Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

450 Một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh của khu vưc kinh tế Nhà nước trong xu thế hội nhập kinh tế

II/ Mục đích nghiên cứu :
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu những lý luận về nền
kinh tế đònh hướng xã hội chủ nghóa, tài chính doanh nghiệp nhà nước và xu thế
hội nhập kinh tế kết hợp với thực trạng hoạt động và khả năng cạnh tranh của
khu vực kinh tế nhà nước, mà biểu hiện là doanh nghiệp nhà nước. Nhằm tìm ra
một số giải pháp phù hợp nâng cao năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh của
khu vực kinh tế nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay.
III/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

Luận văn có liên quan đến nhiều lónh vực khoa học như : kinh tế, tài
chính, kế toán, kinh tế đối ngoại, pháp luật và các mối quan hệ quốc tế. Tuy
nhiên, luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc nâng
cao năng lực cạnh tranh và năng lực tài chính của khu vực kinh tế nhà nước trong
xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay ở nươc ta.
IV/ Phương pháp nghiên cứu :

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghóa duy vật biện chứng, gắn việc nghiên cứu với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể
để việc đánh giá mang tính khách quan thực tế. Ngoài ra còn kết hợp sử dụng
một số phương pháp khác như : phương pháp logic, phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh ….
V/ Bố cục của luận văn :

Ngoài Phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương :
Chương I : Một số lý luận về nền kinh tế nhiều thành phần theo đònh
hướng XHCN ở nước ta. Kinh tế Nhà Nước và xu thế hội nhập
kinh tế ở nước ta hiện nay.
Chương II : Thực trạng hoạt động, tình hình tài chính và năng lực cạnh
tranh của khu vực kinh tế nhà nước ở nước ta trong thời gian
qua.
Chương III : Một số giải pháp nâng cao năng lực tài chính và năng lực
cạnh tranh của khu vực kinh tế nhà nước trong xu thế hội
nhập.

W * X
Trang 5
CHƯƠNG I :
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ
NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN -
KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1) Nền kinh tế nhiều thành phần theo đònh hướng Xã hội chủ nghóa ở nước
ta hiện nay.
1.1.1) Khái niệm thành phần kinh tế.

Dưới giác độ kinh tế chính trò thành phần kinh tế là một khái niệm để
chỉ kết cấu kinh tế – xã hội trong thời kỳ quá độ. Khái niệm này được Lênin sử
dụng đầu tiên khi phân tích kết cấu kinh tế – xã hội nước Nga sau cách mạng
tháng 10.
“Danh từ quá độ có nghóa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải có nghóa
là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của
chủ nghóa tư bản và chủ nghóa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có”
(Trích V.I Lênin toàn tập (3). NXB tiến bộ Mát xcơ va 1978, trang 248).
Như chúng ta đã biết, trong bất cứ chế độ kinh tế – xã hội nào, ngoài
phương thức sản xuất tiêu biểu cho chế độ kinh tế – xã hội đương thời giữ đòa vò
thống trò, chi phối. Còn chứa đựng những tàn dư của phương thức sản xuất trước
và tồn tại những nhân tố của phương thức sản xuất kế sau. Những phương thức
này ở vào đòa vò lệ thuộc, bò chi phối. Nhưng nói chung trong thời kỳ quá độ, khó
có thể có phương thức sản xuất nào giữ đòa vò thống trò theo nghóa đầy đủ. Vì
phương thức sản xuất giữ đòa vò thống trò trong thời kỳ trước đang suy thoái,
không còn đủ sức chi phối nền kinh tế quốc dân nữa; còn phương thức sản xuất
mới đang lên nhưng chưa giành được đòa vò thống trò. Trong thời kỳ đó mỗi
phương thức sản xuất là mỗi bộ phận hợp thành kết cấu kinh tế – xã hội, vừa có
tính chất độc lập tương đối vừa tác động lẫn nhau, vừa hợp tác vừa đấu tranh
nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn nhau. Mỗi bộ phận ấy theo quan niệm của
Lênin là thành phần kinh tế.
Cũng như phương thức sản xuất, mỗi thành phần kinh tế bao gồm một
lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất nhất đònh phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất ấy. Do đó tiêu chí cơ bản để phân đònh thành
phần kinh tế là quan hệ sản xuất.



Trang 6
1.1.2) Quan điểm – chủ trương của Đảng về nền kinh tế nhiều thành
phần.
1.1.2.1) Nhận thức về sở hữu và thành phần kinh tế ở nước ta
:
Quan hệ sở hữu là nền tảng quyết đònh và chi phối mọi quan hệ về
kinh tế và lợi ích trong xã hội. Nó là cơ sở của mâu thuẫn, của đối kháng giai cấp
và là mục tiêu trực tiếp của các cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
Tuy nhiên giành được quyền sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội mới là
mục tiêu trực tiếp, chứ chưa phải là mục tiêu cuối cùng của cuộc cách mạng.
Mục tiêu cuối cùng là lợi ích kinh tế và tiến bộ xã hội có được từ quyền sở hữu tư
liệu sản xuất đã giành được qua cách mạng xã hội.
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghóa ở nươc ta đã đặt ra hai nhiệm vụ cơ
bản phải thực hiện là :
- Giành lấy quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu cùng với
chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
- Xác lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất nhằm phát triển kinh tế – xã hội. Mà cốt lõi là xác lập cơ cấu về
sở hữu tư liệu sản xuất và cơ cấu các thành phần kinh tế một cách phù hợp với
yêu cầu của quy luật và thực tế khách quan của nền kinh tế thời kỳ quá độ ở
nước ta.
1.1.2.2) Chủ trương của Đảng
:
Trước đây thành phần kinh tế dựa trên hình thức tư hữu không được
thừa nhận, được coi là đối tượng phải được cải tạo và xóa bỏ. Tại Đại hội VI của
Đảng (12/1986) đường lối đổi mới đã khẳng đònh xây dựng phát triển kinh tế
nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại lâu
dài.
“Chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghóa chiến lược lâu dài, có
tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghóa và thể hiện tinh
thần dân chủ về kinh tế” (Trích nghò quyết Trung ương 6 – Khoá VI)
Chủ trương phát triển đan xen nhiều loại hình kinh tế hỗn hợp, đan kết
các hình thức sở hữu. Tư nhân được kinh doanh không hạn chế về quy mô, đòa
bàn hoạt động trong những ngành nghề mà luật pháp không cấm. Các Đại hội
Đảng lần thứ VII (6/1991), lần thứ VIII (7/1996) và lần thứ IX (4/2000) đều tiếp
tục khẳng đònh quan điểm trên.
Quan điểm trên của Đảng đã được khẳng đònh trong Hiến pháp nươc ta
năm 1992 cụ thể như sau :
“Điều 15 : Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo cơ chế thò trường có sự quản lý của nhà nước, theo đònh hướng xã hội chủ
nghóa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh
doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,
trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
Trang 7
Đại hội Đảng lần thứ IX xác đònh hiện nay ở nước ta tồn tại sáu thành
phần kinh tế sau : Kinh tế Nhà nước; Kinh tế tập thể; Kinh tế cá thể, tiểu chủ;
Kinh tế tư bản tư nhân; Kinh tế tư bản Nhà nước; Kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài.
Hiện nay, với sự đa dạng hóa của nền kinh tế thò trường đã hình thành
nhiều hình thức sở hữu hỗn hợp, đan xen nhau, bổ sung nhau như việc liên doanh,
liên kết giữa khu vực kinh tế nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân và nước
ngoài, cũng như hình thức góp vốn giữa tư nhân trong nước và nước ngoài …
1.1.3) Tính tất yếu khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước
ta.
Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghóa xã hội ở nước ta là tất yếu khách quan, vì :
-Lực lượng sản xuất phát triển chưa cao để có thể thủ tiêu hoàn toàn
chế độ tư hữu để thiết lập chế độ công hữu, nên còn tồn tại nhiều hình thức sở
hữu là tất yếu.
-Những thành phần kinh tế do lòch sử để lại đặc trưng cho phương thức
sản xuất cũ tuy không còn giữ vò trí thống trò nhưng vẫn còn có những tác dụng
nhất đònh đối với lực lượng sản xuất, có lợi cho sự phát triển kinh tế. Những
thành phần kinh tế đặc trưng cho quan hệ sản xuất mới từng bước được tạo ra và
ngày một lớn mạnh. Đây là thành phần kinh tế thể hiện lực lượng kinh tế của
Nhà Nước Xã hội chủ nghóa.
-Mỗi một thành phần kinh tế trong quá trình phát triển đều có những
lợi thế so sánh nhất đònh, do đó việc tồn tại nhiều thành phần kinh tế sẽ khai thác
tối ưu tiềm năng của nền kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, khắc phục
tình trạng độc quyền, tạo ra sự cạnh tranh thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển.
1.2) Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà Nước trong nền kinh tế ở nước ta.

1.2.1) Khái niệm kinh tế Nhà Nước
.
Theo như quan niệm của Lênin về thành phần kinh tế trong thời kỳ
quá độ đã trình bày ở trên, thì kinh tế nhà nước không tương ứng với quan hệ sản
xuất của hình thái kinh tế – xã hội nào cả. Kinh tế nhà nước không chỉ tồn tại
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội, mà nó tồn tại cả trong chủ nghóa tư
bản và thậm chí cả trong các chế độ xã hội trước đó.
Theo cách hiểu chung nhất thì kinh tế nhà nước là phần tài sản do nhà
nước làm chủ sở hữu. Hay nói cách khác, kinh tế nhà nước là bộ phận của nền
kinh tế quốc dân thuộc sở hữu nhà nước.
Hiện nay ở nhiều nước, kinh tế nhà nước thường bao gồm những bộ
phận cơ bản sau đây :
-Tài nguyên khoáng sản và phần đất đai thuộc sở hữu nhà nước.
-Ngân hàng nhà nước, kho bạc nhà nước, ngân sách nhà nước, tài
chính nhà nước.
Trang 8
-Hệ thống dự trữ quốc gia và bảo hiểm quốc gia.
-Các dòch vụ công do nhà nước đảm nhiệm.
-Các doanh nghiệp nhà nước.
Ngày nay cũng có quan điểm cho rằng kinh tế nhà nước còn bao gồm
cả nguồn nhân lực, hệ thống các chính sách, công cụ quản lý nhà nước …
Xét về chức năng, cơ cấu kinh tế nhà nước bao gồm hai hệ thống : hệ
thống doanh nghiệp nhà nước và hệ thống phi doanh nghiệp. Hệ thống phi doanh
nghiệp gồm : ngân hàng nhà nước, kho bạc nhà nước, các quỹ quốc gia, tài
nguyên …. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước gồm các doanh nghiệp làm nhiệm vụ
kinh doanh và các doanh nghiệp làm nhiệm vụ công ích.
1.2.2) Vai trò của thành phần kinh tế Nhà Nước
.
Thành phần kinh tế nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo ra
của cải cho xã hội cũng như tạo động lực cho nền kinh tế quốc dân.
1.2.2.1) Vai trò kinh tế
:
Vai trò kinh tế của nhà nước bắt nguồn từ chức năng của Nhà nước
trong quản lý và phát triển kinh tế – xã hội. Kinh tế nhà nước trước hết được sử
dụng như một nguồn lực để phát triển kinh tế, tạo ra của cải cho xã hội, sử dụng
như một công cụ trong quản lý kinh tế xã hội.
- Kinh tế nhà nước được Nhà Nước sử dụng như một công cụ can thiệp
vào quá trình kinh tế, điều tiết, chi phối sự vận động của nền kinh tế theo đònh
hướng của Nhà Nước nhằm khắc phục những khuyết tật vốn có của cơ chế thò
trường. Khắc phục trạng thái độc quyền tự nhiên, những tác động hướng ngoại
phát sinh trong nền kinh tế thò trường.
- Lấp vào những ngành nghề mà khu vực kinh tế tư nhân hoặc không
muốn làm, hoặc không có khả năng làm. Đầu tư vào những ngành quyết đònh cho
sự phát triển dài hạn. Có tác dụng mở đường, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế
khác nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng, đảm bảo sự công bằng và hiệu quả cho toàn
bộ nền kinh tế quốc dân.
1.2.2.2) Vai trò chính trò
.
- Kinh tế nhà nước cung cấp cho Nhà nước một cơ sở kinh tế, để Nhà
Nước trở thành một lực lượng chi phối trực tiếp đối với các thành phần kinh tế
khác. Trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghóa xã hội, kinh tế nhà nước còn cung cấp
nguồn lực chủ yếu cho hoạt động của Nhà Nước bên cạnh nguồn thu ngân sách
từ thuế. Là công cụ trực tiếp hữu hiệu để thúc đẩy nền kinh tế theo đònh hướng
Xã hội chủ nghóa và thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội theo Nghò quyết
của Đảng và những chính sách mà Chính phủ đã đề ra.
- Là khu vực cung cấp những hàng hóa, dòch vụ cho các hoạt động an
ninh quốc phòng mà khu vực kinh tế tư nhân không được phép làm, không làm
được hoặc không muốn làm.
Trang 9
1.2.2.3) Vai trò xã hội.
- Là công cụ để điều tiết nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, giúp cho
xã hội phát triển ổn đònh. Trong nền kinh tế thò trường, chòu sự tác động của các
quy luật thò trường, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải cạnh tranh và tạo ra
lợi nhuận. Do đó nền kinh tế thò trường tồn tại những khuyết tật gây ảnh hưởng
tiêu cực về mặt xã hội như : phân hoá giàu nghèo, khủng hoảng kinh tế, lạm
phát, thất nghiệp và ô nhiễm môi trường … Ở đây, sự tác động của kinh tế nhà
nước bằng những chính sách vó mô có vai trò quyết đònh nhằm giữ nền kinh tế
phát triển ổn đònh, giảm thiểu những tác động tiêu cực về mặt xã hội.
- Ngoài ra sự phát triển của kinh tế nhà nước còn giúp tạo ra việc làm,
giải quyết vấn đề thất nghiệp, tăng thu nhập cho xã hội và giảm bớt sự bất bình
đẳng trong xã hội, nâng cao phúc lợi, an sinh xã hội.
- Thông qua kinh tế nhà nước mà Nhà Nước thực hiện việc điều chỉnh
cơ cấu kinh tế về cơ cấu vùng, cơ cấu ngành cũng như cơ cấu thành phần kinh tế.
Một cơ cấu kinh tế hợp lý là điều kiện để nền kinh tế tăng trưởng và phát
triển.Vì vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hóa đòi hỏi phải xây dựng cơ cấu kinh tế
hợp lý, hiện đại.
- Kinh tế nhà nước cung cấp các dòch vụ công cho xã hội, làm gia tăng
phúc lợi xã hội và được phân phối công bằng cho mọi người.
1.2.3) Các giai đoạn hình thành, phát triển kinh tế nhà nước ở nước ta
.
Kinh tế nhà nước ra đời gắn liền với sự hình thành Nhà Nước và sở
hữu nhà nước. Cũng như các Nhà Nước khác, nước ta trong tất cả các giai đoạn
phát triển của mình đều quan tâm đến sự phát triển của kinh tế nhà nước nói
chung và đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước do Nhà Nước đầu tư vốn, làm
chủ sở hữu và quản lý thuộc các lónh vực của nền kinh tế vì các mục tiêu phát
triển kinh tế – chính trò – xã hội của đất nước trong mỗi thời kỳ.
Từ năm 1955, sau khi kết thúc cuộc kháng chiến 9 năm đến nay, sự
phát triển của các doanh nghiệp nhà nước trải qua các giai đoạn sau :
a) Giai đoạn 1955-1975 : trong giai đoạn này doanh nghiệp nhà nước
chủ yếu hình thành do Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp quản, quốc
hữu hóa của chính quyền thực dân Pháp. Trong thời gian đầu (1955 – 1965)
nhiệm vụ chính là khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghóa đối với kinh tế tư
bản tư nhân, tiểu nông, tiểu thương và bắt đầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho Chủ nghóa xã hội ở miền Bắc. Đến giữa những năm
1960, Mỹ bắt đầu leo thang cuộc chiến tranh tại Việt nam, nhiệm vụ của các
doanh nghiệp nhà nước ngoài việc sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng còn phải
sản xuất phục vụ kháng chiến. Trong giai đoạn này doanh nghiệp nhà nước là lực
lượng kinh tế lớn mạnh và giữ vai trò độc quyền.
b) Giai đoạn 1975 – 1986 : đây là giai đoạn tiếp quản, cải tạo xã hội
chủ nghóa và xây dựng mới các doanh nghiệp nhà nước tại miền Nam. Trong giai
Trang 10
đoạn này do ảnh hưởng của nền kinh tế kế hoạch, tập trung, quan liêu bao cấp đã
ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp nhà nước, tổng sản
phẩm xã hội có chiều hướng giảm sút, tỷ lệ lạm phát phi mã đã kìm hãm sự phát
triển của nền kinh tế (xem bảng 1).
Bảng 1
: tỷ lệ đóng góp của DNNN trong tổng sản phẩm xã hội (1960 –
1985)
1960 1965 1970 1975 1980 1985
38,4% 45,2% 44,4% 32,3% 35,4% 35,7%
(Nguồn : Đổi mới tăng cường thành phần kinh tế nhà nước, GS.TS Vũ Đình
Bách, NXB CTQG 2001, trang 87)
0.00%
10.00%
20.00%
30.00%
40.00%
50.00%
1960 1965 1970 1975 1980 1985
Đồ thò : Tỷ lệ đóng góp của DNNN trong tổng sản phẩm xã hội 1960-1985
(Nguồn
: bảng 1)
c) Giai đoạn đổi mới kinh tế từ sau Đại hội VI (1986) của Đảng đến
nay : giai đoạn này thực hiện nhiều cuộc cải cách lớn trong chính sách kinh tế vó
mô nhằm hướng các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thò trường. Khởi đầu đổi
mới là cải cách giá áp dụng cơ chế theo giá thò trường, củng cố chất lượng và
giảm bớt số lượng doanh nghiệp nhà nước thông qua sát nhập, giải thể, phá sản,
cổ phần hóa và bán doanh nghiệp nhà nước.
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước tại nước ta đã được khẳng đònh
trong Hiến pháp năm 1992 cụ thể như sau : “Điều 19 : Kinh tế quốc doanh được
củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lónh vực then chốt, giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền tự chủ
trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.”
Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội khoá IX thông qua ngày
20/04/1995 đã đưa ra đònh nghóa doanh nghiệp nhà nước như sau :”Doanh nghiệp
nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà Nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý,
hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh
tế xã hội do Nhà Nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các
quyền và nghóa vụ dân sự, tự chòu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh
trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý”. Như vậy về bản chất các đặc
Trang 11
trưng của doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều thay đổi so với thời kỳ bao cấp của
nền kinh tế kế hoạch.
1.3) Vai trò của kinh tế Nhà Nước và kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp nhà
nước ở một số nước trên thế giới.
Sự phát triển của khu vực kinh tế nhà nước đều nhằm thực hiện tốt hơn
những chức năng kinh tế vó mô của Nhà Nước. Tuy nhiên ở các nước khác nhau
sự phát triển này có những nét đặc thù riêng.
So với khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế nhà nước nhiều khi là
gánh nặng đối với nền kinh tế thò trường, vì một mặt chúng sử dụng các nguồn
lực một cách kém hiệu quả, gây lãng phí và mặt khác chúng hút cạn nguồn ngân
sách của chính phủ, dẫn đến những hậu quả xấu đối với nền kinh tế vó mô.
Nhưng với các đặc trưng và vai trò của khu vực kinh tế nhà nước thì không thể
xoá bỏ hoàn toàn các doanh nghiệp nhà nước mà ngược lại cần phải quan tâm
nhiều hơn đến khu vực kinh tế này.
Trong thực tế không thể có một nền kinh tế do bàn tay vô hình điều
khiển để vận hành có hiệu quả mà cần phải có sự can thiệp của bàn tay Nhà
Nước. Mặc dù xu thế chung Nhà Nước dần dần ngày càng thoát ly khỏi các hoạt
động kinh doanh, nhưng vai trò chung của Nhà Nước trong nền kinh tế không có
gì giảm sút. Nhiệm vụ của Nhà Nước về mặt kinh tế là hạn chế những tiêu cực
mà bản thân thò trường không thể điều tiết. Bên cạnh đó Nhà Nước còn có vai trò
tạo ra phúc lợi xã hội và nhiệm vụ phân phối lại thu nhập nhằm bảo đảm công
bằng xã hội.
Tuy các nhà kinh tế có sự nhất trí rằng cạnh tranh sẽ đem lại hiệu quả
cao, là động lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển, kích thích đổi mới và sáng
tạo. Tuy nhiên lòch sử phát triển kinh tế cũng cho thấy một số trường hợp cạnh
tranh không đem lại hiệu quả, đây cũng là một vấn đề cần lưu ý trong thò trường
cạnh tranh. Do đó Nhà Nước có vai trò hướng dẫn sự cạnh tranh trong nền kinh tế
để phát huy hiệu quả.
Đối với các nước đang phát triển thì việc phát triển khu vực kinh tế
nhà nước mà cụ thể là các doanh nghiệp nhà nước được coi là một công cụ hữu
hiệu để thực hiện quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, được sử dụng như
là một công cụ để ổn đònh và phát triển kinh tế, nâng cao vai trò của Nhà Nước
trong việc kế hoạch hóa và kiểm soát sự phát triển của nền kinh tế theo đònh
hướng của Nhà Nước. Tuy nhiên cũng tồn tại nhược điểm là doanh nghiệp nhà
nước tại các nước đang phát triển hoạt động hiệu quả còn thấp.
Đối với các nước phát triển thì khu vực kinh tế nhà nước không những
phát triển mạnh trong lónh vực công ích mà các doanh nghiệp nhà nước có mặt
hầu hết ở những ngành, những lónh vực then chốt như : công nghiệp nặng, hàng
không, đường sắt, tài chính, bảo hiểm …. Tuy Nhà Nước ngày càng tư nhân hóa
Trang 12
khu vực kinh tế công, nhưng Nhà Nước vẫn có thể chi phối hoạt động của khu
vực kinh tế tư nhân với tư cách là cổ đông. Như vậy tại các nước phát triển thì
khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân đã xâm nhập nhau, đan xen nhau
nhằm tận dụng những ưu thế của nhau và ngày càng phát triển.
Tại cuộc Hội thảo tổng kết 20 năm đổi mới của Việt Nam ngày
01/07/2005, bàn về những vấn đề rất phức tạp và hệ trọng đối với tương lai của
Việt Nam như : các thách thức to lớn cho sự phát triển và vươn lên của Việt Nam
từ bên trong và bên ngoài; khan hiếm dầu lửa và chiến tranh giành giật tài
nguyên thiên nhiên; tranh chấp về nguồn nước; phân chia lại thò trường thế giới;
các thay đổi chiến lược trong khu vực Đông Nam Á trong tương lai và vò trí của
Việt Nam. Giáo sư Robert Wade – Đại học Kinh tế London – khẳng đònh phải có
vai trò tích cực của Nhà Nước trong nền kinh tế toàn cầu hóa.
Cải cách doanh nghiệp nhà nước không phải là vấn đề riêng có của
Việt Nam. Cho đến nay, ở các nước đang phát triển và thậm chí các nước công
nghiệp phát triển thì công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước vẫn đang diễn ra
với nhiều sắc thái và mức độ khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội,
chính trò của các nước. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, tiến trình cải cách
doanh nghiệp nhà nươc thường do ba bộ phận hợp thành. Một là, phân loại sắp
xếp hợp lý toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước. Hai là, cải tiến tổ chức, nâng
cao hiệu quả của từng doanh nghiệp nhà nước. Ba là, thay đổi thể chế kinh tế nói
chung, tạo cho các doanh nghiệp nhà nước môi trường cạnh tranh nhất đònh, buộc
các doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động hiệu quả hơn. Cả ba bộ phận này cần
phải được tiến hành một cách đồng bộ.
- Tại Trung Quốc : năm 1978 Trung Quốc thực hiện công cuộc cải
cách, mở cửa, đề ra xây dựng thể chế thò trường xã hội chủ nghóa nhằm khắc
phục những khuyết tật của thể chế kinh tế kế hoạch hóa trước đây, đặt cải cách
xí nghiệp “quốc hữu” - tức doanh nghiệp nhà nước – là khâu trọng tâm trong cải
cách kinh tế.
Từ năm 1978 – 1983 là giai đoạn mở rộng quyền tự chủ kinh doanh
cho các doanh nghiệp nhà nước. Một mặt chuyển từ cấp phát thành vay ngân
hàng, mặt khác đẩy mạnh cải cách để hỗ trợ như điều chỉnh quan hệ phân phối
giữa Nhà Nước và doanh nghiệp; thực hiện nhiều hình thức trích nộp lợi nhuận,
khoán lỗ, lãi; khuyến khích kinh doanh dưới nhiều hình thức sở hữu … từng bước
đã thay đổi tình trạng chính quyền can thiệp quá nhiều vào doanh nghiệp nhà
nước, tạo cơ chế kích thích lợi ích, ràng buộc trách nhiệm. Thực thi những chính
sách đặc biệt và biện pháp linh hoạt đối vơi hoạt động kinh tế đối ngoại, xây
dựng các đặc khu kinh tế ở Thẩm Quyến, Chu hải, Sán Đầu và Hạ Môn.
Từ năm 1984 – 1992 : để ổn đònh quan hệ phân phối giữa Nhà Nước
và doanh nghiệp và cải thiện tình hình tài chính nhà nước, thì cho phép doanh
nghiệp nhà nước thực hiện chế độ khoán trách nhiệm giám đốc và doanh nghiệp
Trang 13
tự quyết đònh phân phối trong doanh nghiệp. Bằng hình thức khoán này, Nhà
Nước đã từng bước chuyển phương thức quản lý trực tiếp chủ yếu thông qua kế
hoạch pháp lệnh sang phương thức quản lý gián tiếp. Giao cho các doanh nghiệp
mở rộng quyền tự chủ như : sắp xếp nhân sự, giữ lại một phần lợi nhuận, chủ
động đầu tư trong mức độ cho phép.
Từ năm 1992 đến nay chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các doanh
nghiệp nhà nước, hình thành thể chế mới của nền kinh tế thò trường xã hội chủ
nghóa. Từng bước điều chỉnh cơ cấu và tiến hành cải tổ mang tính chiến lược đối
với xí nghiệp quốc doanh qua việc cổ phần hóa, từng bước xây dựng các xí
nghiệp quốc hữu hiện đại. Mục tiêu chính trong giai đoạn này là điều chỉnh mối
quan hệ về quyền tài sản, tiến hành phân tách giữa Nhà nước và doanh nghiệp,
giao quyền tự chủ, có trách nhiệm bảo toàn và làm tăng giá trò tài sản nhà nước.
Đến nay qua hơn 20 năm mở cửa, hệ thống các xí nghiệp quốc doanh
Trung Quốc đã có những biến đổi to lớn, trình độ trang bò kỹ thuật được nâng cao
rõ rệt, nhiều doanh nghiệp nhà nước mạnh và đủ sức cạnh tranh trên thò trường
trong cũng như ngoài nước. Sự trưởng thành và lớn mạnh của doanh nghiệp nhà
nước đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế của Trung Quốc, doanh nghiệp nhà nước
chẳng những có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội
chủ nghóa ở Trung Quốc mà còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình hiện đại hóa
đất nước.
- Tại Pháp : trước những năm 1980 chính phủ Pháp quản lý doanh
nghiệp nhà nước rất chặt chẽ một cách tập trung, can thiệp trực tiếp vào hoạt
động của doanh nghiệp. Đến năm 1982 thể chế quản lý doanh nghiệp nhà nước
từng bước cải cách, thay thế việc quản lý tập trung qua việc hậu kiểm, mở rộng
quyền tự chủ, tăng cường tác dụng của các tổ chức điều tiết như : hội đồng cạnh
tranh, hội đồng giao dòch chứng khoán … Hiện nay doanh nghiệp nhà nước chiếm
trên 30% trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, chủ yếu trong các ngành kinh tế
then chốt và quan trọng. Ngành giao thông vận tải gồm các công ty đường sắt và
công ty hàng không : chủ yếu do Nhà Nước nắm giữ, tuy từng bước đã được tư
nhân hóa, nhưng Nhà Nước vẫn nắm giữ đa số cổ phần trong các công ty trên;
Ngành năng lượng : doanh nhghiệp nhà nước chiếm 69% giá trò sản lượng toàn
ngành; Ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm : ngân hàng Nhà Nươc và các tổ
chức tài chính Nhà Nước kiểm soát toàn diện hoạt động của hệ thống tài chính
và bảo hiểm.
- Tại một số nước phát triển như Mỹ, Anh, Tây Ban Nha, Ý … đa số các
doanh nghiệp nhà nước là tập trung vào các doanh nghiệp công ích và thường
không tập trung vào việc phát triển các doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới hình
thức 100% vốn Nhà Nước. Các quốc gia trên đầu tư vào các doanh nghiệp nhà
nước thông qua hình thức mua cổ phần với những mưc độ cao thấp khác nhau, tùy
thuộc vào những yếu tố nhất đònh. Số lượng cổ phần mà Nhà Nước nắm giữ trong
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét