Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

thực trạng hoạt động ngân hàng của Việt nam và biện pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng

phản ánh đúng tính chất của các Ngân hàng Thơng mại là huy động
vốn để cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng Thơng mại cũng có thể đầu t
kinh doanh chứng khoán, đầu t tài sản cố định
Ngân hàng Thơng mại còn thực hiện một số hoạt động trung gian
khác nh làm trung gian thanh toán cho khách hàng, chuyển tiền cho
khách hàng, t vấn, môi giới chứng khoán
Chính vì những đặc trng trong hoạt động của các Ngân hàng Th-
ơng mại nh nêu trên mà những rủi ro trong hoạt động ngân hàng thờng
gắn liền với các Ngân hàng Thơng mại .
II/ Rủi ro trong hoạt động ngân hàng

1/ Rủi ro
Rủi ro trong kinh doanh đợc hiểu là những thiệt hại trong kinh
doanh có thể nằm ngoài khả năng kiểm soát của đơn vị kinh doanh. Từ
đó ta có nhận xét:
- Không đợc coi tất cả các thiệt hại trong kinh doanh là rủi ro
trong kinh doanh
- Mức độ rủi ro phụ thuộc nhiều vào trình độ quản lý thực có của
đơn vị.
- Rủi ro đợc gây ra bởi nhiều nguyên nhân: khách quan, chủ
quan,có rủi ro bất khả kháng và rủi ro tự nhiên, nhng dù là loại rủi ro
nào cũng đều có khả năng phòng ngừa với các biện pháp có thể khác
nhau.
2/Rủi ro tồn tại khách quan trong hoạt động ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trờng, kinh doanh và rủi ro là hai phạm trù
cặp đôi.
Kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN đã làm đa dạng hoá các
thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong hoạt động của các thành
phần này và thúc đẩy sự cạnh tranh lẫn nhau một cách lành mạnh.
Rủi ro tuy là sự bất trắc gây thiệt hại không mong đợi song lại là
hiện tợng dồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị tr-
5
ờng, trong quá trình cạnh tranh. Rủi ro xuất hiện ở những điểm yếu,
kém hiệu quả, mất cân đối trong phát triển kinh tế. Rủi ro vừa là
nguyên nhân, vừa là hậu quả của những hoạt động kinh tế không có
hiệu quả. Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên của các doanh
nghiệp yếu kém, thúc đẩy sự chấn chỉnh, thích nghi của các doanh
nghiệp, tạo xu hớng phát triển ổn định và có hiệu quả cho nền kinh tế.
Trong điều kiện kinh tế thị trờng, hoạt động kinh doanh của các
Ngân hàng Thơng mại cũng không nằm ngoài sự tác động trên. Thậm
chí, với hoạt động ngân hàng, hầu nh không có loại nghiệp vụ nào,
không có loại dịch vụ nào của ngân hàng là không có rủi ro bởi một lẽ
là hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thơng mại trong nền kinh tế
thị trờng là một hoạt động rất nhậy cảm, mọi biến động trong nền kinh
tế-xã hội đều nhanh chóng tác động đến hoạt động ngân hàng, có thể
gây nên những xaó trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả của ngân hàng bị
giảm sút một cách nhanh chóng. Do vậy, hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thơng mại luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, nó có thể
xẩy ra bất cứ lúc nào.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực đặc biệt do
hàng hoá của nó là tiền tệ-loại hàng hoá có tính nhạy cảm và sức cuốn
hút rất lớn; vì vậy mà rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng rất lớn
và đa dạng.
Do vậy, nhận thức rõ từng loại rủi ro, đề ra những biện pháp
ngăn chặn phòng chống hữu hiệu để hạn chế thấp nhất rủi ro luôn là
vấn đề cấp bách thờng xuyên liên tục tồn tại song song với hoạt động
của ngân hàng.
III/ Những rủi ro đặc thù trong kinh doanh ngân hàng
1/Rủi ro tín dụng
Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng; nó thờng
chiếm phần lớn trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về
khối lợng công việc cũng nh mức độ tạo thuận lợi. Tỷ lệ thuận với nó
6
là mức độ rủi ro của nghiệp vụ này cũng chiếm phần lớn trong tổng
mức rủi ro của hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trờng hợp ngân hàng không thu
đợc đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay. Nói cách khác, rủi ro tín
dụng là khả năng xảy ra do khách hàng không thực hiện trả nợ theo
các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và thờng xuyên xảy ra
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi
bên đi vay, trong một giao dịch nào đó, không thực hiện đợc việc thanh
toán tiền vay theo thời hạn và điều kiện trong hợp đồng làm cho ngời
cho vay phải gánh chịu tổn thất tài chính.
Rủi ro tín dụng có muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái,
cung bậc khác nhau, chúng tiềm ẩn trong suốt quá trình trớc, trong và
sau khi cho vay và biểu hiện ra bên ngoài là món vay không thu hồi đ-
ợc, nợ quá hạn, nợ khó đòi, mất vốn
Để xem xét thực trạng rủi ro tín dụng của một ngân hàng, ngời ta
thờng phải xét đến tỷ trọng nợ quá hạn cao hay thấp. Trong tỷ trọng nợ
quá hạn, ngời ta lại chia ra tỷ trọng nợ quá hạn dới sáu tháng, nợ quá
hạn dới một năm, nợ quá hạn trên một năm, nợ quá hạn khó đòi, nợ
không có khả năng thu hồi Các tỷ trọng này càng cao thì khả năng
bảo toàn vốn tín dụng của ngân hàng càng thấp.
Khi nghiên cứu về các nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng, ngời
ta đã đa ra một số nguyên nhân chủ yếu sau: nguyên nhân khách quan
và nguyên nhân chủ quan.
Nguyên nhân khách quan là nguyên nhân bất khả kháng, thông
tin không cân xứng, sự điều khiển sai lệch của cơ chế thị trờng.
Nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân từ phía ngân hàng (mà chủ yếu
là từ sự yếu kém của cán bộ ngân hàng, các nhà quản trị điều hành
không có năng lực, thiếu kiểm tra giám sát), nguyên nhân từ phía
khách hàng
Ngày nay, các Ngân hàng Thơng mại dù đã mở rộng kinh doanh
trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhng hoạt động cho vay vẫn là nguồn
cơ bản tạo nên thu nhập của ngân hàng. Đặc biệt, ở những nớc đang
7
phát triển nh ở Việt Nam, hoạt động cho vay chiếm tới 90% hoạt động
của ngân hàng, và vì thế mà rủi ro tín dụng là vấn đề cần đợc quan tâm
đặc biệt trong hoạt động của các ngân hàng Thơng mại ở nớc ta hiện
nay.
Về bản chất, rủi ro tín dụng là loại rủi ro đa dạng và phức tạp,
và việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn. Loại rủi ro này có thể
xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Bất cứ một rủi ro nào đó của hoạt
động cho vay cũng đa đến rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng không thể
loại trừ khả năng rủi ro, song nếu ngân hàng có những giải pháp đồng
bộ hữu hiệu thì có thể ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tối đa những thiệt hại
có thể xảy ra.
2/ Rủi ro về lãi suất
Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh
lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả
cho việc đi vay, dẫn đến làm giảm thu nhập của ngân hàng.
Rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất. Trong nền
kinh tế, lãi suất là yếu tố rất nhạy cảm đối với biến động của nền kinh
tế; hơn nữa, nó là công cụ trong việc thực hiện chính sách tài chính
tiền tệ của Chính phủ. Vì vậy, rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện thờng
xuyên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng .
Nh vậy, rủi ro lãi suất là những tác động do biến động lãi suất
đối với hoạt động của ngân hàng. Rủi ro lãi suất bắt nguồn từ mối quan
hệ qua lại của tài sản Có, tài sản Nợ và các hợp đồng ngoại bảng.
Cơ cấu tài sản Có, tài sản Nợ sẽ quyết định tình trạng rủi ro lãi
suất của một ngân hàng. Tình trạng rủi ro lãi suất phụ thuộc vào mức
độ cân đối giữa tài sản Có và tài sản Nợ mà điển hình là khi ngân hàng
dùng tài sản Nợ ngắn hạn hoặc với lãi suất thay đổi để đầu t vào tài
sản Có dài hạn hơn với lãi suất cố định. Ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi lãi
suất ngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng tăng lên trong khi thu nhập ở tài
sản Có dài hạn hơn vẫn giữ nguyên. Nếu chênh lệch thu nhập ở tài sản
Có không bù đắp chi phí nghiệp vụ kinh doanh thì ngân hàng sẽ bị ăn
mòn vào vốn. Ngợc lại, khi nhận lại vốn với một thời hạn và lãi suất ấn
8
định, lợi nhuận ngân hàng sẽ bị giảm khi lãi suất thị trờng bị giảm
xuống.
Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra trong những trờng hợp
sau đây:
- Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hớng tăng lên,
chi phí cho hoạt động ngân hàng cũng tăng lên, do đó làm giảm thu
nhập của ngân hàng. Khi lạm phát cao thì thờng có lợi cho ngời vay
vốn và bất lợi cho ngời cho vay.
- Rủi ro lãi suất cũng có thể xảy ra do trình độ thấp kém, bị thua
thiệt trong việc cạnh tranh lãi suất ở thị trờng hoặc do nhiều yếu tố của
nền kinh tế tác động đến lãi suất nh cung, cầu, yếu tố khác của thị tr-
ờng Khi ngân hàng có quyết định điều chỉnh lãi suất theo hớng giảm
xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn cha đến hạn trả, tức là khoản tiền
gửi có kỳ hạn lại không giảm tơng ứng, nên cũng dẫn đến rủi ro lãi
suất.
3/ Rủi ro hối đoái
Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động của ngân
hàng nhằm phục vụ cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, tạo điều kiện
cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu hoạt động thuận lợi.
Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất hiện trong nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối do sự biến động về tỷ giá giữa các đồng tiền.
Nếu tỷ giá hối đoái bán ra lớn hơn tỷ giá mua vào thì nhà kinh
doanh có lãi, ngợc lại thì bị lỗ.
Trong nền kinh tế thị trờng, tỷ giá luôn biến động, với biến đổi
của tỷ giá hối đoái, bất kỳ một khoản nợ nào cho dù dài hay ngắn, đối
với một đồng tiền nhất định, đều có thể tạo cho ngân hàng phải đối
mặt với rủi ro tỷ giá hối đoái.
Sự thay đổi tỷ giá dẫn đến sự thay đổi giá trị ngoại hối, cụ thể:
- Nếu ngân hàng có d dật về ngoai tệ nào đó, khi ngoại tệ đó lên
giá, ngân hàng sẽ có lãi, ngợc lại ngân hàng sẽ lỗ khi ngoại tệ đó
xuống giá.
9
- Nếu ngân hàng ở vị đoản về loại ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ
đó lên giá, ngân hàng sẽ lỗ và ngợc lại ngân hàng sẽ có lãi nếu ngoại
tệ đó xuống giá.
Một trạng thái ngoại hối dù ở thế trờng hay thế đoản đều có nguy
cơ gây tổn thất cho các nhà giao dịch. D dật về ngoại tệ càng lớn thì
rủi ro càng cao khi tỷ giá giảm; ngợc lại, đoản về ngoại tệ nào đó càng
mạnh thì rủi ro cũng không ít khi tỷ giá giảm.
Khi phân biệt tình hình lãi, lỗ ngoại hối theo vị thế ngoại hối,
ngời ta so sánh số lỗ, lãi thực tế xảy ra so với mức lỗ, lãi dự kiến, qua
đó đánh giá chất lợng quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái của một ngân
hàng.
4/Rủi ro thanh toán
Rủi ro thanh toán phát sinh khi những ngời gửi tiền đồng thời có
nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức. Trong những trờng hợp
nh vậy, ngân hàng phải đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải
bán tài sản Có của mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của ngời gửi tiền.
Mọi ngân hàng hoạt động bình thờng phải đảm bảo đợc khả năng
thanh toán. Khả năng chi trả là khả năng đáp ứng đợc nhu cầu chi trả
hiện tại, đột xuất, và trong tơng lai.
Khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả, nếu không đợc giải quyết
kịp thời có thể dẫn đến mất khả năng chi trả. Khi ngân hàng thừa khả
năng chi trả sẽ đẫn đến đọng vốn, làm giảm khả năng sinh lời, thu
nhập của ngân hàng giảm.
Rủi ro thanh toán nảy sinh do những nguyên nhân sau:
- Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn d
thừa quá lớn, trong khi đó thị trờng đầu ra hạn hẹp, nên một số ngân
hàng đã dùng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài hạn
quá mức, dẫn đến thiếu hụt khả năng chi trả tạm thời cho ngời gửi tiền.
- Khi đến hạn, các khoản cho vay khó thu hồi đợc, uy tín của
ngân hàng giảm sút, ngời gửi tiền và ngời đi vay thờng phản ứng trớc
những khó khăn của ngân hàng bằng cách sử dụng hết hạn mức tín
dụng để đảm bảo có tiền cho những nhu cầu về sau hoặc rút hết số d
tiền gửi vì sợ có thể không rút đợc.
10
Tất cả những khía cạnh trên dẫn đến những rủi ro trong thanh
toán của ngân hàng. Các nhà chuyên môn khẳng định rằng đây là loại
rủi ro riêng của ngân hàng và liên quan đến sự sống còn của ngân
hàng. Rủi ro này thờng là hậu quả của một hay nhiều loại rủi ro mà
ngân hàng không lờng trớc đợc.
Trong trờng hợp này, vốn tự có của ngân hàng không có khả năng
bù đắp hết tất cả các khoản mất mát, thiệt hại, ngân hàng dễ rơi vào
tình trạng vỡ nợ hay phá sản.
5/ Rủi ro về nguồn vốn
Rủi ro về nguồn vốn thờng xẩy ra dới hai hình thức: rủi ro thiếu
vốn và rủi ro thừa vốn. Trớc hết, chúng ta cần phải hiểu rõ về khái
niệm thừa và thiếu vốn trong kinh doanh ngân hàng.
Thừa vốn là tình trạng vốn tồn đọng ở quỹ nghiệp vụ, bao gồm cả
quỹ thanh toán tiền gửi ở ngân hàng Nhà Nớc, quỹ tiền mặt, quỹ dự trữ
của ngân hàng.
Thiếu vốn là tình trạng xuất hiện trong các bộ phận thanh toán
của ngân hàng.
Rủi ro do thừa vốn: Ngân hàng Thơng mại thông qua hình thức
đi vay để cho vay nhằm kiếm lợi nhuận, còn nguồn vốn tự có chỉ là
cái đệm chống đỡ sự sụt giá của các tài sản Có. Khi nguồn vốn huy
động của ngân hàng bị ứ đọng có nghĩa là ngân hàng không cho vay ra
đợc hoặc không sử dụng hết, trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi
cho ngời gửi tiền, chi các chi phí nghiệp vụ, các chi phí quản lý. Nếu
không khắc phục tình trạng này thì đến một chừng mực nào đó, mức độ
thua lỗ lớn sẽ dẫn đến việc đóng cửa ngân hàng.
Rủi ro do thiếu vốn: Thừa vốn đã gây khó khăn cho ngân hàng
thì việc thiếu vốn còn tệ hại hơn nhiều. Rủi ro thiếu vốn không thể l-
ờng hết mức độ của nó gây ra vì vốn của ngân hàng phần lớn là vốn
huy động (vốn đi vay) của xã hội để cho vay ra. Nếu thiếu vốn trong
thanh toán ngân hàng không thể thanh toán cho khách hàng khi họ có
nhu cầu rút tiền. Nếu với các ngành kinh tế khác thì việc thanh toán
chỉ là một phần vốn của đơn vị và có thể sẽ không khó khăn trong việc
khất nợ với khách hàng (tất nhiên việc làm này không thể kéo dài và
thờng xuyên), nhng với hoạt động của ngân hàng, khi một khách hàng
11
bị khất nợ sẽ kéo theo hàng loạt khách hàng sẽ đến ngân hàng để rút
tiền. Điều xảy ra khi đó sẽ là hoạt động của ngân hàng bị xáo trộn, mà
khả năng cao nhất có thể xảy ra đó là tuyên bố mất khả năng thanh
toán và phá sản. Nh vậy, loại rủi ro này rất nguy hiểm, khó lờng hết đ-
ợc hậu quả, thậm chí nó còn nguy hiểm hơn cả loại rủi ro bất khả
kháng do thiên tai, địch hoạ gây ra bởi lẽ với các loại rủi ro đó ngân
hàng vẫn còn khả năng phục hồi với các loại rủi ro thiếu vốn thì khả
năng xấu nhất của một doanh nghiệp có thể xảy ra.
6/ Rủi ro hoạt động ngoại bảng
Một xu hớng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của một
ngân hàng hiện đại là việc mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng. Theo
định nghĩa, hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng
cân đối tài sản (nội bảng), bởi vì các hoạt động này không liên quan
đến việc nắm giữ các chứng khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp. Tuy
nhiên, các hoạt động ngoại bảng có thể ảnh hởng đến trạng thái tơng
lai của bảng cân đối tài sản nội bảng bởi vì các hoạt động ngoại bảng
có thể tạo ra những tài sản Có và tài sản Nợ bổ sung cho bảng cân đối
nội bảng.
Xuất phát từ tính chất của các hoạt động ngoại bảng là ngân hàng
thu đợc phí trong khi không phải sử dụng đến vốn kinh doanh cho nên
đã khuyến khích phát triển các hoạt động ngoại bảng ngày càng phát
triển. Tuy nhiên, hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chẳng hạn,
trong trờng hợp công ty phát hành trái phiếu phá sản thì ngân hàng
phải đứng ra thanh toán toàn bộ gốc và lãi chứng khoán do công ty
phát hành. Trong thực tế, những trờng hợp thua lỗ nghiêm trọng trong
các hoạt động ngoại bảng đã trở thành nguyên nhân chính khiến cho
ngân hàng có thể phá sản.
Ngày nay, hoạt động ngoại bảng rất phong phú và đa dạng. Trong
khi một số hoạt động ngoại bảng đợc sử dụng tích cực vào việc phòng
ngừa rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối và rủi ro tín dụng thì nếu việc
quản trị điều hành không hiệu quả hoặc không đánh giá đúng đợc tác
dụng của các nghiệp vụ ngoại bảng có thể dẫn đến những tổn thất to
lớn.
12
7/ Rủi ro công nghệ và hoạt động
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu t cho phát triển
công nghệ không tạo ra đợc khoản tiết kiệm trong chi phí nh đã dự tính.
Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậu quả là khả năng cạnh tranh của
ngân hàng giảm xuống đáng kể và là nguyên nhân tiềm ẩn của sự phá sản
ngân hàng trong tơng lai.
Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công
nghệ và có thể phát sinh bất cứ khi nào nếu hệ thống công nghệ bị
trục trặc hoặc là khi hệ thống hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động.
Ví dụ, trong giao dịch trên thị trờng liên ngân hàng, ngân
hàng có thể là ngời cho vay hoặc ngời đi vay. Việc thanh toán giữa
các ngân hàng diễn ra hàng ngày.
Thông thờng, hệ thống máy tính của ngân hàng hoạt động
hiệu quả nhng đôi khi cũng xảy ra trục trặc và do đó rủi ro có thể
phát sinh. Rủi ro có thể xảy ra khi hệ thống máy tính đã xử lí sai
các khoản vay của ngân hàng ở mức quá cao, ảnh hởng đến khả
năng thanh toán của ngân hàng và buộc ngân hàng này phải lập tức
vay tiền từ Ngân hàng Trung Ương để đảm bảo khả năng thanh
toán.
8/ Rủi ro Quốc gia
Ngoài các loại rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất ngoại tệ nh
đã trình bày ở trên thì ngay cả trong trờng hợp ngân hàng đầu t
bằng bản tệ cho các công ty nớc ngoài có trụ sở ở nớc ngoài cũng
có thể chịu rủi ro đầu t nớc ngoài, đó là rủi ro Quốc gia.
Rủi ro Quốc gia còn nghiêm trọng hơn cả trờng hợp tín dụng
mà ngân hàng gặp phải khi đầu t cho các công ty nội địa. Trong tr-
ờng hợp ngân hàng đầu t cho công ty nớc ngoài thì ngay cả trong
trờng hợp công ty có khả năng và sẵn sàng hoàn trả vốn vay, nhng
cũng có thể không thực hiện đợc, bởi vì Chính phủ nớc này cấm
hoặc hạn chế việc thanh toán cho nớc ngoài do dự trữ ngoại hối
hạn hẹp hoặc vì lí do chính trị.

13

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét