Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

hiệu quả hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam

5

trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ. Ngược lại ở Mỹ hoặc Đức cho
phép giao dịch cả các chứng khốn dài hạn trên thị trường mở . Xét theo thời
hạn của chứng khốn nợ thì thị trường mở ở những nước này bao gồm cả một
phần của thị trường chứng khốn. Theo cách này, khái niệm “ Nghiệp vụ thị
trường mở” có ý nghĩa kinh tế khi nó gắn với cụm từ “Nghiệp vụ thị trường
mở”. Có nghĩa là, các giới hạn khác nhau về đối tượng và các chr thể giao dịch
của NHTW trong nghiệp vụ thị trường mở sẽ quyết định khái niệm cụ thể về thị
trường mở ở từng nước
II. CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ.
1. Tác động về mặt lượng (Tác động vào cơ số tiền tệ)
Hành vi mua, bán các chứng khốn trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởng
ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các Ngân hàng thương mại (NHTM)
thơng qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các Ngân hàng thương mại tại NHTW,
và tiền gửi khách hàng tại NHTM từ đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng cho vay của
NHTM khi đó nó sẽ tác động đến hệ số nhân tiền và sẽ tác động đến mức cung
tiền. Bằng việc bán các chứng khốn, NHTW có thể giảm bớt đi một khối lượng
tiền dự trữ tương ứng (với điều kiện các nhân tố khác khơng đổi) dù người mua
là NHTM hay khách hàng của nó, số tiền thanh tốn cho lượng chứng khốn này
được ghi nợ vào tài khoản của Ngân hàng tại NHTW. Trong trường hợp người
mua là khách hàng của NHTM thì số tiền mua chứng khốn sẽ giảm số dư tiền
gửi của khách hàng đó tại NHTM. Sự giảm xuống của dự trữ sẽ làm giảm khả
năng cho vay của hệ thống Ngân hàng và vì thế giảm khối lượng tiền cung ứng.
Hành vi mua chứng khốn của NHTW sẽ có tác động ngược lại.
NHTW bán tín phiếu kho bạc dự trữ ngân hàng ↓ khả năng
cho vay của NHTM ↓ m ↓ Ms ↓
2.Tác động về mặt giá ( tác động về mặt lãi suất)
Hoạt động mua bán trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởng gián tiếp
đến mức lãi suất thị trường thơng qua hai con đường:
Thứ nhất, khi dự trữ của các Ngân hàng bị ảnh hưởng nó tác động đến
cung cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên Ngân hàng. Cung – cầu tiền TW
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6

thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất ngắn
hạn này thơng qua dự đốn của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất
sẽ truyền tác động của nó đến các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường
tài chính. Tổng cầu của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết
định tại một mức lãi suất được thị trường xác định.
Thứ hai, việc mua chứng khốn sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung
-cầu về các chứng khốn đó trên thị trường mở và do đó tác động đến giá cả
của nó. Khi chứng khốn thay đổi, tỷ lệ sinh lời của nó cũng thay đổi. Nếu đó là
những chứng khốn có giá chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch thì sự thay đổi tỷ
lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại đến lãi suất thị trường, tổng cầu AD và sản
lượng.
Cơ chế tác động qua lãi suất khi NHTW bán tín phiếu kho bạc

Bán TPKB giá TPKB ↓ lãi suất thị trường ↑


NHTW bán TPKB Đầu tư↓



Dự trữ ↓ Cung vốn NHTW↓ Ls ngắn hạn↓ Ls thị trường↓
Cơ chế tác động qua giá chứng khốn
Mua chứng khốn Lượng chứng khốn trên thị trường ↓ Giá
chứng khốn ↑ Lãi suất chứng khốn ↓ Đầu tư ↑ AD↑

III. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ.
1. Các Nghiệp vụ thị trường mở.
Trong Nghiệp vụ thị trường mở phải có sự tham gia của NHTW bởi vì
nếu khơng có sự tham gia của NHTW thì khối lượng tiền tệ nói chung sẽ khơng
thay đổi. Một NHTW bản chứng khốn cho NHTM khác xét trong tồn cục chỉ
là sự dịch chuyển chứng khốn và di chuyển ngược lại của một phần dự trữ dư
thừa từ NHTM này sang NHTM khác đang thiếu vốn mà thơi.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7

Có hai loại Nghiệp vụ thị trường mở: Nghiệp vụ thị trường mở năng động
nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ số tiền tệ, và Nghiệp vụ thị trường mở thụ động
nhằm bụ lại những chuyển động của nhân tố khác đã ảnh hưởng tới cơ số tiền tệ.
1.1 Giao dịch giấy tờ có giá
a. Các giao dịch khơng hồn lại (hay các giao dịch muabán hẳn).
Các giao dịch này bao gồm các nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá của
NHTW trên thị trường theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị
trường. Hình thức giao dịch này làm chuyển hắn quyền sở hữu đối với các
chứng khốn là đối tượng giao dịch. Vì vậy ảnh hưởng của nó đối với dự trữ
các Ngân hàng là dài hạn các giấy tờ đó phải là các cơng cụ nợ có mức rủi ro
thấp và phải được phát hành bởi các tổ chức đủ điều kiện theo quy định
b. Các giao dịch có hồn lại (giao dịch có kỳ hạn).
Phương pháp này chủ yếu được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là các
hợp đồng mua lại. Hợp đồng mua lại được sử dụng khi NHTW thực hiện một
giao dịch theo hợp đồng mua lại, có nghĩa là nó mua chứng khốn từ người mơi
giới trên thị trường, người đồng ý sẽ mua lại vào một ngày trong tương lai.
Giao dich mua mua bán có kỳ hạn tồn tại dưới dạng:
Thứ nhất: Mua bán theo hợp đồng mua lại: Là việc NHTW ký hợp đồng mua
bán với người giao dịch và ngươi giao dịch đồng ý mua lại các giấy tờ có giá
của NHTW vào một ngày xác định trong tương lai.
Thứ hai : Mua bán theo hợp đồng mua lại đảo ngược : là việc NHTW bán các
giấy tờ có giá cho người giao dịch và người giao dịch lại đồng ý bán lại các giấy
tờ có giá cho NHTW vào một ngày xác định trong tương lai.
Các giao dịch có hồn lại được sử dụng chủ yếu trong Nghiệp vụ thị trường mở
vì những lý do sau:
Đây là cơng cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh
hưởng khơng dự tính trước đến dự trữ của các Ngân hàng, chi phí giao dịch của
một hợp đồng mua lại rẻ hơn so với hợp đồng mua đứt bán đoạn; Thích hợp
trong trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ khơng hồn hảo dẫn đến
việc sử dụng các giải pháp khắc phục; làm giảm thời gian thơng báo, do đó mà
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8

làm giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết định hàng ngày của
NHTW .
1.2 Nghiệp vụ giao dịch hốn đổi ngoại tệ
Trong nghiệp vụ này khi tham gia giao dịch thi NHTW đồng thời ký hai hợp
đồng và lấy ngoại tệ làm đối tượng trao đổi
Hợp đồng 1: Mua bán ngoại tệ với tỷ gia giao ngay
Hợp đồng 2: Bán hoặc mua ngoại tệ với tỷ giá co ky hạn
Ngồi ra một loạt các nghiệp vụ khác cũng được NHTW sử dụng trong
Nghiệp vụ thị trường mở như: phát hành, chứng chỉ nợ của NHTW, giao dịch
hốn đổi các chứng khốn đến hạn .
2. Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở.
Các Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thơng qua phưong thức giao
dịch song phương và qua phương thức đấu thầu. Có 2 loại đấu thầu: Đấu thầu
khối lượng và đấu thầu lãi suất.
a.Phương thức giao dịch song phương.
Là phương thức mà NHTW với người giao dịch giao dịch thẳng với nhau
hoặc
giao dịch thơng qua nhà mơi giới hoặc đại lý chứng khốn mà khơng mua bán
thơng qua hình thức đấu thầu.
b.Đấu thầu khối lượng.
Là việc NHTWcho người giao dịch biết khối lượng cần can thiệp,NHTW
mua hay bán, niêm yết trước mức lãi suất, thời hạn các giấy tờ có giá còn lại,laọi
giấy tờ,thời điểm và địa điểm mua bán thanh tốn. Các tổ chức tham gia đấu
thầu chỉ việc đăng ký số tiền trên cơ sở chấp nhận mức lãi suất cho trước. Việc
phân phối thầu đối với một phiên thầu có lãi suất cố định được tiến hành như
sau: Nếu người giao dịch chấp nhận mức lãi suất ma HNTW đưa ra và họ đặt
mức khối lượng giao dịch.Sau đó tồn bộ số đăng ký đặt thầu được cộng lại với
nhau. Nếu tổng số đặt thầu nhỏ hơn khối lượng HNTW cần can thiệp thì tồn bộ
đơn đặt thầu đều được phân phối.Nếu ngược lại thì phải phân bổ.
c.Đấu thầu lãi suất .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9

Các tổ chức tham gia đấu thầu tự đăng ký số tiền ứng với mức lãi suất mình
chọn. Đối với đấu thầu nhằm cung ứng thêm vốn khả dụng, các số lượng đặt
thầu được
sắp sếp theo thứ tự và được phân phối theo các mức lãi suất cao sẽ được ưu tiên
phân phối trước cho đến khi số lượng phân phối được sử dụng hết .
Trong đấu thầu lãi suất, NHTW có thể áp dụng dưới hình thức một giá (phương
thức Hà Lan) hoặc nhiều giá(phương thức Mỹ)
3. Hàng hố của nghiệp vụ thị trường mở.
a. Tín phiếu kho bạc.(TB)
Tín phiếu kho bạc là giấy nhận nợ do chính phủ phát hành để bù đắp thiếu hụt
tạm thời trong năm tài chính. Thời hạn của tín phiếu thơng thường là dưới 12
tháng. Đây là cơng cụ chủ yếu của Nghiệp vụ thị trường mở của hầu hết NHTW
các nước vì:
-Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao.
-Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và vì thế có thể thoả mãn nhu
cầu can thiệp của NHTW với liều lượng khác nhau.
Bộ tài chính là người có vai trò quan trọng trong việc xác định khối lượng phát
hành, thanh tốn lãi và gốc của tín phiếu. Tín phiếu kho bạc được phát hành
hàng tuần để chi trả các khoản nợ ngắn hạn của chính phủ.
Vì vậy, khối lượng tín phiếu này thay đổi tuỳ theo nhu cầu vay mượn của chính
phủ và sự hạn chế tốc độ tăng trưởng của các nhà chức trách tiền tệ.
b. Chứng chỉ tiền gửi. (CD).
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của Ngân hàng hay các định chế tài chính phi
ngân hàng, xác nhận món tiền đã được gửi vào ngân hàng trong một thời gian
nhất định với một mức lãi suất định trước. Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi
thường là ngắn hạn. Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi căn
bản trong cơ chế quản lý ngân hàng: Chuyển từ quản lý tài sản nợ sang quản lý
tài sản có vì nó cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động cho ngân hàng
thay vì phải phụ thuộc vào người gửi tiền. Tình ưu việt của chứng chỉ tiền gửi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10

chính là bảo đảm sự lưu thơng của nó và do đó nó được sử dụng như là hàng hố
phổ biến cho Nghiệp vụ thị trường mở.
c. Thương phiếu. (CP).
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh u cầu thanh tốn hoặc cam
kết thanh tốn khơng điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất
định. Đây là giấy nhận nợ được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm bổ xung
vốn ngắn hạn. Thương phiếu là tài sản có đối với người sở hữu và là tài sản nợ
đối với người phát hành thương phiếu. Cơ chế bảo lãnh của ngân hàng làm cho
thương phiếu có tính chuyển nhượng cao và vì thế được chấp nhận dễ dàng
trong thanh tốn. Việc mua bán thương phiếu của NHTW sẽ ảnh hưởng mạnh
đến dự trữ của các ngân hàng hoặc tiền gửi của các khách hàng tại NHTM.
d. Trái phiếu chính phủ.
Trái phiếu chính phủ là chứng khốn nợ dài hạn được Nhà nước phát hành nhằm
bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước. Mặc dù là dài hạn nhưng trái phiếu chính
phủ được sử dụng phổ biến trong Nghiệp vụ thị trường mở bởi tính an tồn, khối
lượng phát hành, tính ổn định trong phát hành và khả năng tác động trực tiếp
đến giá cả trái phiếu kho bạc trên thị trường tài chính.
e. Trái phiếu chính quyền điạ phương.
Tương tự như trái phiếu chính phủ, những trái phiếu chính quyền địa phương
khác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi liên quan đến trái phiếu. Thơng thường
người sở hữu trái phiếu chính quyền địa phương được hưởng ưu đãi về thuế thu
nhập từ trái phiếu.
f. Các hợp đồng mua lại.
Đây là những món vay ngắn hạn, trong đó tín phiếu kho bạc được sử dụng làm
vật đảm bảo cho tài sản có mà người cho vay nhận được nếu người đi vay khơng
thanh tốn nợ.
Hàng hố trên thị trường mở ngày càng có xu hướng đa dạng hố, điều này phụ
thuộc vào:
Một là, do cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng trở nên gay gắt, đặc
biệt là dưới ảnh hưởng của xu thế tồn cầu hố các hoạt động tài chính và sự
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11

xuất hiện nhiều tổ chức cung cấp tài chính mới. Điều này đòi hỏi các tổ chức tài
chính phải tìm kiếm các cơng cụ mới thoả mãn nhu cầu thu hút vốn về các mặt:
Thời hạn, mức độ rủi ro, mức sinh lời, cách thức thanh tốn nợ. Xu hướng này
sẽ có ảnh hưởng đến sự thay đổi cơ cấu hàng hố trên thị trường mở.
4. Những người tham gia vào Nghiệp vụ thị trường mở.
Thị trường mở thực chất là thị trường tiền tệ mở rộng nên các chủ thể
tham gia thị trường này rất đơng đảo, phong phú với nhiều mục đích khác nhau.
a. Các Ngân hàng thương mại.
Các NHTM tham gia thị trường mở nhằm điều hồ mức dự trữ ngân quỹ để duy
trì khả năng thanh tốn, cho vay khoản vốn dư thừa để kiếm lãi. Đồng thời qua
thị trường này các NHTM thực hiện nghiệp cụ mơi giới và kinh doanh chứng
khốn.
Các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trường mở vì:
NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, nhận một số lượng khổng lồ vốn gửi và
dùng tiền gửi huy động được để cho khách hàng vay; NHTM là thành viên đặc
biệt của thị trường tiền tệ, vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
b. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng .
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng bao gồm: Các cơng ty bảo hiểm, cơng ty tài
chính, quỹ đầu tư…Các tổ chức này coi thị trường mở như là nơi kiếm thu nhập
qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua, bán các chứng khốn có giá trị ngắn hạn
hoặ dài hạn. Các tổ chức này thường có khối lượng chứng khốn lớn và họ
thường xun thay đổi cơ cấu danh mục đầu tư nhằm đảm bảo mức sinh lời cao
nhất và rủi ro dự tính thấp nhất.
Đó là động cơ của họ để tham gia vào Nghiệp vụ thị trường mở.
c. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn.
Các doanh nghiệp có nhu cầu bán chứng khốn để đổi ra tiền mặt hặc để kiếm
lời trong thời gian ngắn. Khi thừa vốn kinh doanh các doanh nghiệp có thể mua
các loại chứng khốn ngắ hạn như tín phiếu kho bạc, trái phiếu, chứng chỉ tiền
gửi… để kiếm lời.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12

d. Các hộ gia đình.
Hộ gia đình tham gia thị trường mở như họ phải chuyển các giấy tờ có giá ngắn
hạn mà họ đang nắm giữ thành tiền mặt có tính lỏng mạnh nhất, họ mua các
chứng khốn phòng ngừa rủi ro bật ngờ, đầu tư vào giấy tờ có giá nhờ vào sự
thay đổi lãi suất dự đốn.
e. Các nhà giao dịch chun nghiệp.
Tham gia vào thị trường mở với tư cách là người trung gian trong việc mua bán
các chứng từ có giá trị giữa NHTW và các đối tác khác như các hãng sản xuất
kinh doanh; các nhà đầu tư tư nhân; các ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân
hàng. Qua nghiệp vụ này họ hưởng chênh lệch giữa giá mua, giá bán.
f. Ngân hàng Trung Ương.
NHTW tham gia thị trường mở với vị trí là người điều hành, quản lý thị trường
thơng qua việc mua, bán các giấy tờ có giá trị ngắn hạn nhằm cung cấp cho hệ
thống ngân hàng khả năng thanh tốn cần thiết phù hợp với nhu cầu về vốn cho
nền kinh tế. NHTW sử dụng Nghiệp vụ thị trường mở trên cơ sở hoạch định
chính sách tiền tệ. Qua đó NHTW quản lý khối lượng tiền cung ứng kiểm sốt
và điều tiết hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng. NHTW tham gia thị
trường mở khơng phải để kinh doanh mà để quản lý, chi phối thị trường làm cho
chính sách tiền tệ được thực hiện theo đúng mục tiêu của nó.
g. Kho bạc Nhà nước.
Kho bạc Nhà nước cung ứng hàng hố cho thị trường mở như tín phiếu, trái
phiếu kho bạc. Kho bạc cung cấp hàng hố và kết hợp với NHTW trong hoạt
động của thị trường mở.
IV.
SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CÙNG VỚI CÁC CƠNG CỤ CỦA
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
Để Chính sách tiền tệ có hiệu qủa cao thì NHTW phối hợp với các cơng cụ
Chính sách tiền tệ hợp lý NV thị trường mở là một cơng cụ Chính sách tiền tệ ra
đời muộn hơn so với các cơng cụ khác. Tuy nhiên NV thị trường mở lại là một
cơng cụ hết sức linh hoạt và hiệu quả. Ưu điểm của việc sử dụng thị trường mở
trong việc điều hành Chính sách tiền tệ là:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13

Nghiệp vụ thị trường mở phát sinh theo ý tưởng chủ đạo của NHTW, trong
đó NHTW hồn tồn chủ động kiểm sốt được khối lượng giao dịch. Tuy nhiên
việc kiểm sốt này là gián tiếp, khơng nhận được. Ví dụ trong nghịêp vụ chiết
khấu, NHTW có thể khuyến khích hoặc khơng khuyến khích các NHTM, chỉ
thơng báo lãi suất chiết khấu mà khơng kiểm sốt trực tiệp khối lượng cho vay
chiết khấu.
Nghiệp vụ thị trường mở vừa linh hoạt vừa chính xác, có thể sử dụng ở bất
kỳ quy mơ nào. Khi có u cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, dù ở mức
nhỏ nào đi nữa, Nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể đạt đựơc bằng cách mua
hoặc bán một lượng nhỏ chứng khốn. Ngược lại, nếu có u cầu thay đổi dự trữ
hoặc cơ sở tiền tệ ở quy mơ lớn, NHTW cũng có đủ khả năng thực hiện đựơc
thơng qua việc mua hoặc bán một khối lượng lớn tương ứng các chứng khốn.
Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều. Nếu NHTW có mắc phải sai sót
nào đó trong q trình thưc hiện Nghiệp vụ thị trường mở thì có thể ngay tức
khắc sửa chữa sai sót đó. Ví dụ: Khi NHTW nhận thấy rằng, lãi suất trên thị
trường tiền tệ (lãi suất ngắn hạn) hiện đang q thấp do vừa qua NHTW đã thực
hiện việc mua q nhiều trên thị trường mở, thì có thể sửa chữa nó bằng cách
bán ngay các giấy tờ có giá cho các Ngân hàng.
Nghiệp vụ thị trường mở có tính an tồn cao: Giao dịch trên thị trường mở
hầu như khơng gặp rủi ro, đối với cả NHTW và NHTM, bởi vì cơ sở bảo đảm
cho các giao dịch trên thị trường mở đều là những giấy tờ có giá, có tính thanh
tốn cao, khơng có rủi ro tài chính.
Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng khơng vấp
phải sự chậm chễ của các thủ tục hành chính. Khi NHTW quyết định muốn thay
đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, NHTW chỉ cần đưa ra u cầu cho các nhà giao
dịch chứng khốn trên thị trường tiền tệ, và sau đó việc mua bán sẽ được thực
thi ngay.
Chính vì các ưu điểm trên mà cơng cụ Nghiệp vụ thị trường mở đã được áp
dụng vào việc thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam bắt đầu từ ngày 12-7-
2000.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14


CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ Ở VIỆT NAM
I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LOẠI GIẤY TỜ CĨ GIÁ NGẮN HẠN Ở VIỆT NAM.
Cho đến nay các cơng cụ ngắn hạn ở Việt Nam còn rất đơn giản, đang ở giai
đoạn đầu và chưa thể hiện tính chất đầy đủ vốn có của nó. Nổi trội hơn cả là các
loại tín phiếu mà Kho bạc nhà nước đã phát hành trong những năm qua và tín
phiếu Ngân hàng nhà nước.
1. Tín phiếu kho bạc. (TPKB).
TPKB là giấy vay nợ ngắn hạn của kho bạc nhà nước nhằm bù đắp bội chi ngân
sách nhà nước. Thời hạn của TPKB thường dưới 1 năm. Ở nước ta trong thời
gian qua khối lượng huy động vốn cho ngân sách nhà nước dưới hình thức đấu
thầu trái phiếu kho bạc qua Ngân hàng nhà nước ngày càng tăng và tỷ trọng huy
động vốn qua kênh này chiếm 40% tổng khối lượng vốn huy động trong nước
cho ngân sách nhà nước. Thị trường đấu thầu TPKB qua Ngân hàng nhà nước
được hoạt động từ 1994. Sau hơn 8 năm hoạt động thị trường đấu thầu TPKB đã
có 44 thành viên trong đó 5 NHTM quốc doanh, 16 NHTM cổ phần, 3 ngân
hàng liên doanh, 13 chi nhánh Ngân hàng nước ngồi tại Việt Nam, 6 tổ chức
bảo hiểm và quỹ tín dụng TW. Phương pháp đấu thầu đối với TPKB là phương
pháp Hà Lan, các thành viên đặt thầu theo lãi suất chứ khơng theo giá, Bộ tài
chính áp dụng lãi suất chỉ đạo trong việc xét mở thầu. Nếu lãi suất trúng thầu
trong phạm vi lãi suất chỉ đạo thì đợt đấu thầu đó là thành cơng và lãi suất trúng
thầu là lãi suất tín phiếu phát hành, nếu lãi suất đặt thầu cao hơn lãi suất chỉ đạo
thì có những đơn đặt thầu nào có mức lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất chỉ
đạo mới được trúng thầu. Với cơ chế định giá này thực chất việc đấu thầu TPKB
là đấu thầu khối lượng với khung lãi suất được định sẵn, vì thế tính cạnh tranh
khơng cao.
Từ tháng 6/1995 đến tháng 12/2002 Bộ tài chính đã phối hợp với Ngân
hàng nhà nước tổ chức 292 đợt đấu thầu TPKB với doanh số phát hành là trên
28.000 tỷ đồng. Thị trường mở có 22 thành viên, có 8 thành viên tham gia
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét