tiền tệ được Nhà nước phân phối kế hoạch cho công nhân viên chức phù hợp
với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến.
Như vậy, nếu xét theo quan điểm sản xuất: tiền lương là khoản đãi ngộ của
sức lao động đã được tiêu dùng để làm ra sản phẩm. Trả lương thoả đáng cho
người lao động là một nguyên tắc bắt buộc nếu muốn đạt kết quả kinh doanh
cao.
Nếu xét trên quan điểm phân phối thì tiền lương là phần tư liệu tiêu dùng cá
nhân dành cho người lao động, được phân phối dựa trên cơ sở cân đối giữa
quỹ hàng hoá xã hội với công sức đóng góp của từng người. Nhà nước điều
tiết toàn bộ hệ thống các quan hệ kinh tế: sản xuất, cung ứng vật tư, tiêu hao
sản phẩm, xây dựng giá thành và ban hành chế độ, trả công lao động. Trong
lĩnh vực trả công lao động Nhà nước quản lý tập trung bằng cách quyết định
mức lương tối thiểu, ban hành hệ thống thang lương và phụ cấp. Trong hệ
thống chính sách của Nhà nước quy định theo khu vực kinh tế quốc doanh và
được áp đặt từ trên xuống. Sở dĩ như vậy là xuất phát từ nhận thức tuyệt đối
hoá quy luật phân phối theo lao động và phân phối quỹ tiêu dùng cá nhân trên
pham vi toàn xã hội.
Những quan điểm trên đây về tiền lương đã bị coi là không phù hợp với
những điều kiện đặc điểm của một nền sản xuất hàng hoá.
4. QUAN ĐIỂM VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO
LƯƠNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚi
4.1. Theo quan điểm của Mỹ
Theo chuẩn mực kế toán của Mỹ, thanh toán tiền lương là một phần hành kế
toán quan trọng, có liên quan đến cả hai báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế
toán và Báo cáo thu nhập. Chi phí phát sinh chủ yếu của các công ty là chi phí
tiền lương và các khoản trích theo lương. Trong một vài doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng và hàng không , chí phí tiền lương
5
chiếm đến hơn một nửa trong tổng chi phí quản lý doanh nghiệp. Do vậy, kế
toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại doanh nghiệp rất quan trọng
bởi lẽ số tiền lớn và phải thích ứng với những quy định của luật liên quan đến
việc điều chỉnh thuế thu nhập. Người chịu trách nhiệm lập báo cáo tài chính
phải phản ứng các yêu cầu thanh toán tiền lương và các khoản trích theo
lương. Đồng thời hệ thống kế toán của doanh nghiệp phải phát hiện ra những
hành vi gian lận trong việc khai báo thu nhập. Bởi lẽ, mỗi người lao động
được thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương trên cơ sở thời gian
công việc của họ, họ được nhận lương trên bảng kê thanh toán tiền lương và
doanh nghiệp phải có trách nhiệm kiểm tra báo cáo chính xác cho chính phủ.
4.1.1. Kế toán tiền lương
Tiền lương là khoản thu nhập mà doanh nghiệp tạo điều kiện cho người lao
động sinh sống, sinh hoạt, tái sản xuất và phát triển mọi mặt về vật chất và
tính thần trong đời sống gia đình và xã hội. Nếu gọi sức lao động là hàng hoá
thì tiền lương chính là giá cả của hàng hoá sức lao động. Nói cách khác tiền
lương chính là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động
về mức độ trả công đối với một công việc cụ thể được thực hiện trong những
điều kiện làm việc nhất định. Mặt khác tiền lương là một bộ phận cấu thành
nên giá trị sản phẩm do lao động tạo ra. Tuỳ theo cơ chế quản lý mà tiền
lương có thể được xác định là một bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh
cấu thành nên giá thành sản phẩm hay được xác định là một bộ phận của thu
nhập, kết quả tài chính của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp.
Các khoản trích theo lương hiện nay bao gồm: BHXH, BHYT, KPCĐ.
6
a. Đặc điểm tiền lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động tiền tệ và nền sản
xuất hàng hoá. Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ, tiền
lương là yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá thành sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ. Tiền lương là đòn bẩy kinh tế quan trọng để nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, có tác dụng động viên
khuyến khích người lao động tích cực làm việc nâng cao hiệu quả công tác.
b. Ý nghĩa tiền lương
+ Đối với người lao động: Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu để họ có thể
đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình.
+ Đối với doanh nghiệp: Tiền lương là yếu tố sản xuất kinh doanh cấu thành
nên giá trị của các loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Mặt khác tiền lương là công
cụ tác động đến công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Do đó tiền lương mà người lao động nhận được một cách thoả đáng, phù hợp
với sức lao động mà họ đã bỏ ra trong quá trình sản xuất sẽ làm động lực kích
thích tinh thần làm việc làm tăng năng suất lao động dẫn đến tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp. Với việc sử dụng hiệu quả sức lao động của người lao
động sẽ giúp cho doanh nghiệp hoàn thành sản xuất kinh doanh của mình. Tổ
chức hạch toán tốt lao động tiền lương giúp cho việc sử dụng lao động ở
doanh nghiệp được thuận lợi, thúc đẩy người lao động chấp hành kỷ luật lao
động đồng thời tạo cơ sở cho việc tính và trả lương theo đúng nguyên tắc
phân phối theo lao động.
4.1.2. Kế toán các khoản nợ liên quan đến tiền lương
Tiền lương chính là khoản thù lao trả cho người lao động, ngoài tiền lương
còn có các khoản trích theo lương. Ở Việt Nam, các khoản trích theo lương
theo quy định của cơ chế tài chính hiện hành được thực hiện là 25%, trong đó
7
doanh nghiệp trả 19% (gồm 15% BHXH, 2% BHYT, 2% KPCĐ), còn 6% trừ
vào lương của cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Trong đó kế toán
thực hiện bằng cách:
+ Tiền lương phát sinh ở bộ phận nào thì nhân với tỷ lệ 19% trên tiền lương ở
bộ phận đó
+ Tổng tiền lương nhân với 6% trừ vào tổng quỹ tiền lương của cán bộ công
nhân viên trong doanh nghiệp.
Ngoài ra người lao động còn được trả lương làm ngoài giờ - là khoản lương
phải trả cho người lao động khi họ làm việc ngoài giờ( có thể là làm thêm giờ
hoặc làm việc vào ban đêm).
Đối với người lao động trả lương theo thời gian, nếu làm thêm ngoài giờ
chuẩn thì doanh nghiệp phải trả lương làm thêm giờ theo công thức sau:
= x x
Mức 150% được áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường, mức 200%
áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần, mức 300% áp dụng
đối với giờ làm thêm vào các ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy
định cảu Bộ luật lao động, Trong trường hợp làm thêm giờ nếu được bố trí
nghỉ bù những giờ làm thêm thì doanh nghiệp chỉ phải trả phần chênh lệch
50% tiền lương giờ thực tế phải trả của công việc đang làm.
Đối với lao động trả lương theo sản phẩm, nếu ngoài giờ tiêu chuẩn, doanh
nghiệp có yêu cầu làm thêm số lượng, khối lượng sản phẩm, công việc ngoài
định mức hoặc những công việc phát sinh nhưng chưa được xác định trong kế
hoạch sản xuất, kinh doanh mà doanh nghiệp mà doanh nghiệp cần làm thêm
giờ thì đơn giá tiền lương của những sản phẩm, công việc làm thêm được trả
bằng 150% so với đơn giá tiền lương của sản phẩm làm trong giờ tiêu chuẩn,
8
nếu làm thêm vào ngày thường, bằng 200%, nếu làm thêm và ngày nghỉ hàng
tuần, bằng 300% nếu làm thêm vào các ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương.
Đối với kế toán Hoa Kỳ, ngoài tiền lương và các khoản trích theo lương như
hệ thống kế toán Việt Nam, con có thêm các khoản nợ liên quan đến bảng
lương trong doanh nghiệp: Khoản bồi thường người làm thuê; khoản tiền
lương giữ lại; và các khoản trích theo lương.
+ Khoản bồi thường người làm thuê: những doanh nghiệp sử dụng lao động
có trách nhiệm với người làm thuê về tiền công và tiền lương của họ. Thuật
ngữ tiền công có thời hạn là sự trả tiền phục vụ cho người làm thuê theo thời
gian hoặc trả dựa trên tiền lương cơ bản. Thuật ngữ tiền lương có thời hạn là
sư bồi thường cho người làm thuê mà người đó được trả lương hàng tháng
hoặc hàng năm.
Ở Hoa Kỳ ngoài quy định của đạo luật Liên bang, từng tiểu bang sẽ có những
đạo luật riêng. Chẳng hạn , một số tiểu bang khi người lao động làm việc vượt
quá số giờ một tuần hoặc 8 tiếng một ngày thì phải trả tiền làm ngoài giờ cho
người lao động. Trả tiền ngoài giờ ít nhất phải gấp 1,5 lần theo tiền lương làm
việc bình thường. Nếu làm việc vào ngày thứ 7 hoặc Chủ nhật hoặc vào
những ngày nghỉ cũng có thể gọi là làm việc ngoài giờ và được trả lương
ngoài giờ, hoặc được thanh toán như là khoản tiền thưởng được trả dưới sự
thoả thuận riêng biệt giữa người sử dụng lao động và người lao động ngoài
tiền lương được nhận.
+ Nợ phải trả cho sự chiếm giữ lương của nhân viên
Giá trị thực trả cho nhân viên thông thường ít hơn mức lương họ kiếm được
bởi vì theo quy định của pháp luật, người chủ doanh nghiệp giữ lại chút ít từ
số tiền lương của nhân viên gửi trực tiếp chúng tới cơ quan chính phủ nộp
thuế thu nhập cho người lao động. Trong khoản nợ phải trả gồm có phúc lợi
xã hội và thuế dành cho chăm sóc sức khoẻ của chính phủ, thuế thu nhập Liên
9
bang và thuế thu nhập tiểu bang. Hơn nữa sự chiếm giữ chút ít tiến đến lợi ích
của nhân viên thường thì theo yêu cầu của họ, bao gồm trợ cấp, tiền đóng
BHXH, BHYT và tiền đóng bảo hiểm nhân thọ, công đoàn thuế và đóng góp
hội từ thiện, người chủ có trách nhiệm nộp cho cơ quan, quỹ hoặc tổ chức
thích hợp.
Phúc lợi xã hội và khoản chăm sóc sức khoẻ của chính phủ: với sự thông qua
chương trình phúc lợi ở Mỹ vào năm 1930, chính quyền Liên bang bắt đầu
chịu trách nhiệm tình trạng hạnh phúc, sức khỏe của người dân thường.
Chương trình phúc lợi xảy ra trong trường hợp về hưu và trợ cấp tàn tật, trợ
cấp người còn sống và thời kỳ nằm viện và những phúc lợi y tế khác. Chương
trình phúc lợi xã hội được tài trợ bởi thuế của nhân viên, người chủ và công
nhân. Khoảng 90% người làm việc ở Mỹ chịu sự ảnh hưởng những định
khoản của chương trình. Đạo luật về đóng góp bảo hiểm Liên bang( FICA)
điều chỉnh thuế để nộp cho chương trình này. Năm 1992 tỷ lệ thuế phúc lợi xã
hội là 6,20% và tỷ lệ thuế chăm sóc sức khoẻ của chính phủ là 1,45% cho mỗi
người chủ và nhân viên. Những khoản nộp đó được nộp bởi nhân viên và
người chủ trên tổng lương của nhân viên hoặc trên phần của cải của họ. Thuế
phúc lợi xã hội có hiệu lực đầu tiên $55,500 được hưởng bởi nhân viên trong
suốt 1 năm, thuế chăm sóc sức khoẻ của chính phủ có hiệu lực đầu tiên
$130,200 được hưởng bởi nhân viên trong suốt 1 năm. Kế hoạch làm việc tuỳ
theo sự thay đổi bởi quốc hội Hoa Kỳ.
Tỷ lệ thuế cho nhân viên và người chủ như nhau, người chủ khấu trừ tiền thuế
của nhân viên từ tiền lương của họ và gửi tổng giá trị đó cùng với sự chiếm
giữ khác của nhân viên như thuế phúc lợi xã hội và thuế chăm sóc sức khoẻ
của
Chính phủ là kết hợp với thuế của người chủ để nộp cho chính phủ.
10
Bởi vì sự tăng trưởng lạm phát và quyền lợi trong hệ thống phúc lợi xã hội,
những điều khoản này là luật kiến nghị bởi quốc hội Hoa Kỳ. Ở Việt Nam thì
khó tránh khỏi sự thay đổi và sẽ được thẩm tra mỗi năm.
Tiền lương của người lao động sự khấu trừ nhiều nhất chính là thuế thu nhập
từ Liên bang. Hệ thống thu thuế thu nhập Liên bang là chế độ trích trước tiền
thuế trước khi nhận lương. Người chủ yêu cầu trích số tiền thuế thu nhập Liên
bang mà người lao động nộp, doanh nghiệp giữ lại tiền thuế từ nhân viên và
giao đến sở thu thuế địa phương.
Số lượng tiền thuế giữ lại phụ thuộc một phần vào thu nhập mà nhân viên
kiếm được và đa số tiền thuế giữ lại là từ tiền thuế thu nhập của các nhân viên
được miễn thuế. Hầu hết nhân viên được miễn thuế theo quy định của luật
pháp và những người được miễn thuế hoàn tất đầy đủ các thủ tục theo quy
định. Mỗi nhân viên có quyền được hưởng miễn thuế một lần cho chính họ và
hoàn toàn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi người. Hầu hết các tiểu bang có
thuế thu nhập và trong hầu hết các trường hợp thủ tục của sự chiếm giữ thì
giống như thuế thu nhập của Liên bang.
Một vài sự chiếm giữ khác như là trường hợp về hưu hoặc kế hoạch lương
bổng đựơc yêu cầu cho nhân viên. Những cái khác như sự chiếm giữ phí bảo
hiểm hoặc kế hoạch tiết kiệm có thể được yêu cầu riêng biệt của từng nhân
viên. Người chủ có trách nhiệm điều chỉnh tất cả sự chiếm giữ và các khoản
tiền gửi thích hợp.
Lương và các khoản chiết khấu theo lương của từng người lao động được ghi
nhận vào trong mỗi thời kỳ trả lương của sổ lương.Chí tiết về khoản thu nhập
của từng người lao động trong sổ lương sẽ được chuyển qua báo cáo ghi nhận
thu nhập của từng người. Cột tổng cộng trong sổ lương sẽ được ghi vào nhật
ký chung để ghi nhận tổng số lương và các khoản phải thu chung. Thêm vào
11
đó việc ghi vào sổ nhật ký chung là cần thiết để ghi nhận phần góp của doanh
nghiệp cho BHXH, BHYT và bảo hiểm thất nghiệp ở quốc gia và Liên bang.
4.2. Quan điểm của Việt Nam về vấn đề tiền lương và các khoản trích theo
lương
4.2.1. Khái quát lịch sử ra đời và phát triển của chế độ kế toán tài chính Việt
Nam
Hệ thống Tài chính kế toán Việt Nam phát triển qua ba giai đoạn chính:
- Trước năm 1990: đây là giai đoạn mà nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế
bao cấp, các thành viên kinh tế chỉ có quốc doanh, tập thể và cá thể mà giữ
thành phần chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh và không có các hoạt
động thương mại buôn bán tự do trên thị trường. Do đặc điểm này mà hoạt
động nghề nghiệp của các kế toán viên chủ yếu tuân thủ theo nội quy, quy
định của Bộ tài chính - cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm quản lý tài sản
XHCN.
- Từ năm 1991 đến năm 1994: Đất nước ta chuyển đổi nền kinh tế từ nền
kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Sự xuất hiện
của nền kinh tế nhiều thành phần đã tác động đến bản chất và đặc thù của
nghề kế toán. Nhiều thuật ngữ trong lĩnh vực kế toán ra đời như khái niệm lãi,
lỗ, lợi nhuận… mà đối với nhiều kế toán viên chỉ quen làm trong nền kinh tế
bao cấp là khá trừu tượng và khó hiểu.
- Do thực tế khách quan nên giai đoạn từ năm 1995 đến nay chính là thời
gian mà hệ thống kế toán tài chính nước ta có những bước phát triển cao nhất
và hoàn thiện nhất. Đặc biệt là từ năm 1995 đến nay hệ thống kế toán tài
chính nước ta đã hình thành và phát triển lĩnh vực kiểm toán. Sự phát triển
vượt bậc này được đánh dấu bởi sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam do Quốc
hội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua cũng như những chuẩn mực về kế toán tài
chính riêng của Việt Nam đã được ban hành.
12
Kế toán tài chính Việt Nam không còn phát triển một cách đơn lẻ tự phát nội
bộ mà đã có hệ thống và liên kết với thế giới. Đánh dấu bước phát triển quan
trọng này là vào năm 1996 Hội kế toán Việt Nam (VAA) ra đời và trở thành
thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng như là thành viên của
Liên đoàn kế toán các nước ASEAN (AFA). Tính đến ngày 31 tháng 12 năm
2006 ở Việt Nam đã có 120 công ty kiểm toán độc lập.
4.2.2. Quy định của nhà nước Việt Nam về chế độ tiền lương
Năm 1960 lần đầu tiên nước ta ban hành chế độ tiền lương áp dụng cho công
chức, viên chức, công nhân… thuộc các lĩnh vực của doanh nghiệp hoạt động
khác nhau. Nét nổi bật trong chế độ tiền lương này là nó mang tính hiện vật
sâu sắc, ổn định và quyết định rất chi tiết, cụ thể:
Năm 1985 với nghị định 235 HĐBT ngày 18/4/1985 đã ban hành một chế
độ tiền lương mới thay thế cho chế độ tiền lương năm 1960. Ưu điểm của chế
độ tiền lương này là đi từ nhu cầu tối thiểu để tính mức lương tối thiểu song
nó vẫn chưa hết yếu tố bao cấp mang tính cứng nhắc và thụ động.
Ngày 23/5/1993 chính phủ ban hành các nghị định NĐ25/CP, NĐ 26/CP
quy định tạm thời chế độ tiền lương mới đối với các doanh nghiệp với mức
tiền lương tối thiểu là 144.000đ/người/tháng.
Những văn bản pháp lý trên đây đều xây dựng một chế độ trả lương cho
người lao động, đó là chế độ trả lương cấp bậc.
Tiền lương cấp bậc là tiền lương áp dụng cho công nhân căn cứ vào số
lượng và chất lượng lao động của công nhân.
Hệ số tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà
doanh nghiệp dựa vào đó để trả lương cho công nhân theo chất lượng và điều
kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định.
Chế độ tiền lương cấp bậc tạo khả năng điều chỉnh tiền lương giữa các
ngành, các nghề một cách hợp lý, hạn chế được tính chất bình quân trong
13
công việc trả lương, đồng thời còn có tác dụng bố trí công việc thích hợp với
trình độ lành nghề của công nhân.
Theo chế độ này các doanh nghiệp phải áp dụng hoặc vận dụng các thang
lương, mức lương hiện hành của Nhà nước.
- Mức lương: là lượng tiền trả cho người lao động trong một đơn vị thời
gian (giờ, ngày, tháng…) phù hợp với các cấp bậc theo thang lương. Thông
thường Nhà nước chỉ quy định mức lương bậc I hoặc mức lương tối thiểu với
hệ số lương của cấp bậc tương ứng.
- Thang lương: là biểu hiện xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa các
công nhân cùng nghề hoặc nhiều nghề giống nhau theo trình tự và theo cấp
bậc của họ. Mỗi thang lương đều có hệ số cấp bậc và tỷ lệ tiền lương ở các
cấp bậc khác nhau so với tiền lương tối thiểu.
* Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định về mức độ phức tạp của
công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề cảu công nhân ở một bậc nào đó
phải biết gì về mặt kỹ thuật và phải làm được gì về mặt thực hành.
Giữa cấp bậc công nhân và cấp bậc công việc có mối quan hệ chặt chẽ.
Công nhân hoàn thành tốt ở công việc nào thì sẽ được xếp vào cấp bậc đó.
Cũng theo các văn bản này ý nghĩa cán bộ trong doanh nghiệp được thực
hiện chế độ tiền lương theo chức vụ. Chế độ tiền lương chức vụ được thể hiện
thông qua các bảng lương chức vụ do Nhà nước quy định. Bảng lương chức
vụ gồm có nhóm chức vụ khác nhau, bậc lương, hệ số lương và mức lương cơ
bản.
4.2.3. Phương pháp tính lương
Bộ luật lao động của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chương 2,
điều 56 có ghi: "Khi chỉ số giá cả sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực
tế của người lao động bị giảm sút thì chính phủ điều chỉnh mức lương tối
thiểu để đảm bảo tiền lương thực tế".
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét