Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích kháng phòng trừ nấm gây bệnh hại hạt giống lúa

Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
vách tế bào vi sinh vật. Hai nhóm enzim β-1,3-glucanase và chitinase có tác
động hỗ trợ nhau làm tăng hiệu quả trong sự phân hủy vách tế bào của mầm
bệnh.
Bên cạnh đó một loạt các enzim khác cũng được hình thành trong tế
bào bị nấm bệnh xâm nhiễm với vai trò chuyển hóa các chất độc do mầm
bệnh tiết ra hoặc trung hòa độc tính của các chất do tế bào cây tiết ra khi phản
ứng lại mầm bệnh, các chất này khi ở nồng cao có thể gây hại cho tế bào cây.
Trong đó có thể kể đến 2 enzim có liên quan đến bệnh cây như PAL
(phenylalanine ammonia lyase), peroxidase. PAL có vai trò thúc đẩy sự sinh
tổng hợp các hợp chất polyphenol, là chất quan trọng trong sự chống bệnh
của cây trồng. Còn peroxidase có nhiều vai trò trong đó có vai trò khử H
2
O
2
và vai trò phối hợp với PAL trong việc giúp lignin hóa vách tế bào bị tấn
công qua đó ngăn cản cơ học sự lan ra xa hơn của nấm gây bệnh. H
2
O
2
được
tích tụ trong tế bào với nhiệm vụ oxy hóa các chất độc do nấm tiết ra, Oxy
hóa các polyphenol làm cho các polyphenol không còn độc đối với tế bào,
nhưng H
2
O
2
với nồng độ cao lại gây hại cho tế bào. Do đó Peroxidase làm
giảm bớt tính độc của H
2
O
2
đối với tế bào ký chủ.
Bên cạnh sự ra tăng hoạt tính của các enzim còn xuất hiện các tín hiệu
do sự kích kháng gợi lên. Các tín hiệu bao gồm: salycilic acid, Jasmonic acid
và etylen.
Cơ chế kháng bệnh thuộc về cấu trúc mô học.
Có 4 cơ chế kháng bệnh về mặt mô học, tùy thuộc vào 4 cách xâm nhập
của nấm gây bệnh.
- Sự tạo ra lớp vách tế bào mới chung quanh vết thương để bao vây và
ngăn cản sự xâm nhập tiếp theo của các nấm có tính ký sinh yếu, chỉ xâm
nhập qua vết thương.
- Sự rắn chắc hóa vách tế bào bằng cách lignin hóa vách tế bào bị nấm
xâm nhiễm.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
5
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
- Sự hình thành papillae (vách dầy) bên dưới đĩa áp để ngăn cản sự xâm
nhập của nấm gây bệnh.
- Tích tụ hợp chất phenol đưa đến phản ứng tự chết của tế bào để cô lập
nấm gây bệnh. Là phản ứng kháng bệnh ở mức cao của thực vật.
* Quan sát sự thay đổi của mô để đánh giá hiệu quả của kích kháng
- Để khảo sát sự tăng cường lignin hóa vách tế bào, nơi bị mầm bệnh xâm
nhiếm, số vách tế bào phát sáng được đếm dưới kính hiển vi huỳnh quang:
+ Lúa sau khi lây bệnh nhân tạo 24h và 48h: cắt từng đoạn ngắn 4 -5
cm sau đó tẩy diệp lục tố bằng dung dịch ethanol – acid acetic (3:1) và tồn trữ
trong trong lactoglyceron (lactic acid: 1; glyceron: 1; nước cất: 1) mẫu được
quan sát bằng dung dịch Evans blue 0,01% và quan sát dưới kính hiển vi
huỳnh quang bước sóng 400 – 440 nm.
+ Các chỉ tiêu được quan sát: Dưới kính hiển vi huỳnh quang, những tế
bào có phản ứng phát sáng sẽ có màu vàng sáng. Các chỉ tiêu được quan sát
bao gồm phần trăm phát sáng đơn và đa tế bào, diện tích và số vách tế bào
phát sáng trung bình trên mỗi đĩa áp và các mức độ phát sáng của tế bào (+, +
+, +++) ( 2002)
Sự so sánh số liệu giữa thí nghiệm kích kháng và đối chứng giúp
chúng ta thấy được cơ chế tăng cường lignin hóa do kích kháng gợi ra.
- Khảo sát sự tích tụ polyphenol
Thí nghiệm nhằm khảo sát phản ứng của tế bào thông qua sự tổng hợp
polyphenol. Thí nghiệm được bố trí tương tự như thí nghiệm khảo sát phản
ứng phát sáng của tế bào được mô tả ở phần trên. Mẫu lá được quan sát vào
thời điểm 24, 48, 72, 96h sau khi lây bệnh nhân tạo. Hợp chất phenol được
chỉ thị bằng màu xanh lá cây sau khi lá cây được nhuộm với Toluidine Blue O
(0,05% ph 6,8) ở nhiệt độ 40
0
C trong 4h quan sát dưới kính hiển vi thường.
Chỉ tiêu ghi nhận bao gồm số lượng đĩa áp có sự tích tụ Polyphenol, và diện
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
6
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
tích vùng tế bào có sự tích tụ polyphenol được tính theo công thức tính diện
tích hình chữ nhật.
- Khảo sát sự tích tụ H
2
O
2
: Bố trí thí nghiệm tương tự như các thí
nghiệm trên. Mẫu thu thập ở các thời điểm 4h trước khi nấm xâm nhiễm và
thời điểm 0, 4, 8, 12, 16, 20, 24, 36 và 48h sau khi nấm xâm nhiễm, sau đó
nhuộm với dung dịch 0,05% DAB (3,3’ – diaminobenzidine, D – 8001,
Sigma) Theo phương pháp của Thordal – Christensen et al. (1997). Ghi nhận
phần trăm đĩa áp tích tụ H
2
O
2
, diện tích vùng tế bào có sự tích tụ H
2
O
2
và mức
độ tích tụ.
* Quan sát sự gia tăng hoạt tính của các enzim có liên quan đến sự
kích kháng
- Sự tăng cường enzim PAL (phenylalanine ammonia lyase), beta –
1,3- glucannase, peroxidase và catalase.
2.2 Sự kích thích tính kháng bệnh của cây trồng
2.2.1 Khái niệm
Kích thích tính kháng bệnh ở thực vật thường được gọi tắt là “kích
kháng”, là một phương pháp giúp cho giống cây trồng bị nhiễm trở nên có
khả năng kháng được bệnh ở mức độ nào đó sau khi được xử lý chất kích
kháng. Kích kháng không tác động trực tiếp đến mầm bệnh mà nó kích thích
cơ chế tự vệ tự nhiên trong mô cây. Chất kích kháng có thể là một loài vi sinh
vật không gây bệnh, không mang tính độc đối với cây trồng hoặc có thể là
một loại hóa chất nào đó không độc và không có tác động trực tiếp diệt mầm
bệnh như hóa chất được dùng trong nông dược (Phạm Văn Kim, 2002). Theo
Tuzun và Kuc (1991) được Ngô Thành Trí và ctv (2004) cho rằng sự kích
thích tính kháng đã được tìm thấy trên 25 loại cây trồng khác nhau khả năng
kích kháng của cây có thể biểu hiện về mặt cấu trúc hay sinh hóa, có thể tác
động tại chỗ hay lưu dẫn đến các bộ phận khác của cây (Agrios, 1997).
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
7
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
2.2.2 Cơ chế kích kháng.
Ở cây trồng, trong tế bào cây có các gen giúp tế bào cây tiết ra các chất
có khả năng kháng lại với một loại bệnh nào đó. Trong điều kiện bình thường,
các gen này luôn bị một gen ức chế nằm bên cạnh ức chế.
Khi ta tác động các tác nhân gây kích kháng bằng cách ngâm hạt, rễ,
hay phun lên lá, tác nhân này tác động lên bề mặt lá, kích thích các thụ thể
này tạo ra tín hiệu (là những dòng ion hay tín hiệu điện tử trong cây) (Steiner,
1995) sau đó, chuyển tín hiệu này vào nhân của tế bào và tác động vào gen ức
chế, làm cho gen ức chế không còn ức chế các gen giúp tế bào cây tiết ra các
chất kháng bệnh. Nhờ các chất kháng bệnh này mà cây trồng từ nhiễm bệnh
trở thành kháng bệnh (Phạm Văn Kim, 2002).
2.2.3 Các loại kích kháng.
Kích kháng tại chỗ (local induced restance).
Hiệu quả kích thích tính kháng chỉ xảy ra tại vị trí được xử lý bởi các
tác nhân kích kháng. Có nghiên cứu về hiện tượng này rất phong phú trên
nhiều loại cây trồng khác nhau. Xử dụng chất syringolin tiết ra từ vi khuẩn
Pseudomonas syringae pv. syringae kích thích tính kháng tại chỗ với nấm gây
bệnh cháy lá lúa Pyricularia oryzae (Waspi. U. và ctv., 2000). Phun
monopotassium phosphat (KH
2
PO
4
) 1% lên ớt kích thích tính kháng với bệnh
phấn trắng do Leveillula taurica (Reuveni và ctv, 1998).
Kích kháng lưu dẫn (systemic acquired resistance: SAR)
Tính kháng không chỉ thể hiện tại vị trí được xử lý bởi tác nhân kích
kháng mà còn truyền đến những mô cây cách xa nơi được xử lý kích kháng
(Ryal và ctv, 1996). Những tác nhân này có cả tác nhân sinh học và không
phải sinh học. Khi xử lý kích kháng bằng biện pháp ngâm hạt nhưng cây có
khả năng tự vệ kháng lại các bệnh trên lá cũng thể hiện kích kháng lưu dẫn.
Kích kháng lưu dẫn khác với kích kháng tại chỗ ở những tín hiệu có khả năng
truyền đến các mô của cây khác cách xa điểm xử lý kích kháng và làm nâng
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
8
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
cao khả năng tự vệ trong cây (Van Loon và ctv, 1998). Manandhar và ctv
(1998) kích thích tính kháng lưu dẫn chống bệnh cháy lá lúa bằng cách sử
dụng dòng nấm Pyricularia oryzae không độc tính và nấm Bipolaris
sorokiniana không những làm giảm bệnh đạo ôn mà còn làm tăng năng suất
lúa.
2.3 Tình hình nghiên cứu ứng dụng kích thích tính kháng bệnh trên cây trồng
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Kỹ thuật kích kháng tính kháng lưu dẫn trong cây trồng là kỹ thuật sử
dụng một loài vi sinh vật nào đó không gây hại cho môi trường hoặc là một
hóa chất nào đó không có tác dụng diệt vi sinh vật gây bệnh cũng như không
gây ô nhiễm môi trường nhưng có tác dụng kích thích cây trồng tạo ra tính
kháng bệnh. Kỹ thuật đã được nghiên cứu ứng dụng thành công trên thế giới
và trên một số loài cây trồng như dưa leo, cà chua, lúa mạch, lúa
(Hammerschmidt at al., 1995; Ozeretskovskaya, 1995; Jorgensen et al., 1990;
Manandhar et al., 1998).
Trên thế giới việc nghiên cứu kích thích tính kháng bệnh bắt đầu
nghiên cứu từ năm 1936 (Mauch-Mani và Metraux, 1997; Van loon, 2001)
sau đó rất nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu vào cơ chế kích kháng bệnh trên
nhiều loài cây ngắn ngày và đã phát hiện ra nhiều tác nhân kích kháng khác
nhau. Thông thường mầm bệnh thuộc chủng yếu đối với giống ấy, thường tạo
được phản ứng kích kháng (Fink và ctv.,1990) và được rất nhiều tác giả sử
dụng trong nghiên cứu kích kháng. Tuy nhiên tác nhân này chỉ để nghiên cứu
không thể áp dụng được, vì chủng mầm bệnh này có thể trở nên độc đối với
giống khác có ngoài sản xuất.
Theo Ebrahim và Schonbeck (1985) được Trịnh Ngọc Thúy (2000)
trích dẫn cho rằng chủng nấm Erysiphe graminis trên lá lúa mạch, sau 2 ngày
cây có tính kháng đối với nấm Erysiphe graminis f.sp. hordei gây bệnh phấn
trắng.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
9
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Theo Ouyang và ctv (1987), xử lý mạ bằng độc tố nấm Magnaporthe
grisea làm cho hoạt động của enzyme phenylalanine ammonia lyase và CoA
lyase trong cây tăng, giúp tạo tính kháng đối với Magnaporthe grisea.
Theo Sengupta và Sinha (1987), xử lý hạt với cupric chloride kiểm soát
tốt bệnh cháy lá trong các mùa vụ khác nhau.
Sawati và ctv (1988), chủng Acrocylindirum oryzae vào cây lúa làm
tăng hoạt động của enzyme peroxidase và polyphenol oxydase giúp cây có
khả năng hạn chế bệnh.
Theo Doubrava et al (1988), thấy rằng oxalic acid có khả năng kích
kháng bệnh do C.lagenarium trên cây dưa leo.
Pelcz (1989), chủng vào lúa mạch dòng nấm Erysiphe 75202 không
đọc, cây tạo tính kháng đối với các dòng nấm phổ biến.
Kunoh và ctv (1989), chủng nấm Erysiphe pisi vào lúa mạch trước nấm
Erysiphe graminis với khoảng thời gian 30 phút, 1 giờ, 2 giờ sẽ làm giảm độ
độc của nấm Erysiphe graminis lần lượt là 35%, 22% và 5,8%.
Theo Gregerson và Smedegaad (1989) được Ngô thành Trí và ctv
(2004) trích dẫn thấy rằng ở loài nấm hoại sinh Cladosporium macrocarpum
cũng có khả năng gây kích kháng, giúp lúa mạc chống lại bệnh phấn trắng.
Theo Vilich và Neltrien (1990) được Trịnh Ngọc Thúy (2000) trích
dẫn, chủng hợp Erysiphe graminis f.sp avenae và Puccinia coronata f.sp
avenae vào lúa mạch, làm giảm độ độc của nấm Erysiphe graminis f.sp hordei
38%.
Yamada và ctv (1990), đã sử dụng methanol trích từ hạt lúa mì và lúa
mạch để chống nấm Pyricularia oryzae rất mạnh.
Yokoyama và ctv (1991), chủng nấm Erysiphe graminis f.sp hordei vào
cây lúa mạch, làm cây lúa mạch tạo ra các papilla bên dưới đĩa áp của nấm
gây bệnh, giúp chống lại sự xâm nhập của nấm này.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
10
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Theo Van Peer (1991) do Tuzun và Klopper (1995) trích dẫn nhận thấy,
xử lý vi khuẩn vùng rễ Pseudomonas sp. Chủng WCS 417 lên cây hoa cẩm
chướng, giúp cây tăng tính kháng chống lại bệnh héo rũ.
SA, acetyl salicytic acid (ASA), di-potassium photphate (K
2
HPO
4
),
CuCl
2
, sodium salicylate … cũng được ghi nhận có khả năng kích kháng bệnh
cháy lá lúa (Manandhar et al 1998, Kloepper et al 1992).
Phun SiO
2
dạng bột mịn (SiO
2
) cho thấy kích kháng SAR do gia tăng
hoạt động của phân hóa tố đối với chitin (Schneider và Ulrich, 1994).
Song và ctv (1994), cho rằng sử dụng hai acid béo 11(s), 12(s), 13(s)-
trihydroxy-(9z,15z)-octadecadienoic acid và 11(R)-hydroxy-12(s), 13(s)-
epoxy-(9z, 15z)-octadecadienoic acid, phun qua lá trước hay sau khi nhiễm
bệnh giúp tăng tính kháng bệnh của lúa đối với bệnh cháy lá lúa và giúp giảm
bệnh hơn 50%.
Theo Kristen và ctv do Steiner và Schonbecj (1995) trích dẫn cho rằng,
các chất chiết từ bào tử Erysiphe graminis f.sp hordei có khả năng kích kháng
chống lại bệnh mốc sương trên cây lúa mạch.
Hammerschmidt và Kuc (1995), trên cây lúa mạch được xử lý với dịch
trích thực vật từ những loài cây có tính chất dùng trong mỹ phẩm, giúp cây
lúa mạch giảm hơn 90% bệnh mốc sương.
Theo Arvind và ctv (1995) do Nguyễn Minh Kiệt (2003) trích dẫn thấy
rằng khi tiêm chủng vi khuẩn X. campestris pv. oryzae đã bị giết chết lên cây
lúa có tính nhiễm với bệnh bạc lá, 7 ngày sau, ông tiêm chủng lại cho cây lúa
ấy với vi khuẩn sống, cây lúa tỏ ra kháng với bệnh.
Salicylic acid (SA) trong cây lúa và cây thuốc lá được tổng hợp từ
cinnamic acid qua benzoic acid. Khi tiêm chủng vi khuẩn không gây bệnh
Pseudomonas syrinae D20 hoặc chủng nấm gây bệnh Magnaporthe grisae
trong cây thì thấy có tương quan đến tính kháng bệnh (Silverman và ctv,
1995).
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
11
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
Theo Thieron và ctv (1995) cây lúa được xử lý bằng chất PAL và
cinnamyl-alcoho-dehydrogenase sẽ có tính kháng với nấm Magnaporthe
grisea.
Theo Rajoppan và ctv (1995), xử lý nickel nitrate trên callus ở cây lúa có
tác dụng làm tăng hoạt động của Phenylalanine amonialyase và peroxidase, sẽ
kích kháng đối với bệnh bạc lá lúa do Xanthomonas campestris pv. oryzae …
SA bảo vệ cây lúa ở giai đoạn mạ chống lại bệnh đạo ôn lúa (Cai và
Zheng, 1996), và giúp cây lúa mạch chống lại bệnh mốc sương.
Phun SA 0,01mM lên lá mạ, thì SA kích thích làm cho hai chất
phenylalanine amonialyase (PAL) và peroxidase (POD) hoạt động trong cây
tăng lên, khi đó hàm lượng lignin cũng tăng lên và tích lũy độc tố
monilactone, là một chất kháng sinh thực vật giúp kìm hãm sự nảy mầm
Magnaporthe grisea theo Cai và ctv (1996).
Cai (1996 và 1997) xử lý mạ bằng salicylic acid (SA) 0,01mM, sau 2 –
5 ngày thì chủng bào tử nấm Magnaporthe grisea lên cây lúa giúp giảm bệnh
đạo ôn lúa từ 24 – 59%.
Agrios (1997) cho rằng, có thể xử lý bằng Protein hay glycoprotein
trích từ vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, lipid trích từ nấm Phytophthora
infestans, hay polysaccharide từ nấm để kích kháng cây trồng.
Theo Krishnamurthy và Gnanamanickam (1997), vi khuẩn
Pseudomonas fluorescens 7 – 14 và P. patida v14 sống trong mô thực vật gây
cảm ứng hệ thống kháng làm giảm bệnh đốm vòng.
Theo Manandhar và ctv (1998) cho rằng, cây lúa được chủng lên với
nấm Bipolaris sorokiriana không độc, giúp cây lúa giảm bệnh đạo ôn và làm
tăng năng suất lúa.
SA cũng kích thích tính kháng bệnh trên dưa leo chống lại nấm
Colletotrichum và trên lúa mạch chống lại bệnh phấn trắng do nấm Erysiphe
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
12
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
graminis f.sp hordei theo Manandhar (1998). Cũng theo tác giả này, K
2
HPO
4
gây ra tính kháng bệnh trên cây dưa leo, nho và bắp.
Theo Manandhar (1998), xử lý cây lúa với chất ferric chioride,
KH
2
PO
4
, probenazole và SA thì các chất này có khả năng làm cho cây lúa tiết
ra chất kháng sinh thực vật gây kích kháng chống lại nấm Magnaporthe
grisea.
Manandhar và ctv (1998), nói rằng Yoshida (1992) đã sử dụng chất 2,6-
dichloro-iso-nicotinitinamid là tác nhân làm tăng hoạt động của jasmonic acid
trong cây lúa nhằm kìm hãm sự phát triển của bệnh cháy lá lúa và cho rằng
chất này là chất có khả năng kích kháng chống lại bệnh do nấm Magnaporthe
grisea.
H.K. Manandhar (1998) đã thử nghiệm ferric chloride trong nhà lưới và
ngoài đồng ruộng. Trong điều kiện nhà lưới, xử lý ngâm hạt với nồng độ 10
mM, phun lên lá (cây mạ 2 tuần tuổi) với nồng độ 25mM. Kết quả cho thấy
phun lên lá hoặc tưới lên lá giảm chỉ số bệnh lần lượt là 66 – 40%. Phun lên lá
cũng làm giảm thối cổ gié 46%, tăng trọng lượng 1000 hạt và tăng năng suất
17%. Hiệu quả kích kháng của ferric chloride còn tùy thuộc vào cách xử lý;
ferric chloride cho hiệu quả cao nhất bằng cách phun lên lá.
Theo Ishii và ctv (1999) do Ngô Thành Trí và ctv (2004) trích dẫn cho
rằng, acibenzolar-S-methyl có hiệu quả kích thích tính kháng trên cây dưa leo
chống lại bệnh thán thư, bệnh ghẻ, bệnh gỉ sắt.
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước.
2.3.2.1 Nghiên cứu về sử dụng chất kích kháng.
Ở nước ta, lĩnh vực bệnh hại hạt giống cây trồng nông nghiệp nói
chung và trên cây lúa nói riêng chưa được đi sâu nghiên cứu. Trong nhiều
năm qua chủ yếu chúng ta vẫn đi sâu nghiên cứu thành phần bệnh hại trên cây
lúa ở các giai đoạn sinh trưởng và phát triển ngoài đồng ruộng. Trong những
năm gần đây, do sự phát sinh gây hại đáng kể của một số loại bệnh trên lúa
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
13
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh-Lớp BVTV52A
như bệnh đen lép hạt, bệnh biến màu hạt…, cùng với sự tài trợ của UNDP và
sự đầu tư của Chính phủ thông qua dự án VIE/86/002, có sự giúp đỡ của Viện
Bệnh hạt giống của Chính phủ Đan Mạch, một số cơ quan nghiên cứu trong
nước như Viện Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội , Trung
tâm Khảo Kiểm nghiệm giống cây trồng Trung ương đã triển khai điều tra,
giám định thành phần và bước đầu nghiên cứu một số bệnh nấm và vi khuẩn
truyền qua hạt giống của một số loại cây lương thực, cây thực phẩm chúng ta
đã phân lập được thành phần một số nấm, vi khuẩn trên các mẫu hạt giống
lúa, ngô, đậu tương, rau.
Theo Phạm Văn Dư và ctv (1997) xử lý mạ bằng cách chủng vào cây
mạ nguồn bệnh Magnaporthe grisea đã bị làm yếu đi, 2 ngày sau chủng nguồn
bệnh cháy lá thì lúa có khả năng giảm bệnh từ 35 – 38%.
Theo Lê Thanh Phong, Trịnh Ngọc Thúy, Diệp Đông Tùng, Võ Bình Minh
và Phạm Văn Kim (1999), sử dụng hóa chất như ethrel 800ppm, saccharine
0,05mM, Bion 200ppm, natrium silicate 4mM và CuCl
2
0,05mM cho hiệu quả kích
kháng bệnh cháy lá lúa kéo dài đến 18 ngày sau khi phun lên lá lúa. Ngoài ra, các
hóa chất chitosan glucosamine, napthalence acetic acid 30ppm, KH
2
PO
4
5mM,
Aspirin (acetylsalicylic acid) 0,4mM, SA 0,4mM, ascorbic acid 1mM và benzoic
acid cũng gây kích kháng bệnh nhưng không kéo dài được lâu.
Theo Lăng Cảnh Phú (2000), dịch nuôi cấy của vi khuẩn Flavimonas
oryzuhabitans sau khi được xử lý hạt hoặc phun lên lá lúa, giúp cây lúa có khả
năng chống lại bệnh cháy lá.
Theo Phạm Văn Dư và ctv (2000), SA, ASA, KH
2
PO
4
và chitosan được
xử lý 1 và 2 giờ trước khi chủng bệnh với P.grisea trên 2 giống OM 269 và
OM 1723, cho thấy có ảnh hưởng đến tính kháng lưu dẫn.
Theo Diệp Đông Tùng (2000), sử dụng acibenzolar-s-methyl kích
kháng bệnh cháy lá lúa khi xử lý hạt, thì có thể kéo dài tính kháng đến 30
ngày sau khi sạ.
Khoa Nông học-Trường ĐHNNHN
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét