã nông
thôn. Chính trong mô hình này đã làm phát sinh sự phân biệt hết sức hà khắc,
dai dẳng của bốn tầng lớp lớn trong xã hội: tăng lữ, quý tộc, bình dân tự do và
tiện dân (nô lệ). T tởng tôn giáo rất phát triển trong xã hội cổ đại ấn Độ đã
đan xen vào triết học làm nên nét đặc thù của triết học cổ đại ấn Độ. Vào thời
kỳ này nhiều tri thức về khoa học tự nhiên cũng ra đời và làm cơ sở cho nhận
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thức của chủ nghĩa duy vật. Tất cả những yếu tố nh kinh tế, chính trị, và tri
thức khoa học đó đã hợp thành cơ sở cho sự phát sinh và phát triển của những
t tởng triết học-tôn giáo ấn Độ cổ đại
Phép biện chứng thô sơ là một giá trị của triết học cổ đại ấn Độ. Các t tởng
biện chứng đợc tập trung thể hiện trong các giáo lý, giáo điều đạo Phật sơ kỳ
và t tởng của phái Jaina.
Trung tâm của những t tởng triết học đạo phật sơ kỳ là những vấn đề nhân
sinh quan. Tuy nhiên những vấn đề về phép biện chứng cũng là bộ phận cấu
tạo hữu cơ của nó. Những t tởng biện chứng của đạo Phật sơ kỳ đã đợc
Ăngghen đánh giá là hết sức sâu sắc , có thể nói những t tởng triết học về
bản thể và phép biện chứng luôn là giá đỡ cho các luận điểm về nhân sinh. T t-
ởng biện chứng của đạo Phật sơ kỳ đợc trình bày tập trung trong các luận
điểm: nhân-duyên-sinh, vô ngã, vô thờng. Theo triết lý này thì vạn vật không
do một uy lực thần linh nào chi phối, mà tất cả đều chịu tác động của các quy
luật, nhân-quả, theo quá trình sinh-trụ-hoại-không. Và cũng vì vậy không
có cái gì là thờng hằng bất biến (vô ngã) và cũng không có cái gì là thờng
hằng không đổi (vô thờng ) tức là trên bình diện tồn tại của hai chiều không
gian và thời gian đều biến động.
T tỏng biện chứng của phái Jaina thể hiện ở học thuyết không tuyệt đối (tức
là tuơng đối). Nó cho rằng tồn tại đầu tiên là bất biến vô thuỷ, vô chung, biến
chuyển là không ngừng. Theo t tởng biện chứng của phái Jaina thì tồn tại vừa
bất biến, vừa biến chuyển. Cái vĩnh hằng là bản thể, còn cái không vĩnh hằng,
luôn luôn biến đổi, là các dạng của bản thể. Tức là thế giới bao quanh con ngời
vừa vận động lại vừa đứng im, đó là một mâu thuẫn mà con ngời cần phải chấp
nhận.
Phép biện chứng của triết học cổ đại ấn Độ còn nhiều hạn chế nh coi linh
hồn con ngời là bất tử (đạo Phật) hay là có quan niệm về biện chứng cha triệt
để (thể hiện ở những phán đoán về thế giới hiện tợng của phái Jaina).
1.2)Phép biện chứng Trung Hoa cổ đại
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn có lịch sử lâu đời.Những biểu
hiện tôn giáo, triết học cũng nh t tởng biện chứng đã xuất hiện rất sớm ở xã
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hội Trung Hoa cổ đại. Và đặc biệt là từ thời kì Xuân thu-chiến quốc trở đi . Xã
hội Trung Hoa thời bấy giờ là xã hội rất lộn xộn, sự phát triển của chế độ sở
hữu t nhân về ruộng đất đã làm xuất hiện nhiều thế lực chính trị, làm cho hệ
thống thiết chế xã hội-xã hội chủ nô dần tan rã và đang dần hình thành xã hội
phong kiến với những quan hệ hết sức phức tạp. Do vậy đã làm xuất hiện hàng
loạt các t tởng triết học khác nhau mà hầu hết đều có ý hớng muốn giải quyết
vấn đề thực tiễn chính tri-xã hội, trong đó tiêu biểu là những hệ thống t tởng
có ảnh hởng tới mãi về sau này trong lịch sử phong kiến Trung Quốc nh đạo
Nho, đạo Lão
Phép biện chứng biến dịch là một nét đặc sắc của triết học Trung Hoa. Tiêu
biểu là những t tởng biến dịch của Nho gia( Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử ).
Triết lý âm dơng đi sâu vào sự suy t về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ
biến của vạn hữu. Theo thuyết âm dơng thì mọi sự biến hoá vô cùng, vô tận,
thờng xuyên của vạn hữu ( kể cả hiện tợng tự nhiên, xã hội và cả ý thức) đều
có thể quy về nguyên nhân của sự tơng tác giữa hai thế lực đối lập vốn có của
âm và dơng. Các nhà biện chứng thuộc phái này cho rằng trời đất vạn vật
luôn luôn biến đổi không ngừng và có tính quy luật (tính thống nhất của các
mặt đối lập và sự biến đổi từ mặt đối lập này sang mặt đối lập khác). Nguyên
nhân của mọi biến hoá là do sự giao cảm của hai mặt đối lập nh âm dơng, nớc
và lửa, đất và trời Chính trị-xã hội cũng theo đó mà biến đổi theo quy luật tự
nhiên đó. Tuy nhiên hạn chế của phép biện chứng này là ở chỗ coi sự biến hoá
chỉ có tính chất tuần hoàn theo chu kỳ khép kín, không có sự phát triển, không
có sự xuất hiện cái mới.
Đạo Lão ( Lão Tử, Dơng Chu, Trang Chu ) với t tởng coi đạo là nguyên lý
duy nhất và tuyệt đối trong sự vận hành của vũ trụ, hiện tợng đã thể hiện
những t tởng biện chứng. T tởng đó là mọi hiện hữu đều biến dịch. Sự biến
dịch này theo hai nguyên tắc cơ bản: quân bình và phản phục. Cái gì cũ sẽ
mới,cái gì khuyết ắt tròn đầy T tởng phản phục nói lên nguyên lý vận
hành giản đơn mà không có phát triển của hiện hữu. Hay là t tởng các mặt đối
lập trong một thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau,
trong cái này có cái kia: Đẹp tức có xấu, dài ngắn tựa vào nhau. Cao thấp liên
hệ với nhau, . Điều hạn chế của t tởng này là ở chỗ do các nhà biện chứng
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhấn mạnh nguyên tắc quân bình và phản phục trong biến dịch, cho nên họ
không đề cao t tởng đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn mà nhấn mạnh điều
hoà của các mặt đối lập.
Hạn chế chung của t tởng biện chứng Trung Hoa cổ đại đó là không chú ý
đến quá trình phát triển, không coi trọng cái mới.
Qua một số các học thuyết triết học ấn Độ và Trung Hoa cổ đại, ta có thể
thấy nguyên tắc về sự thăng bằng của sự biến động đã đợc đặc biệt quan tâm.
Trong khi đó những nguyên lý và nguyên tắc về sự biến động phát triển về cơ
bản cha đợc đề cập đến.
1.3)Triết học Hy Lạp cổ đại:
Quá trình tan rã của chế độ bộ lạc nguyên thuỷ, quá trình hình thành xã hội
có giai cấp kéo dài tới vài thế kỷ (từ thế kỷ XI-VIII tr.CN) đã dẫn tới vai trò sở
hữu t nhân trớc hết là sở hữu của giới quý tộc nông nghiệp và quý tộc dòng dõi
ngày càng phát triển. Vì vậy, cho nên mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng
gay gắt nh đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ, giữa phe dân chủ-chủ nô
tiến bộ và phe quý tộc-chủ nô bảo thủ. Thêm vào đó, là sự phát triển của nghề
thủ công, nông nghiệp, thơng mại (do có thuận lợi về đờng biển) đã làm nền
tảng cho sự phát triển tri thức về thiên văn, toán học, vật lý học Những khoa
học này ra đời đòi hỏi sự khái quát cao của triết học, thế nhng ở thời kỳ này tri
thức triết học và tri thức về khoa học cụ thể thờng hoà lẫn vào nhau. Ngoài ra
thời kỳ này cũng diễn ra sự giao lu giữa Hi Lạp với các nớc A Rập phơng
Đông nên triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và các t tởng biện chứng nói riêng
cũng có ít nhiều chịu sự ảnh hởng của nền triết học phơng Đông
Một trong những trang sáng chói nhất trong sự phát triển của t tởng biện
chứng thế giới, với giai đoạn đầu của nó là phép biện chứng Hy Lạp cổ đại.
Những quan niệm biện chứng đã chiếm một phần đáng kể trong thế giới quan
của ngời Hy Lạp cổ đại. Về thực chất, quan niệm đó đã xuất hiện cùng với
triết học. V.I.Lênin coi phép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là
khởi nguyên lịch sử lịch sử phép biện chứng. Hay nói cách khác phép biện
chứng mácxít, khoa học, hiện đại bắt nguồn từ biện chứng Hy Lạp thời cổ đại
với t cách là khởi nguyên của mình.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
T tởng biện chứng nhận thức của thời kỳ này thông qua suy luận của
Hêraclit là sự tơng tác giữa cảm tính và t duy, thông qua phỏng đoán sáng suốt
của Đêmôcrit về tính chế định lẫn nhau giữa nhận thức mờ ám và nhận
thức trong sáng.
Trớc tiên là Hêraclit- nhà duy vật có nhiều yếu tố biện chứng- ngời giữ vị
trí trung tâm trong lịch sử phép biện chứng cổ đại. Lê-nin coi ông là một
trong những ngời sáng lập ra phép biện chứng. Điều cơ bản và đặc thù trong
học thuyết của Hêraclit là t tởng về sự thống nhất biện chứng của sự hài hoà và
đấu tranh giữa các mặt đối lập. Ông có những phỏng đoán thiên tài về các mặt
đối lập và về quy luật mâu thuẫn. Theo Hêraclit sự thống nhất có nghĩa là sự
đồng nhất của cái đa dạng, là sự hài hoà giữa các mặt đối lập.Ông phê phán
những nhà triết học không nhận thấy mọi sự đối lập tạo ra một chỉnh thể thống
nhất, rằng các mặt đối lập không thể có đợc nếu thiếu nhau, chẳng hạn ta
không thể quý sức khỏe nếu không biết mặt đối lập của nó là bệnh tật. Việc
nhận thức thuộc tính, bản chất sự vật phải thông qua các mặt đối lập của nó.
Các mặt đối lập luôn chuyển hoá lẫn nhau và sự chuyển hoá đó phải thông qua
đấu tranh. (phù hợp với mối liên hệ phổ biến). Về nhận thức luận, ông đứng
trên lập trờng duy vật và biện chứng. Ông cho rằng vũ trụ tồn tại theo những
quy luật nội tại của nó. Nhận thức là nhận thức cái tất yếu, cái thống nhất bao
gồm các mặt đối lập là nhận thức cái quy luật nội tại của vũ trụ. Con đờng
nhận thức bắt đầu từ cảm tính sau đó qua lý tính. Theo ông, chân lý mang tính
cụ thể và tuơng đối. Ông cho rằng thế giới vật chất bắt nguồn từ bản thân nó.
Thế giới vật chất vận động không ngừng, mọi vật đều trôi đi, chảy đi không
có cái gì đứng nguyên tại chỗ. Cũng nh ta không thể tắm hai lần trong cùng
một dòng sông
Với sự phát hiện ra các mối liên hệ phổ biến trong vũ trụ, phép biện chứng
khách quan của ngời Hy Lạp cổ đại đã sớm đạt tới đỉnh cao của mình trong
học thuyết của Hêraclit về sự đấu tranh phổ biến và về sự thống nhất giữa các
mặt đối lập. Tuy nhiên hạn chế của phép biện chứng Hêraclit là nặng về phỏng
đoán thế giới mà cha giải thích đợc nguyên nhân sâu xa của nó.
Đêmôcrít là nhà duy vật biện chứng lớn nhất thời cổ đại Hi Lạp. Nếu học
thuyết của Hêraclit về cơ bản là sự lý giải biện chứng về vũ trụ, thì phép biện
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chứng của Đêmôcrit đã nghiên cứu một lĩnh vực mới mẻ, đó là lý luận về nhận
thức. Đêmôcrit đã chỉ ra đợc mối liên hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính
và nhận thức lý tính, giữa cảm giác và t duy lý luận, nhận thức đem lại do cơ
quan cảm giác là loại nhận thức mờ tối cha đem lại chân lý, còn nhận thức
lý lính là nhận thức thông qua phán đoán và cho phép đạt tới chân lý vì nó chỉ
ra đợc khởi nguyên của thế giới là nguyên tử, tính đa dạng của thế giới chính
là do sự sắp xếp của các nguyên tử. Trong lĩnh vực lý luận Đêmôcrit thừa nhận
tính nhân quả và tính quy luật chống lại mục đích luận của duy tâm, đặc biệt
ông đã đa yếu tố biện chứng vào lý luận nhận thức, phát triển t duy trên cơ sở
mặt đối lập của nó- cảm giác. Tuy nhiên ông đã phủ nhận tính ngẫu nhiên, đó
là sai lầm rất lớn của Đêmôcrít. Quan điểm về vũ trụ vĩnh cửu vô tận, cấu
thành từ vô số thế giới biến đổi vĩnh hằng, có sự sống và không có sự sống là
một trong các thành tựu tuyệt vời của lịch sử phép biện chứng cổ đại về biện
chứng khách quan của thế giới vật chất. Tuy nhiên những lý luận biện chứng
về sự ra đời của thế giới vật chất phép biện chứng của ông còn nặng về phỏng
đoán.
Tuy phép biện chứng Hy Lạp cổ đại đóng vai trò là khởi thuỷ trong sự phát
triển của lịch sử phép biện chứng nhng nó còn quan niệm giới tự nhiên là một
chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể ấy. Đối với những nhà triết
học thời đại này thì mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tợng tự nhiên cha đợc
chứng minh về mặt chi tiết vì mối liên hệ đó chỉ là kết quả của sự quan sát trực
tiếp. Do vậy, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại mới chỉ phát triển với t cách là
một quan niệm chung về thế giới. Các nhà triết học ở thời kỳ này còn nặng về
tính biểu trng và mô tả thế giới nh, cho rằng bản nguyên vật chất thế giới là
lửa-Hêraclit,không khí-Anaximăngđrơ, nớc-Talét,v.v Các nguyên lý đợc xây
dựng trên cơ sở tập hợp kinh nghiệm kết hợp với việc quan sát trực quan và
những suy luận mở rộng cha có căn cứ khoa học xác đáng do đó còn nặng là
phỏng đoán (Đêmôcrit và Hêraclit với sự phỏng đoán về sự ra đời của thế giới
vật chất). Hơn nữa các luận điểm của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại cha có
tính hệ thống rõ rệt còn mang nặng về tầm triết lý hơn là tầm lý luận triết học.
2)Phép biện chứng trong triết học trung đại:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tuy triết học thời kỳ Phục hng và triết học Tây Âu thế kỷ XVII XVIII đ-
ợc đặc trng bởi sự thống trị của phơng pháp siêu hình nhng các học thuyết triết
học thời kỳ cũng cha đựng những quan điểm biện chứng hết sức sâu sắc, với
các đại biểu nh: Đềcáctơ, Xpinôda hay là Brunô
Sự tiêu vong của chế độ phong kiến đồng thời với sự xuất hiện của chủ
nghĩa t bản, những thành tựu to lớn đầu tiên của giới khoa học tự nhiên là điều
kiện tiền để của các t tởng biện chứng thời kì này mà tiêu biểu là của Brunô
Brunô cũng có những đóng góp cho phép biện chứng, ông đa ra t tởng biện
chứng về sự phù hợp của các mặt đối lập trong sự thống nhất vô tận của vũ trụ.
Rằng trong tự nhiên mọi cái đều liên hệ, vận động, thay đổi. Cái này mất đi thì
cái khác ra đời, không chỉ là sự vận động mà còn là sự chuyển hoá các mặt đối
lập ví dụ nh tình yêu chuyển thành hận thù,chất độc cũng chữa khỏi bệnh. Về
nhận thức luận,để chống lại những giáo lý hoang đờng ông đa ra nguyên tắc
nghi ngờ, ông loại bỏ chân lý của niềm tin và chỉ thừa nhận chân lý khách
quan đã đợc khoa học và thực tiễn kiểm nghiệm, với ông đối tợng của nhận
thức là giới tự nhiên, nhận thức cái muôn màu, muôn vẻ của thế giới rồi đi đến
cái cơ sở, cái nguyên thể duy nhất, vĩnh viễn và vô cùng, vô tận. Đó chính là
tính thống nhất biện chứng của thế giới thể hiện trong triết học của Brunô.
Trên con đờng kéo dài hơn 2000 năm của lịch sử triết học cổ đại, phơng
pháp t duy siêu hình là giai đoạn chuẩn bị của các tiền đề cho sự phát triển
mạnh mẽ và thắng lợi sau này của lịch sử phép biện chứng. Thậm chí sự phát
triển của các học thuyết triết học phi biện chứng dới hình thức khác nhau cũng
gắn liền với việc đặt ra các vấn đề tạo thành nội dung của phép biện chứng. Vì
vậy, thực chất của vấn đề là ở chỗ, dù cho có thái độ tiêu cực đối với phép biện
chứng cổ đại, song về mặt lịch sử, các nhà triết học thời kỳ trung đại đã chuẩn
bị cho phép biện chứng của chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức ra đời. Nh vậy,
lịch sử phép biện chứng không bị gián đoạn ngay cả ở thời đại thống trị của
phơng pháp t duy siêu hình
3)Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức
Nửa cuối thế kỷ XVIII, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công
nghiệp ở hàng loạt các nớc Tây Âu đã phát triển ở trình độ cao. Cách mạng
công nghiệp Anh, cách mạng t sản Pháp đã làm rung chuyển châu Âu, và đa
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
châu Âu vào giai đoạn mới của nền văn minh công nghiệp. Trong khi đó, Đức
vẫn là một nớc phong kiến, lạc hậu về kinh tế chính trị. Thêm vào đó là điều
kiện địa lý không thuận lợi, tài nguyên nghèo nàn, chiến tranh liên miên, đã đa
nớc Đức đến thảm cảnh: sản xuất chậm phát triển, lòng ngời hoang mang, xã
hội bế tắc. Do đó mâu thuẫn giữa nhân dân và giai cấp t sản tiến bộ với chế độ
phong kiến đã lỗi thời ngày càng nâng cao. Nhng địa vị thấp kém về chính trị
và kinh tế của giai cấp t sản Đức, sự sợ hãi trớc cơn bão của cuộc cách mạng
Pháp, sự nhợng bộ của giai cấp t sản quá yếu trớc một thế lực phong kiến đã
già cỗi,lỗi thời đã đợc phản ánh vào hệ t tởng xã hội dẫn đến t tởng dao động,
nhị nguyên và dẫn đến duy tâm thần bí trong triết học của các nhà t tởng thời
bấy giờ nh Sêlinh, Phictơ, CanTơ mà tiêu biểu là học thuyết của Hêghen. Tóm
lại 3 tiền đề ra đời của lịch sử phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức là:
Cuộc khủng hoảng vô cùng sâu sắc của xã hội phong kiến Tây Âu và sự xuất
hiện rất mạnh mẽ của xã hội t bản chủ nghĩa.Sự tiến bộ của nhận thức khoa
học làm cho các quan niệm siêu hình bị loại bỏ, các quan niệm khách quan về
giới tự nhiên ngày càng đợc phát triển.Và sự phát triển của tri thức triết học
ngày càng đòi hỏi phải có phép biện chứng với t cách là phơng pháp để không
những lý giải các vấn đề cấp bách của triết học mà còn nâng nó lên một trình
độ khoa học thực sự.
Thành tựu quan trọng nhất của triết học cổ điển Đức là xây dựng đợc phép
biện chứng với t cách là lý luận phát triển nhận thức luận và lôgic. Nếu phép
biện chứng trong triết học cổ đại chủ yếu đợc nghiên cứu trên cơ sở kinh
nghiệm hàng ngày, các phép biện chứng trong thời đại tiếp theo về căn bản đã
bị t duy siêu hình thay thế và chỉ đợc phát triển không đều trong một số học
thuyết triết học riêng biệt cha có tính hệ thống, thì phơng pháp t duy biện
chứng trong chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức đã đợc xây dựng thành lý luận
một cách có hệ thống. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức
đã áp dụng một cách có ý thức phép biện chứng vào các lĩnh vực khác nhau
hình thành nên quy luật chung nhất của nhận thức.
Học thuyết của Hêghen là thành tựu cao nhất về phép biện chứng của chủ
nghĩa duy tâm cổ điển Đức thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX. Học thuyết này có
đặc điểm khác biệt là nội dung rộng lớn và sâu sắc đặc biệt,sự đa dạng của các
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
vấn đề do nó đặt ra rất quan trọng Lần đầu tiên trong lịch sử biện
chứng,Hêghen đã phát hiện ra các quy luật biện chứng cơ bản mà ở Phíctơ và
Senling chỉ mới thể hiện dới dạng không rõ ràng hay cha đợc đề cập tới. Sự
hợp nhất một cách hữu cơ yếu tố bản thể luận và yếu tố nhận thức trong phép
biện chứng Hêghen đã đợc tiến hành một cách đầy đủ hơn so với ở Phíctơ và
Senling. Chẳng hạn các phạm trù ở hêghen trở thành các hình thức phổ biến
không những trong nhận thức mà còn cuả cả bản thân thế giới khách quan.
Bên cạnh các yếu tố tích cực trong việc thống nhất giữa các quy luật của tồn
tại và nhận thức về nó, còn có các yếu tố tiêu cực đó là đa nhng quy luật của
tồn tại một cách duy tâm vào tồn tại t duy.
Lần đầu tiên trong lịch sử biện chứng Hêghen đã tạo ra lý luận phát triển
mâu thuẫn,và sau đó giải quyết mâu thuẫn thông qua tổng hợp.Tính chất thần
bí mà phép biện chứng ấy tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành ngời
đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức vận động chung của phép
biện chứng ấy. Phép biện chứng của ông là một hệ thống phạm trù đợc nghiên
cứu toàn diện, các quy luật biện chứng đợc rút ra từ việc phân tích sự tác động
qua lại giữa các phạm trù. Đồng thời phơng pháp biện chứng của ông đợc xây
dựng với t cách là phơng pháp là hợp nhất của phép biện chứng và lôgic học
thành một quan niệm thống nhất về lôgic học biện chứng. Hêghen đã xây
dựng học thuyết biện chứng của mình đồng thời với cả phép quy nạp và phép
diễn dịch, rút ra một phạm trù của phép biện chứng từ phạm trù khác.Ông đã
rút ra đợc các phạm trù bằng con đờng khái quát các dữ liệu kinh nghiệm, mặc
dù không nhận thức đợc điều đó.
Thành tựu vĩ đại của Hêghen về lý luận biện chứng là khoa học về lôgic,
nó có liên quan mật thiết đến quan điểm duy tâm và đợc ông nghiên cứu hết
sức tỉ mỉ. Theo Hêghen phải xây dựng các phạm trù của lôgic học sao cho
phản ánh mối liên hệ phổ biến và tất yếu của tồn tại và cả t duy trong sự vận
động và chuyển hoá lẫn nhau. Điều đó thể hiện qua 3 học thuyết :
+Học thuyết về sự tồn tại: Tồn tại tìm thấy h vô - mặt đối lập của mình. Tồn
tại-h vô đi vào sự thống nhất, đồng nhất tạo nên sinh thành. Học thuyết này đ-
ợc thể hiện qua quy luật lơng-chất
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Học thuyết về bản chất: Hêghen đã đóng góp cho phép biện chứng hàng
loạt những cặp phạm trù sâu sắc về bản chất-hiện tợng, thống nhất-đối lập,
mâu thuẫn, khả năng-hiện thực, tất nhiên- ngẫu nhiên, nguyên nhân kết
quả.
+ Học thuyết về khái niệm: nhấn mạnh việc nghiên cứu cái đặc thù của sự
vật, hiện tợng rồi từ đó rút ra khái niệm
Biện chứng về lịch sử nhân loại là trung tâm chú ý của Hêghen. Đóng góp
lớn của ông là việc xây dựng học thuyết về biện chứng của tha hóa, với t cách
mâu thuẫn xã hội đặc biệt và cơ bản. Biện chứng đặc thù này của ông gắn liền
với lịch sử biến đổi của nhận thức và với biện chứng của cái cũ, cái mới trong
lịch sử nhận thức và trong đời sống con ngời.
Tuy nhiên, học thuyết của Hêghen còn nhiều hạn chế nh : hệ thống ấy đợc
xây dựng trên lập trờng duy tâm coi biện chứng t tởng là cơ sở của biện chứng
khách quan, phủ nhận tính chất khách quan của nguyên nhân bên trong, cái
vốn có của sự phát triển xã hội. Ông đã thần thánh hoá t duy, đối lập nó với
hiện thực vật chất. Do đó phép biện chứng của Hêghen còn thiếu tính khoa
học. C.Mác đã phê phán phép biện chứng duy tâm của Hêghen một cách sâu
sắc và nghiêm khắc vì đã coi thờng nội dung thực tế của các quá trình tự nhiên
và xã hội và do đó bóp méo, giải thích một cách thần bí tính biện chứng của
chúng, miêu tả sự biến đổi và phát triển nh là quá trình tinh thần thuần tuý.Nh-
ng chúng ta cũng phải hiểu rằng tính không triệt để trong triết học của Hêghen
bởi lẽ phơng pháp t duy siêu hình đã thống trị trong các khoa học của thời đại
lịch sử này.
Trong khi vạch ra tính chất không có căn cứ của việc giải thích duy tâm của
sự phát triển Mác cũng đã nhấn mạnh ý nghĩa lớn lao của phép biện chứng
Hêghen : ở Hêghen phép biện chứng bị lộn ngợc đầu, chỉ cần dựng nó lại thì
sẽ phát hiện đợc cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ thần bí.
4-Phép biện chứng khoa học(Mác-Ăngghen-Lênin)
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đợc Mác
và Ăngghen sáng lập nên và nó đợc Lênin phát triển hơn nữa vào đầu thế kỷ
XX đã đa phép biện chứng lên đỉnh cao của nó. Đó là phép biện chứng khoa
học. Phép biện chứng mà ở đó có sự sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
duy vật và phơng pháp luận biện chứng. Nhờ đó, nó đã khắc phục đợc những
hạn chế trớc đây và thực sự trở thành môn khoa học. Lịch sử phát triển của nó
đợc chia làm hai giai đoạn :
a)Giai đoạn C.Mác - Ănghen :
Triết học Mác ra đời và kèm theo nó là phép biện chứng duy vật khoa học
là cuộc cách mạng trong triết học và khoa học xã hội. Sự ra đời của triết học
Mác là một tất yếu lịch sử dựa trên ba tiền đề sau :
+Điều kiện về kinh tế-xã hội và chính trị: triết học Mác xuất hiện vào thời
kỳ chủ nghĩa t bản đã phát triển ở một số nớc châu Âu và Bắc Mỹ. Cùng với sự
phát triển kinh tế t bản đó một mặt tạo ra những thành tựu to lớn về kinh tế
chính trị tiêu biểu đó là tạo ra nền sản xuất t bản chủ nghĩa (nền sản xuất dân
chủ t sản), một mặt nó làm cho mức độ bóc lột cững tăng nhanh.Nông
dân,công nhân lâm vào cảnh bần cùng,khốn khổ.Điều đó làm cho các tầng lớp
lao động ngày càng bất binh với xã hội t bản. Chính vì lý do đó mà đã nổ ra
các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nh : phong trào hiến chơng Anh,
khởi nghĩa của thợ dệt Lyon Từ đó đặt ra nhu cầu phải xây dựng một thế giới
quan mới cho giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống áp bức.
+Tiền đề lý luận : Triết học Mác kế thừa,cải tạo và phát triển các t tởng triết
học tiến bộ của nhân loại suốt hơn hai nghìn năm lịch sử mà đặc biệt là triết
học cổ điển Đức. Phép biện chứng duy tâm của Hêghen,t tởng biện chứng duy
vật của Phoiơbắc đã góp phần rất lớn để Mác xây dựng phép biện chứng duy
vật.
+Tiền đề về khoa học tự nhiên: Phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa ra đời
đã mở rộng sản xuất, tạo điều kiện cho khoa học phát triển. Tiêu biểu cho sự
phát triển khoa học thời kỳ này là ba phát minh khoa học lớn mà Ăngghen đã
đánh giá chúng nh một cuộc cách mạng triệt để về thế giới quan trong khoa
học về tự nhiên: thứ nhất là định luật về bảo toàn và chuyển hoá năng lợng,thứ
hai là học thuyết về tế bào,thứ ba là học thuyết tiến hoá các giống ,các loài của
Đacuyn. Những thành tựu về khoa học tự nhiên đòi hỏi phải có sự khái quát
một cách triết học mà công việc đó không thể thực hiện với chủ nghĩa duy tâm
và phơng pháp siêu hình.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác là bớc lớn trong lịch sử triết học mà nội
dung quan trọng nhất của nó là việc xây dựng thành công chủ nghĩa duy vật
biện chứng khác về căn bản tất cả các nền triết học trớc đó.
Mác và Ănghen đã liên kết một cách hữu cơ, không tách rời chủ nghĩa duy
vật và phép biện chứng, xây dựng thế giới quan khoa học triết học duy vật biện
chứng với t cách một học thuyết về những quy luật chung nhất của giới tự
nhiên, xã hội và của cả nhận thức. Việc xây dựng chủ nghĩa duy vật biện
chứng hoàn toàn không phải là sự kết hợp giản đơn chủ nghĩa duy vật trớc
Mác với phép biện chứng duy tâm, chủ nghĩa duy vật siêu hình cũng không
thể liên kết đợc với quan điểm biện chứng về tự nhiên, vì nó phủ nhận bất kỳ
phép biện chứng nào. Từ đó ta có thể thấy đợc thành tựu vĩ đại của Mác và
Ăngghen trong việc sáng lập ra chủ nghĩa Mác là ở chỗ đã cải tạo toàn bộ di
sản triết học một cách biện chứng trên lập trờng lý luận, chính trị, khoa học
mới về nguyên tắc, đã phủ nhận nó một cách biện chứng trong khi vẫn duy trì
và phát triển sáng tạo những thành tựu của các t tởng triết học tiền bối
Phép biện chứng mácxít còn đợc xây dựng trên những cơ sở khoa học tự
nhiên hiện đại. Ănghen đã nói rằng bản thân phép biện chứng là khoa học về
sự phát triển lịch sử t duy của con ngời. Trong việc phát triển của phép biện
chứng duy vật Ăngghen đã không coi nó nh là một sự chồng chất hỗn loạn các
quy luật và các phạm trù, mà nh là một hệ thống khoa học có cấu trúc xác
định, có sự kết hợp các bộ phận và các yếu tố hợp thành khác nhau. Sau khi đã
phê phán nghiêm khắc và vứt bỏ quan niệm duy tâm và siêu hình, Ănghen đã
phác hoạ một hệ thống lôgíc thật sự khoa học dựa trên các nguyên lý duy vật
biện chứng. Ănghen đã đa ra khái niệm về các quy luật cơ bản của phép biện
chứng và xác định đấy là những quy luật nào, chỉ rõ ý nghĩa quyết định của
chúng trong hệ thống các quy luật có tính bộ phận hơn.
Từ đó, có thể thấy phép biện chứng duy vật đã phát sinh và phát triển trong
mối liên hệ khăng khít với những nhu cầu chín muồi về mặt lịch sử của nhận
thức khoa học và của thực tiễn xã hội. Phép biện chứng duy vật-phơng pháp
của sự nhận thức và của hoạt động cải tạo cách mạng phù hợp với bản chất sự
vật-đợc Mác và Ănghen xây dựng đã đáp ứng cho nhu cầu này. Nó xuất hiện
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tất yếu và hợp quy luật một cách khách quan trong sự phát triển lâu dài của t t-
ởng triết học.
b)Giai đoạn Lênin bảo vệ và phát triển triết học Mác
Nền tảng cho những t tởng triết học của Lênin là thực tiễn sinh động của
các hoạt động của Đảng cộng sản Nga và cách mạng vô sản. Đồng thời chủ
nghĩa t bản cuối thế kỷ 19 đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, mâu
thuẫn giữa giai cấp vô sản và t sản đã trở nên gay gắt ,trung tâm của cách
mạng thế giới đã chuyển từ Đức sang Nga. Các thế lực bảo thủ và phản động
Nga và quốc tế đã nhận thấy đợc vai trò lớn lao của chủ nghĩa Mác đối với
cách mạng Nga, nên chúng tấn công điên cuồng vào chủ nghĩa Mác từ mọi
phía .Chủ nghĩakinh nghiệm phê phán,chủ nghĩa xét lại, bọn theo chủ
nghĩa Makhơ ở Nga, bọn cơ hội chủ nghĩa của Quốc tế II là đại diện về mặt t
tởng của bọn phản cách mạng. Mặt khác cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20 khoa
học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học đã có những bớc nhảy vọt đòi hỏi những
khái quát về triết học .Trớc tình hình nh thế, Lênin vị lãnh tụ vĩ đại của
cách mạng vô sản Nga phải bảo vệ chủ nghĩa Mác mà nhất là triết học Mác
chống lại t tởng phản cách mạng, đa phong trào cách mạng Nga và phong trào
vô sản thế giới đến thắng lợi. Giai đoạn mới trong lịch sử chủ nghĩa Mác xứng
đáng đợc mang tên V.I.Lênin-ngời kế tục vĩ đại sự nghiệp của C.Mác và Ph.
Ăngghen
Lênin luôn đấu tranh để bảo vệ triết học Mác, ông thờng xuyên nhấn mạnh
rằng , chủ nghĩa Mác không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho những
hành động đúng đắn. Điều đó có nghĩa là sự phát triển chủ nghĩa Mác, việc
làm phong phú nó bằng những luận điểm mới là một tất yếu hiển nhiên bởi vì
lịch sử thế giới luôn biến động. Lênin đã đóng góp nhiều cho chủ nghĩa duy
vật lịch sử, đặc biệt là chống t tởng duy tâm về lịch sử của chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán . Ông vạch ra rằng chủ nghĩa duy tâm vật lý học, chủ nghĩa
Makhơ đều là hệ t tởng của giai cấp đối địch trong xã hội.
Lênin đã phát triển triết học Mác-Ăngghen một cách toàn diện. Lênin đã
nêu lên định nghĩa kinh điển về vật chất-việc mà triết học Mác vẫn cha khái
quát đợc. Ông hoàn thiện hơn nữa quan niệm biện chứng về sự phát triển. Đã
định nghĩa phép biện chứng duy vật nh học thuyết về sự phát triển, dới hình

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét