School@net Co., Ltd. -5-
3. Phòng Giáo dục & Đào tạo
4. Bộ Giáo dục & Đào tạo
Chúng tôi sẽ có lý giải sau vì sao lại để mức ưu tiên của cấp quản lý Bộ xuống hàng
cuối cùng, vấn đề là ở sự quá phức tạp của bài toán quản lý này.
Như vậy đầu tiên và trước hết, mô hình quản lý HỌC và DẠY trong nhà trường phải
được thiết kế dành cho Hiệu trưởng và Ban giám hiệu, những người đang trực tiếp
quản lý hàng nghìn học sinh, hàng trăm giáo viên trong phạm vi trường của mình.
Chính họ sẽ phải là những người được hưởng nhiều lợi nhất từ mô hình quản lý này khi
đã được tin học hóa. Và cũng chính điều này dẫn đến việc khẳng định vai trò to lớn của
Hiệu trưởng trong việc đưa các ứng dụng của Tin học vào trường của mình.
Bên cạnh việc khẳng định vai trò quan trọng nhất của Nhà trường, của Hiệu trưởng
trong mô hình phần mềm, một điều rất quan trọng khác là đảm bảo tính thống nhất của
mô hình quản lý ở một cấp cao hơn. Chúng tôi đề nghị mô hình quản lý thống nhất nên
ở cấp Sở Giáo dục & Đào tạo. Các phần mềm quản lý Học & Dạy của các trường trong
phạm vi một Sở phải có khả năng chuyển đổi dữ liệu và thực hiện được các mẫu báo
cáo thống nhất. Chúng ta sẽ còn quay trở lại vấn đề này khi bàn về mô hình dữ liệu của
chương trình.
Các đối tượng quản lý cơ bản
Trong phần này chúng ta sẽ mô tả các đối tượng quản lý chính của mô hình HỌC &
DẠY trong nhà trường. Từ hình 1 với mô hình lõi, chúng ta đã thấy 2 đối tượng chính
quản lý là Học sinh và Giáo viên. Quan hệ trực tiếp giữa Học sinh và Giáo viên thông
qua các Môn học mà học sinh phải HỌC và giáo viên phải DẠY. Việc phân công việc
cụ thể được thể hiện bằng Thời khóa biểu mô tả rằng giáo viên sẽ dạy môn học gì tại
Lớp học cụ thể nào. Kết quả việc học tập của học sinh và dạy của giáo viên thể hiện
bởi các giá trị Điểm. Như vậy Điểm là một trong các yếu tố quan trọng nhất của mô
hình quản lý của chúng ta. Hiện tại chúng ta chưa có một phương thức đánh giá nào
khác ngoài Điểm, do vậy trong một thời gian khá dài trước mắt, ĐIỂM vẫn là một đại
lượng quản lý quan trọng.
Mô hình các đối tượng quản lý cơ bản của phần mềm được mô tả trong hình sau:
Hình 3. Các đối tượng quản lý cơ bản
Các thông số quan trọng liên quan đến các đối tượng trên.
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
Học
sinh
Giáo
viên
Môn học
ĐIỂ
M
Thời khóa biểu
Lớp học
School@net Co., Ltd. -6-
Học sinh
• Điểm học sinh
• Lên lớp, nghỉ học, bỏ lớp
• Quá trình học tập
• Ôn luyện kiến thức
• Kiểm tra định kỳ
• Phân loại học lực
• Hạnh kiểm
• Sổ liên lạc với gia đình
Giáo viên
• Giáo án
• Chương trình đào tạo
• Bài giảng trên lớp
• Kiểm tra kiến thức
• Ngân hàng đề bài
• Các công việc quản lý khác: dự giờ, họp tổ chuyên môn, chủ nhiệm.
Môn học
• Tên môn học
• Mã môn học
• Các tính chất môn học
• Cách tính điểm Trung bình môn
Thời khóa biểu
• Bảng Phân công giảng dạy
• Thời khóa biểu Lớp
• Thời khóa biểu Giáo viên
Điểm
• Giá trị điểm
• Loại điểm (Miệng, 15 phút, Kiểm tra 1 tiết, )
• Kiểu điểm
• Hệ số điểm
• Môn học, Lớp, Học sinh, Giáo viên
• Nhận xét điểm
• Thời gian cho điểm
Lớp học
• Danh sách học sinh
• Giáo viên chủ nhiệm
• Giáo viên bộ môn
• Các đặc thù riêng của lớp (chuyên, phân ban, học nghề, )
Khái niệm điểm "trực tuyến" hay điểm "sống"?
Khi nhắc đến bài toán quản lý Điểm của Học sinh, chắc tất cả chúng ta đều có một suy
nghĩ nhanh rằng công việc "quản lý" này thật là đơn giản: chỉ là việc nhập một số điểm
bằng giá trị số, sau đó thực hiện một số tính toán (bằng các phép +, * và :), sau đó in ra
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
School@net Co., Ltd. -7-
kết quả. Suy nghĩ này hoàn toàn hợp lý và không sai. Tuy nhiên, với hầu hết các mô
hình phần mềm hiện có, các giá trị điểm của học sinh chỉ được lưu trữ cùng với 3 thuộc
tính quan trọng khác là Môn học, Loại điểm (hệ số điểm) và Tên học sinh. Chúng tôi
gọi mô hình điểm như vậy là các điểm "tĩnh".
Bảng điểm học sinh
Môn học Hê số 1 Hệ số 2 Thi HK Trung bình
Toán 9 8 6 10 9 8.5 8.6
Lý 10 9 9 8 10 9 9.3 8.8
Hóa 8 7 5 6 8 9 5 8.2 7.3
Hình 4. Mô hình điểm "tĩnh" học sinh
Mô hình Điểm "Tĩnh" có các đặc thù và hạn chế sau:
- Các điểm "tĩnh" chỉ mang thông tin một chiều, đó là vế "HỌC" của học sinh mà
không có (hoặc rất ít) thông tin về phía "DẠY" của giáo viên, hay nói cách khác, các
điểm này chỉ mang một nửa thông tin của quá trình "HỌC và DẠY".
- Các giá trị điểm này hoàn toàn không mang các thông tin về thời gian xuất hiện điểm,
do đó không phản ánh được tính "liên tục" hay "quá trình" học tập của học sinh. Đặc
thù này làm cho các điểm chỉ có ý nghĩa thuần tuý "trị số", "điểm tĩnh" và nó mang lại
không nhiều thông tin cho người quản lý. Đối với hệ thống các giá trị điểm này, ý nghĩa
của phần mềm chỉ nổi bật ở khía cạnh tính toán nhanh mà thôi.
- Các giá trị điểm thiếu các thông tin quan trọng của việc "DẠY" như là điểm của giáo
viên nào, điểm được cho trong hoàn cảnh nào, bài học nào, nhận xét trực tiếp của giáo
viên đối với điểm này ra sao, Các thông tin này góp phần quan trọng trong việc đánh
giá chất lượng HỌC của học sinh.
- Với mô hình các điểm "tĩnh" như vậy, việc quản lý HỌC chỉ là công việc "đã rồi".
Công việc kiểm soát, nhận xét, tính toán sau khi ĐIỂM đã có chỉ mang ý nghĩa thống
kê và rất khó làm "sống lại" các điểm này. Hay nói một cách khác, các điểm "tĩnh"
không có tính "sống" hay "động", đó là các điểm "bất động".
Ngược lại với khái niệm điểm "tĩnh" vừa nêu trên phải là khái niệm điểm "động" hay
điểm "trực tuyến". Các điểm này được cập nhật "online" và mang đầy đủ các thông tin
liên quan đến quá trình HỌC của học sinh và DẠY của giáo viên. Chúng tôi sẽ còn
quay lại mô hình điểm "động" này nhiều lần trong bài viết này.
Trước hết chúng ta hãy xem một mô hình điểm "động" hay điểm "trực tuyến" đơn giản
sau, với một giá trị điểm sẽ có rất nhiều thông tin đi kèm:
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
6?
Môn học
Loại điểm (miệng, 15 phút)
Học sinh
6?
Môn học
Loại điểm (miệng, 15 phút)
Học sinh
Thời gian: ngày, thứ, buổi, tiết
Giáo viên
Kiểu điểm: chính
thức, tạm thời,
Bài học môn
Nhận xét điểm
Lớp học
Mô hình cũ
Mô hình mới
School@net Co., Ltd. -8-
Hình 5. Mô hình điểm "động" của học sinh
Không cần suy xét nhiều cũng thấy mô hình quản lý điểm "động" trên có rất nhiều ưu
điểm so với các mô hình điểm cũ. Các mô hình này mang nhiều thông tin và cho phép
chúng ta nhìn và cảm nhận chính xác hơn về bản thân các giá trị điểm của học sinh.
Thật vậy khi nói về một "điểm 6" của một học sinh, ý nghĩa thực sự của điểm này
không thể chỉ được nêu ngắn gọn rằng đó là một điểm "trung bình". Với cùng một
điểm 6, nếu như một vài tháng trước đây học sinh này toàn đạt 4, 5 sẽ khác hẳn với
điểm 6 mà trước đó học sinh này thường đạt điểm 8, 9. Điểm 6 với lời nhận xét "học có
tiến bộ" của giáo viên khó tính A sẽ hoàn toàn khác điểm 6 của giáo viên B với nhận
xét "học sút kém". Và tất nhiên điểm 6 thu được đầu học kỳ sẽ có ý nghĩa khác hẳn với
một điểm 6 lúc cuối năm. Một vài ví dụ trên cho chúng ta thấy rằng không đơn giản để
đánh giá một điểm 6 như giá trị của nó có!
Mô hình quản lý HỌC và DẠY với ĐIỂM được coi là trung tâm với các thông số được
chỉ ra trong hình 5 được gọi là Mô hình quản lý điểm "Động" hay "Trực tuyến". Trong
bài viết này tôi sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích và tìm hiểu kỹ về mô hình này, điều
mà theo tôi, thực sự là một mô hình dữ liệu mới của bài toán quản lý HỌC & DẠY
trong nhà trường.
Quản lý QUÁ TRÌNH?
Một trong những hệ quả rất quan trọng của mô hình quản lý điểm "động" nêu trên là
khả năng quản lý hay xem xét QUÁ TRÌNH Học và Dạy của học sinh, giáo viên trong
nhà trường. Thông tin về Thời gian là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của
khái niệm QUÁ TRÌNH này. Và khi nói về một quá trình tức là chúng ta nghĩ về một
sự vận động, chuyển động. Khái niệm điểm "động" hay điểm "sống" được thể hiện rõ
nét nhất ở đây. Ta hãy cùng xem sơ đồ điểm theo thời gian đơn giản sau của một học
sinh.
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
School@net Co., Ltd. -9-
4
5
6
7
8
9
10
Thang
9
10 11 12 1 2
Thoi Gian
Diem
TOAN
LY
HOA
Hình 6. Biểu đồ điểm theo thời gian
Nhìn vào biểu đồ trên, người thầy giáo (hoặc cha mẹ học sinh) có thể nhìn thấy và rút
ra được rất nhiều kết luận và thông tin bổ ích về học sinh này, thậm chí có thể dự đoán
được điểm tương lai.
Hình 7. Quá trình điểm của học sinh
Ý nghĩa của việc quản lý thật sự một QUÁ TRÌNH là rất lớn. Trước hết bản chất cơ
bản nhất của công việc quản lý hay kiểm soát phải thể hiện trong một quá trình, do đó
việc kiểm soát được quá trình học và dạy của học sinh, giáo viên trong nhà trường sẽ
đáp ứng được thực sự nhu cầu của các cấp quản lý. Khả năng theo rõi điểm học sinh
theo thời gian còn có ý nghĩa trong việc dự đoán sự phát triển các điểm này trong tương
lai. Chúng tôi sẽ còn quay lại vấn đề quan trọng và hứng thú này khi trình bày trong các
phần tiếp theo của bài viết.
Đối tượng ĐIỂM
Như đã trình bày ở trên, trong mô hình quản lý HỌC và DẠY trong nhà trường, ĐIỂM
vẫn là đối tượng quản lý quan trọng nhất. Trong ngôn từ của nhà quản lý cũng như
quản trị dữ liệu ĐIỂM của học sinh trong nhà trường phải là một ĐỐI TƯỢNG
(OBJECT) với đầy đủ các thông tin kèm theo. Hình 8 cho chúng ta toàn cảnh các thông
tin dữ liệu của đối tượng điểm này.
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
6
8
10
10-12, Văn
Học tiến bộ
3-1, Toán
Học khá
13-4, Hóa
Học rất tốt
School@net Co., Ltd. -10-
Hình 8. Đối tượng thông tin ĐIỂM học sinh
Trước mắt chúng ta hãy tạm gác sang một bên tính "phức tạp" của mô hình Điểm trong
hình 8 mà chỉ xét liệu có thể mô phỏng hay quản lý được các thông tin trên hay không?
Và nếu được thì làm thế nào để mô phỏng được chúng? Tính khả thi của mô hình này
trong điều kiện cụ thể của Việt Nam? Các câu hỏi trên được đặt ra một cách tự nhiên vì
chắc chắn sẽ có rất nhiều người cho rằng mô hình quản lý điểm "động" như trên là
không tưởng hoặc không thể thực hiện được trong điều kiện Việt Nam chúng ta.
Trước tiên chúng ta hãy kiểm tra xem với mô hình Đối tượng Điểm như trên, dữ liệu
điểm của học sinh trong nhà trường sẽ "lớn" đến mức nào. Bảng sau cho ta dự kiến của
độ lớn của một điểm học sinh.
Stt Thông tin Độ lớn (byte)
1 Giá trị điểm 2
2 Tên Học sinh 12
3 Tên Lớp 5
4 Môn học 5
5 Bài học 2
6 Tên Giáo viên 12
7 Nhận xét điểm 30
8 Thời gian: thứ, ngày, tháng, tiết 4
9 Loại điểm (15 phút, miệng, ) 1
10 Hệ số điểm 1
11 Kiểu điểm (chính thức, tạm thời, ) 1
12 Kiểu tính toán (trực tiếp, công thức) 1
Tổng số 76
Hình 9. Bảng dự kiến độ lớn dữ liệu Điểm học sinh
Thông thường trong một năm, với mỗi môn học, một học sinh sẽ có từ 5 đến 20 giá trị
điểm. Số học sinh trong một trường phổ thông tại Việt Nam dao động trong khoảng từ
vài trăm cho đến vài ngàn học sinh. Bảng sau sẽ cho ta dự đoán độ lớn của toàn bộ
CSDL quản lý một nhà trường với giả định số môn học =15 trong thời gian là một năm
học hoặc một học kỳ.
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
Đối tượng
Điểm
Mark as
Object
Giá trị điểm
Tên Học sinh
Tên Lớp
Môn học
Bài học
Tên Giáo viên
Nhận xét điểm
Thời gian: thứ, ngày,
tháng, tiết
Loại điểm (15 phút,
miệng, )
Hệ số điểm
Kiểu điểm (chính
thức, tạm thời, )
Kiểu tính toán (trực
tiếp, công thức)
School@net Co., Ltd. -11-
SLHS\SLD 5 10 15 20
800
4,560,000 9,120,000 13,680,000 18,240,000
1200
6,840,000 13,680,000 20,520,000 27,360,000
2000
11,400,000 22,800,000 34,200,000 45,600,000
2500
14,250,000 28,500,000 42,750,000 57,000,000
Hình 10. Bảng dự kiến dung lượng dữ liệu điểm nhà trường.
Tiêu đề hàng chỉ ra số lượng điểm trung bình có của một học sinh trong thời gian một
học kỳ hoặc năm học, tiêu đề cột chỉ ra tổng số số học sinh của nhà trường. Chú ý rằng
giả định của chúng ta là số môn học 15, nhưng trên thực tế số lượng môn học chỉ dao
động từ 9 đến 13.
Nhìn vào bảng trên ta thấy với một trường khá lớn (2500 học sinh) thì dung lượng của
toàn bộ dữ liệu điểm trong một năm học sẽ vào khoảng 50 MB, một con số không nhỏ
nhưng chưa phải là quá lớn đối với cấu hình các thế hệ máy tính hiên nay. Với bảng
thống kê trên (hình 10), chúng tôi muốn khẳng định rằng chúng ta hoàn toàn có khả
năng áp dụng mô hình điểm "động" vào điều kiện thực tế của Việt Nam.
Mô hình dữ liệu điểm học sinh
Như vậy chúng ta có thể bắt tay vào việc mô tả dữ liệu điểm "động" của học sinh. Đây
có lẽ là khâu khó khăn đầu tiên nhưng mang tính quyết định khi thiết kế hệ thống phần
mềm này. Các thông tin về điểm được mô tả trong hình 8 giờ đây cần được phân tích
kỹ và chuẩn hóa chúng thông qua các ràng buộc quan hệ giữa các bảng. Có rất nhiều
cách để cụ thể hóa ý tưởng này, tuy nhiên tất cả chúng phải thỏa mãn các điều kiện sau
đây:
1 - Thông tin về điểm phải đầy đủ, ví dụ dựa trên mô hình của hình 8 đã chỉ ra.
2 - Đảm bảo tính thực tế và khả nhập của các thông tin này trong điều kiện cụ thể của
Việt Nam. Ví dụ thông tin về thời gian chính xác của điểm (tính "trực tuyến"), thông tin
này là rất cần thiết, nhưng trong điều kiện các trường phổ thông của chúng ta hiện nay
chưa thể (hoặc rất khó) có thông tin này kèm điểm học sinh.
3 - Mô hình điểm như trên phải có tính mở, cho phép tự điều chỉnh để phù hợp với các
thay đổi về qui chế điểm của Bộ hoặc Sở GD&DT. Các thay đổi có thể xảy ra đối với
việc HỌC của học sinh và DẠY của giáo viên trong điều kiện cụ thể Việt Nam có thể
là: thay đổi môn học, thay đổi cách tính điểm trung bình, thay đổi hệ số tính toán,
Theo chúng tôi được biết một trong những khó khăn nhất của các chuyên gia Tin học
khi thiết kế các phần mềm quản lý điểm học sinh là tính không thống nhất về các qui
định môn học, qui định về cách tính điểm trung bình hoặc phân loại học lực cho học
sinh giữa các trường và các địa phương.
Có thể thấy rằng hoàn toàn không dễ dàng thiết kế một mô hình dữ liệu điểm thỏa mãn
đầy đủ cả 3 yêu cầu trên. Tuy nhiên theo ý kiến của chúng tôi thì vấn đề thứ 3, tính mở
của dữ liệu, là điều khó thực hiện nhất trong hoàn cảnh cụ thể Việt Nam. Có rất nhiều
vấn đề phải suy nghĩ và giải quyết khi đặt vấn đề về tính mở của mô hình. Sau đây là
một vài vấn đề cụ thể:
- Tính mở phải thể hiện ở sự không liên quan xơ cứng giữa lớp học và các môn được
phân công. Hiện tại mặc dù chương trình đào tạo đã được phê duyệt chặt ở mức quốc
gia, tuy nhiên tuỳ từng địa phương luôn có sự linh hoạt thay đổi, chương trình phải
được thiết kế đáp ứng điều này, nghĩa là cho phép phân công mới, cập nhật, hủy việc
gán môn học cho các lớp.
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
School@net Co., Ltd. -12-
- Các loại điểm (miệng, 15 phút, 1 tiết, ) và số lượng điểm của mỗi loại phải được
thiết kế mở cho phép thay đổi ngay từ chương trình. Không nên sơ cứng định nghĩa, ví
dụ, cho mỗi học sinh, mỗi môn học được có 5 điểm miệng, 4 điểm 15 phút,
- Một vấn đề rất quan trọng nữa là các công thức tính điểm trung bình và phân loại học
lực học sinh. Các công thức này phải được định nghĩa ngay trong chương trình, cho
phép thay đổi cách tính tuỳ theo môn, tuỳ thuộc vào điều kiện của từng trường và từng
địa phương.
Trong khi tính "mở" phải được áp dụng tối đa thì điều kiện về tính thực tế (tính khả
nhập) cũng rất quan trọng và không được bỏ qua. Làm thế nào để đáp ứng được tất cả
các yêu cầu đã nêu trên? Cần phải bắt đầu từ đâu khi thiết kế mô hình dữ liệu điểm học
sinh?. Theo chúng tôi, ta cần xuất phát từ việc Phân loại thông tin dữ liệu Điểm đã có
từ hình 8. Có thể phân loại thông tin điểm theo 4 kiểu (loại) sau, được mô tả trong sơ
đồ dưới đây:
Đó là (1) thông tin Giá trị điểm, (2) thông tin Phân loại điểm, (3) thông tin Tham
chiếu điểm và (4) thông tin Thời gian của điểm. Trong 4 loại trên, các thông tin loại
(1) và (2) là quan trọng và cần thiết (khả nhập) hơn cả. Ta sẽ phân tích kỹ việc phân
loại thông tin này.
Thông tin Giá trị điểm là các thông tin liên quan trực tiếp đến bản thân và nội dung của
điểm. Các thông tin loại này có thể là giá trị điểm (ví dụ, điểm 7), kiểu điểm (chính
thức, tạm thời, ) hay nhận xét điểm của giáo viên (có tiến bộ, học kém, ). Đây là
nhóm các thông tin bắt buộc phải có của điểm (trên thực tế thường chỉ có thông tin giá
trị số của điểm). Các thông tin này không liên quan đến bất cứ một loại thông tin nào
khác về điểm.
Thông tin Phân loại điểm là thông tin thuộc tính và định dạng của điểm như loại điểm
(miệng, 15 phút, ), định dạng (nguyên, thập phân, ), hệ số điểm (1, 2, 3), số lượng
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
Hình 11. Mô hình phân loại các thông tin Điểm
Thông tin
Tham
chiếu của
Điểm
Thông tin
Thời gian
của Điểm
Thông tin
Giá trị của
Điểm
Thông tin
Phân loại
của Điểm
School@net Co., Ltd. -13-
điểm cho phép. Các thông tin này bổ sung trực tiếp cho thông tin Giá trị đã nêu ở trên
và tạo ra các tham số dùng để tính toán điểm học sinh.
Hai loại thông tin Giá trị và Phân loại vừa nêu trên đều rất quan trọng và bắt buộc phải
có trong mỗi phần mềm quản lý học sinh.
Nhóm thông tin Tham chiếu của điểm bao gồm các thông tin dùng để "tham chiếu" từ
đối tượng điểm sang các đối tượng quản lý khác như Học sinh, Môn học, Giáo viên,
Bài học, Thời khóa biểu, Các thông tin tham chiếu tối thiểu nhất là Học sinh và Môn
học. Tuỳ thuộc vào mức độ "tổng quát" và "mở" của mô hình mà ta có thể bổ sung
thêm các thông số khác cho thích hợp.
Nhóm thông tin cuối cùng là Thời gian hay "Trực tuyến", "Động" của điểm. Các thông
tin này xác định thời gian mà điểm số này xuất hiện.
Việc phân loại các thông tin điểm như đã nêu trên làm cho bức tranh của mô hình dữ
liệu điểm học sinh trở nên rõ ràng, sáng sủa. Người thiết kế sẽ tùy thuộc vào nhu cầu và
tình hình cụ thể để xác định mô hình cụ thể của dữ liệu và phần mềm tương ứng. Có
thể mô phỏng mô hình quan hệ dữ liệu điểm trong sơ đồ dưới đây:
Sau khi đã phân tích kỹ mô hình phân loại thông tin điểm thể hiện trong các hình 11 và
12 trên đây, chúng ta bây giờ có thể tương đối dễ dàng thiết kế mô hình CSDL điểm cụ
thể phù hợp và thỏa mãn nhu cầu quản lý của nhà trường.
Các phương pháp tính điểm Trung bình
Một trong những công việc bắt buộc phải thực hiện của phần mềm sau khi đã nhập
xong điểm của học sinh là tính toán các loại điểm trung bình, phân loại học lực học sinh
(tự động) và in kết quả (nộp ban giám hiệu và cấp trên). Các tính toán này tương đối
đơn giản, tuy nhiên điều khó khăn là ở chỗ có thể hay không thiết kế một mô hình tính
toán tổng quát có thể áp dụng nhiều trường trên các địa phương khác nhau. Trong phần
này tôi muốn cùng chia sẻ với các bạn một số suy nghĩ về việc thiết kế mô hình tính
toán tổng quát có thể áp dụng cho nhiều cách tính toán thực tế khác nhau. Vấn đề được
nêu ra trong mục này là rất quan trọng và cần thiết vì, mặc dù qui định chung về cách
tính điểm là rõ ràng nhưng trên thực tế có rất nhiều ngoại lệ và nếu chương trình của
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
Đối
tượng
Điểm
Giá trị
Điểm
1 1
Phân loại Điểm
n
1
Dữ liệu
Tham chiếu
Điểm
n n
Thời
gian
DS Học sinh
DS Môn học
DS Giáo viên
DS Lớp học
Hình 12. Mô hình quan hệ dữ liệu điểm
School@net Co., Ltd. -14-
chúng ta không đủ "tổng quát" thì sẽ rất khó khăn khi áp dụng trên nhiều trường khác
nhau.
Trước tiên chúng ta phải tìm hiểu mối quan hệ đầy đủ các cấu thành tính toán từ mức
thấp nhất là điểm cho đến mức cao nhất là phân loại học lực học sinh. Các cấu thành
tính toán mặc định (chuẩn) được mô tả trong sơ đồ dưới đây.
Hiện tại việc tính toán phân loại học lực học sinh được tiến hành theo 4 mức dữ liệu
bao gồm mức 1, điểm cấu thành được nhập và 3 mức điểm tổng hợp là
TBKT (trung bình kiểm tra), TBM (trung bình môn) và TBCM (trung bình
các môn). Các mức điểm tổng hợp được tính toán bới công thức thông qua
các điểm ở mức thấp hơn. Nếu chỉ nhìn vào hình trên chúng ta chưa cảm
nhận được sự phức tạp của bài toán tính toán điểm trung bình cho học sinh.
Chúng ta hãy cùng nhau phân tích kỹ hơn bài toán này từ các mô hình thực
tế.
Sự phức tạp, "rắc rối" của việc tính toán điểm trung bình thường xuất phát từ các yếu tố
thực tế khách quan sau:
- Công thức chuẩn để tính toán và phân loại học lực không được áp dụng đồng đều như
nhau trong nhà trường. Ví dụ đối với học sinh một lớp chuyên Toán, việc phân loại học
Mô hình quản lý HỌC & DẠY
Hình 13. Mô hình cấu thành tính toán điểm
Điểm thành phần
(được nhập)
Công thức tính toán
Phân loại Học lực
(Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu)
Trung bình
Các môn
TBCM
Trung
bình
Kiểm
tra
TBKT
Thi Học kỳ
Điểm thành phần
(miệng, 15 phút, )
Điểm tổng hợp
(được tính toán)
Level 4
Level 3
Level 2
Level 1
Trung
bình
Môn học
TBM
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét