3. Điều kiện kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế
Hải Phòng đợc nối với các tỉnh qua các hệ thống đờng bộ, đờng sắt, đ-
ờng sông và đờng hàng không, nhờ vậy. Hải Phòng là trung tâm giao thông
vận tải của toàn bộ khu vực phía Bắc Việt Nam, nối các tỉnh phía bắc với thị
trờng thế giới qua hệ thống cảng biển.
Hệ thống cảng biển Hải Phòng hiện nay gồm 3 khu cảng chính có tổng
chiều dài các cầu cảng là 2 257 m phục vụ bốc xếp các chủng loại hàng hoá
với năng lực thông qua khoảng 8 triệu tấn/năm và có thể tắng lên tới 12 triệu
tấn/năm vào năm 2010.
Luồng vào cảnh hiện cho phép tâu có trọng tải tới 8 000 tấn ra vào th-
ờng xuyên. chính phủ đang đầu t nâng cấp và mở rộng luồng vào cảng, cho
phép tầu trên 10 000 tấn có thể ra vào cảng.
Bổ sung vào hệ thống cảng của Hải Phòng hiện nay, một cảng nớc sâu
tiêu chuẩn quốc tế hiện đại cho phép tầu 30 000 tấn có thể ra vào, với năng
lực thông qua 12 triệu tấn/năm sẽ đợc xây dựng tại khu kinh tế Đình Vũ.
Hải Phòng có hệ thống đờng bộ rất thuận tiện cho việc vận tải hàng
hoá và đi lại với thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía bắc qua quốc lộ 5 và quốc lộ
10.
- Quốc lộ 5 dài 105 km, rộng 23,5 m gồm 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe
thô sơ, hiện là tuyến đờng cấp I vào loại hiện đại nhất ở Việt Nam. Quốc lộ 5
nối liền với quốc lộ 1, từ đó có thể đi tới các tỉnh biên giới phía bắc (Lạng
Sơn, Cao Bằng, Lào Cai) hoặc đi qua Hà Nội tới thành phố Hồ Chí Minh và
các tỉngh phía Nam đất nớc.
- Quốc lộ 10 nối Hải Phòng với Quảng Ninh nơi có khu công nghiệp
than, khu du lịch nổi tiếng Vịnh Hạ Long và với vùng nông nghiệp trù phú
của các tỉnh đồng bằng ven biển từ Thái Bình đến Thanh Hoá. Quốc lộ 10
cũng nối cảng Hải Phòng, các tỉnh duyên Hải Bắc Bộ với đờng lộ 1 Bắc -
Nam.
Với 5 con sông chảy qua, Hải PHòng là trung tâm đầu mối của mạng
giao thông đờng sông, nối liền các tỉngh và các cảng sông khu vực phía bắc.
Mạng lới giao thông đờng sông vận chuyển tới trên 40% lợng hàng hoá của
các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Tuyến đờng sắt Hải Phòng - Hà Nọi - Lào Cai tới Côn Minh (tỉnh Vân
Nam) ở tây nam Trung Quốc đã đwocj thông tàu sẽ tăng nhanh các dịch vụ
- 5 -
vận chuyển hàng hoá cho các địa phơng giầu tiềm năng này và vận tải quá
cảnh của Trung Quốc.
Tuyến đờng sắt Hải Phòng - Hà Nội còn nối trực tiếp với truyến đờng
sắt quan trọng Bắc Nam tới thành Phố Hồ Chí Minh.
Hải Phòng có 2 sân bay Cát Bi và Kiến An. Sân bay Cát Bi nằm cách
trung tâm thành phố 5 km. Sân bay đã đợc nâng cấp, có thể tiếp nhận máy
bay cỡ Airbus 320. Hiện nay sân bay đang đợc sử dụng có các tuyến bay nội
địa nối liền Hải Phòng với thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và là sân bay
dự bị cho sân bay quốc tế Nội Bài.
Chính phủ đang có kế hoạch tiếp tục xây dựng kéo dài đờng cất hạ
cánh để tiếp nhận các loại máy bay lớn hơn và mở rộng tuyến bay đến các n-
ớc trong khu vực.
Với hệ thống mạng viễn thông hiện đại Hải Phòng có thể đáp ứng các
dịch vụ thông tin liên lạch trong nớc và quốc tế nh điện thoại, điện thoải thẻ,
facsimile, telex, nhắn tin, điện thoại di động, điện thoại di động trả trớc e -
mail và in terenet. Ngoài ra còn có các dịch vụ chuyển phát nhanh nh EMS,
chuyển phát toàn cầu nh DHL, FedEX Đến năm 2000 Hải Phòng đã có 5
máy điện thoại/100dân.
Nguồn điện cho Hải Phòng hiện nay là từ điện lới quốc gia, chu yếu
cung cấp bởi nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, nhiệt điện Phả Lại và nhiệt điện
Uông Bí.
Hiện chính phủ đang có kế hoạch xây dựng một nhà máy nhiệt điện
công suất 300 - 600MW ở Hải Phòng để đảm bảo việc cung cấp điện năng
cho phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá của thành phố.
Hải Phòng hiện có 6 nhà máy xủe lý và cung cấp nớc sạch nhà máy n-
ớc An Dơng, nhà máy nớc Cầu Nguyệt, nhà máy nớc Vật Cách, nhà máy nớc
Đồ Sơn, nhà máy nớc Uông Bí và nhà máy nớc Đình Vũ với tổng công suất là
152 000 m
3
/ ngày đêm.
Với nguồn nớc mặt dồi dào có thể khai thác từ sông Đa Độ, kênh An
Kim Hải và sông Giá cũng nh từ các hồ và nớc ngầm, Hải Phòng đang có kế
hoạch phát triển thêm một số nhà máy nớc mới theo hình thức BOT hoặc BT
để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, phát triển các khu công nghiệp và đô
thị mới.
Hải Phòng đã quy hoạch để phát triển một số khu công nghiệp tập
trung nh khu công nghiệp Nomura nằm cạnh quốc lộ 5, khu công nghiệp
- 6 -
Đình Vũ liền kề với khu cảng nớc sâu Đình Vũ, khu Chế xuất Hải Phòng 96',
khu công nghiệp nằm dọc đờng 353 Hải Phòng - Đồ Sơn, khu công nghiệp
phía bắc Thuỷ Nguyên, cụm công nghiệp Vĩnh Niệm, khu công nghiệp Kiên
An, Khu công nghiệp An Tràng nằm cạnh quốc lộ 10, khu công nghiệp Quán
Toan.
Khu công nghiệp Numura - Hải Phòng nằm cạnh quốc lộ 5 hiện là khu
công nghiệp có cơ sở hạ tầng đồng bộ, hoàn chỉnh và tốt nhất Việt Nam hiện
nay. Với diện tích 153 ha, có nhà máy cấp điện độc lập 50 MW, nhà máy xử
lý nớc thải, tổng đài điện thoại 2 000 số và các tiện ích công cộng khác, khu
công nghiệp này có thể tiếp nhận trên 100 nhà máy sản xuất.
Khu kinh tế Đình Vũ nằm ở hạ lu về phía biển của cảng Hải Phòng, với
diện tích 1 152 ha, có đầu đủ các yếu tố để phát triển thành một khu công
nghiệp lớn ở Việt Nam, Khu kinh tế tổng hợp Đình Vũ, khi đợc xây dựng
hoàn thiện, sẽ gồm có khu công nghiệp, cảng nớc sâu cho tầu từ 20000 đến
30000tấn, có năng lực thông qua 12 triệu tấn/năm và khu thơng mại, nhà ở
trên diện tích gần 1000 ha.
Với sự phát triển của mình Hải Phòng trở thành một trong những trung
tâm dịch vụ, thờng thuê, các nhà hàng đặc sản, các nhà nghỉ dỡng dành cho
khách du lịch và nghỉ dỡng dài ngày, các khu nhà ở cao cấp cho ngời nớc
ngoài thuê để lu trú lâu dài khi làm việc tại Hải Phòng (Khách sạn Hữu Nghị,
khách sạn Royal Garden, khách sạn Harbor View, khách sạn Tray, Làng
quốc tế Hớng Dơng).
Nhiều khu vui chơi, giải trí và th giãn nh sân tenis, bể bơi, sân tập golf,
câu cá, mas - sage, luyện tập thể hình, quán bar, karaoke ở Hải Phòng đã đ -
ợc đa vào sử dụng, Ngoài ra,Hải Phòng có Casino Đồ Sơn phục vụ ngờng nớc
ngoài . Thành phố đang có kế hoạch phát triển một dự án vui chơi,giải trí ở
khu du lịch Đồ Sơn,Cát Bà nhằm tạo sự hấp dẫn cho du khách.
Tất cả các ngân hàng lớn trong nớc đều có chi nhánh tại Hải Phòng
cùng với nhiều chi nhánh ngân hàng liên doanh với nớc ngoài có đầu đủ các
dịch vụ về tài chníh đã có mặt tại Hải Phòng. Các Công ty bảo hiểm, kiểm
toán, t vấn quốc tế nổi tiếng cũng đã mở chi nhánh và văn phòng đại diện tại
đây.
Hải Phòng là nơi đặt trụ sở của các hãng vận tải biển lớn của Việt Nam
nh Vosco, Vinaship, Germatrans, Vinalines, Vitranchart, Vietfract và hàng
chụ hãng vật tải biển và nhiều đại lý hàng hải đã đặt văn phòng tại Hải
- 7 -
Phòng nh Vosa, APM - Saigon, Saelands, Mitsui, Evergreen, Maersk, P&O
Nedloyd, NYK, APL, Hapalloy, Yangming, DSR, Huyndai, KMTC, CMA,
MíC, Hanjin, K - line, Cosco, Heung - A
Hải Phòng hiện có 24 bệnh viện với khoảng 4000 giờng bênh và 4000
bác sĩ và cán bộ y tế. Có một khoa khám, chữa bệnh dành cho ngời nớc ngoài
tại bệnh viện trung tâm thành phố.
Hải Phòng là một trong những trung tâm thể thao mạnh của cả nớc.
Hiện nay, Hải Phòng có 5 sân vận động, 14 sân tenis, 9 bể bơi và một trung
tâm đào tạo vận động viên chuyên nghiệp. Hải Phòng thờng đợc chọn là nơi
tổ chức sự kiện thể thao lớn trong nớc và quốc tế.
4. Dân số và nguồn nhân lực
Dân số Hải Phòng hiện nay xấ xỉ 1,7 triệu ngời. Số ngời trong độ tuổi
lao động là 936000 ngời, trong đó số ngời tốt nghiệp đại học, cao đẳng là
25000 ngời và số lao động kỹ thuật là 1200000 ngời. Ngời Hải Phòng có
truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và có tác phong công nghiệp, ngoài
ra, có thể dễ dàng tuyển dụng lao động từ các tỉnh lân cận.
Hải Phòng có 4 trờng đại học (Đại học y Hải Phòng, Đại học hàng hải
Việt Nam, Đại học S Phạm Hải Phòng và Đại học dân lập Hải Phòng), 1 tr-
ờng cao đẳng (Cao đẳng cộng đồng), 2 viện nghiên cứu về hải dơng học và
hải sản, 48 trờng trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, 237 trờng phổ thông
trung học và trung học cơ sở. Trong tơng lai gần, sẽ có thêm 2 trờng cao
đẳng đợc thành lập: Cao đẳng văn hoá nghệ thuật và Cao đẳng kỹ thuật.
II. Thực trạng kinh tế - xã hội hải phòng thời kỳ
1991 - 2000
1. Tăng tr ởng kinh tế chung
Thực hiện chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội thành phố 10
năm 1991 - 2000, thành phố Hải Phòng đã có chuyển biến tích cực, đạt đợc
một số thành tựu tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển của đầu thế kỷ sau.
- 8 -
Trên cơ sở phát huy nguồn lực trong nớc đồng thời thu hút đầu t từ bên
ngoài để phát triển kinh tế, đến hết năm 2000, thành phố đã thu hút đợc 90
dự án đầu t nớc ngoài với tổng số vốn trên 1,3 tỷ USD (vốn thực hiện đợc
trên 62%) và 334 triệu USD vốn ODA, NGO Tuy mới chỉ đạt 65,5% mục
tiêu đề ra song đã góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế lãnh thổ, cơ cấu ngành
kinh tế có sự thay đổi phù hợp với lợi thế của thành phố và định hớng bố trí
chiến lợc của nhà nớc đối với đại bàn trọng điểm Bắc Bộ với xu thế giảm tỷ
trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng dịch vụ.
Tốc độ tăng trởng bình quân của thành phố luôn đạt ở mức cao sô với
cả nớc, mức tăng bình quân hàng năm thời kỳ 1991 - 2000 ớc đạt 10,3%
GDP bình quân đầu ngời năm 2000 gấp 2,35 lần năm 1990, vợt mục tiêu
chiến lợc của cả nớc.
Các công trình có ý nghĩa vùng đã đợc triển khai, bớc đầu tạo môi tr-
ờng kinh doanh và thu hút đầu t thuận lợi cho thành phố nh đờng 5, đờng 10,
nâng cao công suất cảng gắn với chỉnh trị, cải tạo luồng vào cảng, khu vui
chơi giải trí quốc tế Đồ Sơn, khu công nghiệp Nomura Đình Vũ.
Số hộ đói nghèo từ 18% năm 1995 giảm còn 5,8% năm 2000, các hoạt
động văn hoá, xã hội đặc biệt ở hải đảo, vùng sâu, vùng xa của thành phố có
sự chuyển biến, đáp ứng đợc nhu cầu nâng cao dân trí, tiến bộ xã hội.
Thực hiện đờng lối đổi mới, sự thu hút có kết quả đầu t nớc ngoài thời
kỳ 1991 - 1995, Hải Phòng đạt đợc nhịp độ tăng trởng kinh tế cao ở mức
12,1% trên cơ sở đó quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 15 năm 1996 -
2000 đặt ra mục tiêu tăng trởng cho cả thời kỳ ở mức 15,5% và kế hoạch 5
năm 1996 - 2000 ở mức 15%.
Song do nền kinh tế đang ở tình trạng sức cạnh tranh kém bởi những
yếu kém vốn có cha khắc phục đợc nh công nghệ sản xuất lạc hậu, sản xuất,
cuốc khủng hoảng tài chnsh khu vực vào năm 1998 dẫn đế sút giảm đầu t nớc
ngoài đã tác động đến tốc độ tăng trởng kinh tế của thành phố từ 12,1% của
giai đoạn 1991 - 1995, còn 9,6% trong năm 1996 - 2000, 2 năm 1996 - 1997
và 7,8% trong 3 năm 1998 - 2000, cả giai đoạn 5 năm 1996 - 2000 ớc đạt tốc
độ tăng trởng hàng năm 8,56% bằng 54,8% mục tiêu quy hoạch.
2. Tăng tr ởng và cơ cấu ngành kinh tế
Sản xuất công nghiệp đã có thêm một số mặt hàng nh nhựa dân dụng,
giả da, khí ga hoá lỏng song phát triển theo xu thế hội nhập nên công
nghiệp - xây dựng chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra
- 9 -
năm 1998 và ảnh hởng tiếp tới những năm 1999 - 2000, do đó tốc độ tăng tr-
ởng GDP công nghiệp - xây dựng hàng năm không ổn định: năm 1998 tăgn
13,5% năm 1999 tăng 7,8%, năm 2000 ớc tăng 12,6% cả giai đoạn 1996 -
2000 đạt đợc 13,9%.
Cơ cấu và tốc độ tăng trởng ngành nông - lâm - ng nghiệp:
- Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, do đó giải quyết đợc cơ bản
vấn đề cung câp đủ lơng thực do nông dân và là cơ sở để tiến hành cơ cấu lại
sản xuất theo hớng phát triển chăn nuôi, cây ăn quả, rau quả tạo nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến.
- Về nuôi trồng thuỷ sản: Với việc áp dụng những tiến bộ về kỹ thuật
sản xuất giống, chế biến thức ăn, nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển mạnh theo
hớng thâm canh, diện tích các mặt nớc ao hồ, ruộng trũng, bãi triều ngập
mặn đợc khai thác triệt để vào nuôi trồng thuỷ sản, mở ra một hớng mới
trong việc thu hút lao động, tạo việc làm tăng thu nhập cho khu vực nông
thôn.
- Về khai thác cá biển: đến năm 2000 nghề khai thác các biển đợc đầu
t mới 67 phơng tiện nghề khơi, đa năng lực tập chuyên nghề khơi gấp 4,2 lầm
năm 1990, góp phần tăng sản lợng cá biển đạt 24 nghìn tấn, gấp 2,2 lần năm
1990.
Cơ cấu nội bộ ngành nông - lâm - ng nghiệp có sự chuyển dịch dần
theo hớng sản xuất thực phẩn hàng hoá: Tỷ trọng sản xuất ng nghiệp từ
11,6% (trong tổng giái trị ngành nông - lâm - ng nghiệp) năm 1995, đến năm
2000 tăng lên 15%; trong nông nghiệp sản xuất thực phẩm (chăn nuôi, rau
quả ) chiếm tỷ trọng 56% (tăng 5,5% so năm 1995).
Tốc độ tăng trởng GDP ngành nông - lâm - ng nghiệp giai đoạn 1996 -
2000 ớc đạt 5,7%, bằng 132,6% mục tiêu quy hoạch. Hầu hết các sản phẩm
chính của ngành đạt và vợt mục tiêu quy hoạch.
Cơ cấu và tăng trởng các ngành dịch vụ:
- Thơng mại nội địa với mức tăng trởng hang năm của tổng mứ bán lẻ
giai đoạn 1991 - 2000 bình quân là 39,0%, tỷ trọng thơng mại trong GDP
chiếm từ 8,5 - 8,7%.
- Vận tải, thông tin liên lạch giữa mức 14 - 15% GDP chung.
- Du lịch duy trì ở mức 2,5% GDP chung.
- 10 -
Kim ngạch xuất nhập khẩu đến năm 2000 dự báo đạt 279,8 triệu USD,
tốc độ tăng trởng hang năm 13,9%
3. Các thành phần kinh tế ở Hải Phòng trong 10 năm qua đã có
nhiều biến động, diễn biến theo xu h ớng phát triển đa dạng các hình
thức sở hữu phù hợp với đ ờng lối đổi mới.
Cơ cấu thành phần kinh tế (theo giá trị sản xuất)
Đơn vị tính: %
Ngành
Thành
phần
Công nghiệp, xây
dựng
Nông-ng
nghiệp
Thơng mại-
dịch vụ
1990 2000 1990 2000 1990 2000
Tổng số 100 100 100 100 100 100
1.Khu vực kinh tế Nhà
nớc.
8.08 30.5 5.0 3.0 31.0 27.9
2. Khu vực kinh tế
ngoài Nhà nớc.
19.2 69.5 95.0 97.0 69.0 72.1
2.1 Trong nớc 1902 20.4 95.0 97.0
2.2 Đâù t nớc ngoài 49.1
Riêng trong khu vực nông thôn, do nông nghiệp cha có thị trờng ổn
định, sản xuất công nghiệp cha vơn ra đầu t vào khu vực nông thôn, thu nhâp
dân c đang ở mức thấp đã hạn chế quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn
theo hớng tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp. Sản xuất nông - lâm -
ng nghiệp vẫn giữ vị trí chủ yếu, chiếm tỷ trọng 56 - 60% về GDP với trên
70% lực lợng lao động ở nông thôn; các ngành phi nông nghiệp nh công
nghiệp nhỏ, thơng mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng 40%, song do thiếu vốn và
trình độ công nghệ, thiết bị đang ở trình độ thấp nên sự phát triển không ổn
định.
4. Văn hoá và các vấn đề xã hội
10 năm qua, công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình đã đợc tăng cờng
về vật chất kỹ thuật, phơng thức hoạt động với công tác truyền thông dân số
- 11 -
đến tận xã phờng, tỷ lệ sinh giảm đáng kể từ 2,57% năm 1990, còn 1,48%
năm 2000.
+ Chơng trình giải quyết việc làm: Đén nay thành phố đã xâyd ựng đợc
7 trờng đào tạo nghề, 9 trung tâm dạy nghề và 3 trung tâm hớng nghiệp dạy
nghề cho học sinh phổ thông trung học ở các Quận, huyện và có 20 cơ sở đào
tạo nghề ngắn hạn đã tranh thủ đợc sự hỗ trợ của tổ chức SEARAC để đào
tạo nghề cho ngời nghèo và ngời hồi hơng; trung bình hàng năm có trên
40000 lợt ngời tham gia học nghề ở các trung tâm và trờng dạy nghề của
thành phố, Quận huyện. Hàng năm trong thời kỳ 1996 - 2000 có 1,75 vạn lao
động đợc đào tạo, đảm bảo tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 25% và hàng năm
có trên 3 vạn lao động đợc giải quyết việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị từ 8,1% (năm 1996) còn 8,2% (năm 2000) và nâng cao
thời gian sử dụng lao động ở nông thôn.
+ Thành phố đã triển khai thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở:
đến năm 1999 có 8/12 Quận, huyện, thị xã hoàn thành phổ cập giáo dục
trung học cơ sở, số còn lại sẽ hoàn thành vào năm 2000.
+ Hệ thống giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp: đã có 4 trờng
đại học xây dựng và nâng cấp: trờng Đại học Hàng Hải, trờng Đại học Y, tr-
ờng Đại học S Phạm và trờng Đại học Dân lập; đến nay thành phố có 9 trờng
trung học chuyên nghiệp thuộc các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ
sản, hàng hải, y tế, thể dục thể thao đang hoạt động có hiệu quả. Sự tăng c-
ờng đầu t trong lĩnh vực dạy nghề, giáo dục đại học đã tạo ra những tiền đề
để Hải Phòng trở thành một trung tâm đào tạo nguồn lực của vùng duyên hải
Bắc Bộ.
+ Các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao đợc tổ chức rộng
rãi đến xã, phờng với nội dung phong phú hớng vào việc phát huy tính dân
tộc truyền thống của địa phơng, với sự tham gia của cộng đonòg vào các
phong trào thể dục toàn dân, xây dựng các làng văn hoá, các hội thi hớng vào
các chủ đề gia đình - xã hội, nếp sống và ứng xử văn minh
+ Các phơng tiện thông tin đại chúng, nhất là phát thanh, truyền hình,
báo chí từng bớc đợc nâng cấp, số hộ dân c đợc xem truyền hình đạt 87%.
+ Cho đến nay thành phố có 24 bệnh viện (tuyến thành phố có 8 bệnh
viện; Quận, huyện, thị xã 14 bệnh viện, 1 bệnh viện hải quân, 1 bệnh viện Bộ
giao thông vận tải), 27phòng khám khu vực, 10 trung tâm chuyên khoa và y
tế công cộng, 170 trạm y tế xã. Trong thời gian qua, các bệnh viện đầu ngành
- 12 -
và một số trung tâm y tế của thành phố đã đợc đầu t nâng cấp, cơ sở khám
chữa bệnh đợc bổ sung, đến nay 2000 số giờng bệnh trên 1 vạn đạt 22,1 gi-
ờng dự báo năm 2000 đạt 23 giờng; số bác sỹ trên 1 vạn dân 5,8 bác sỹ (sơ
với năm 1996 tăng 0,3 bác sỹ).
III. Phơng hớng phát triển kinh tế - xã hội đến
năm 2014
1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng "Hải Phòng trở thành thành phố cảng văn minh, hiện đại,
một số trung tâm đô thị cấp quốc gia, cửa chính ra biển, trung tâm công
nghiệp, du lịch - dịch vụ, tuỷ sản ở miền bắc, có kinh tế, văn hoá, giáo dục -
Đào tạo, khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng - an
ninh vững chắc, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân".
2. Mục tiêu cụ thể:
- Tốc độ phát triển kinh tế của thành phố bằng khoảng 1,5 lần so với
tốc độ phát triển chung của cả nớc. Đa tỷ trọng GDP so với cả nớc của Hải
Phòng khoảng 2,9% năm 2000 lên 3,3 - 3,5% năm 2005 và 4,0% vào năm
2014 và GDP gấp 2,7 lần - 2,8 lần năm 2000.
- Nền kinh tế tăng trởng bình quân hàng năm ở mức cao 10 - 11% thời
kỳ 2001 - 2005 và 11 - 11,5% thời kỳ 2006 - 201.
- Nều kinh tế thể hiện cơ cấu xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu 2000 ớc
đạt 279,8 triệu USD; năm 2005 đạt khoảng 670 triệu USD; năm 2014đạt
1300 - 1600 triệu USD.
- Tỷ lệ thu ngân sách từ GDP tăng từ 27,5% hiện nay lên khoảng 30%
năm 2005 và 32% vào năm 2014
- Quá trình phát triển kinh tế đảm bảo phát triển ổn định các vấn đề xã
hội, tạo tiền đề vững chắc về an ninh - quốc phòng.
- Năm 2005 nền kinh tế bảo đảm 92,5% lao động có nhu cầu làm việc
và đến năm 2014 tỷ lệ này là 95%.
- Quá trình đô thị hoá diễn ra manh mẽ. Tỷ trọng dân số đô thị trong
dân số chung tăng từ 34,4% hiện lên 50,8% vào năm 2014
- Cơ cấu kinh tế thành phố có sự chuyển dịch cơ bản:
- 13 -
+ Sản xuất nông nghiệp theo hớng đầu t chiều sâu tạo nhiều sản phẩm
hàng hoá. Tăng nhanh công nghiệp và các ngành dịch vụ. Tỷ trọng GDP
nông, lâm nghiệp trong tổng GDP từ 17,8% năm 2000 giảm xuống 14,0%
năm 2005 và 8 - 10% 2014
+ Tỷ trọng GDP công nghiệp tăng từ 33,6% năm 2000 lên 49% năm
2005 và 51 - 52% vào năm 2014
3. Những nhiệm vụ cơ bản trong quá trình thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2014
3.1. Phát triển kinh tế đối ngoại
Đổi mới có chế, chnsh sách nhằm tiếp tục tạo môi trờng thuận lị để thu
hút nguồn lực trong nớc và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt
là các hoạt động hợp tác đầu t quốc tế nhằm thu hút có hiệu quả nguồn vốn
đầu t, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiến bộ của nớc ngoài để cơ cấu lại
nền kinh tế theo hớng xuất khẩu.
3.2. Xây dựng kết cấu hạ tầng
Năm trong vùng tăng trởng, Hải Phòng cần tiếp tục đợc sự hỗ trợ của
trung ơng để phát triển kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và hợp tác quốc tế nói riêng.
- Với xu thế diễn biến của môi trờng địa chất cửa sông Bạch Đằng,
cảng Hải Phòng có điều kiện tồng tại lâu dài. Trong vài thập kỷ tới, có thể
xác định cha có cảng biển nào ở phía bắc có đợc các điều kiện hậu cần tốt
nh cảng Hải Phòng. Các tuyến nối Hải Phòng với các khu vực trong nội địa
sẽ đợc hoàn chỉnh (đờng 5 nâng câp hoàn chỉnh thành đờng cấp 1 vào năm
2000, đờng 10 đợc nâng cấp cùng với việc xây dựng cầu Bính, Tiên Cựu, Quý
Cao, Tân Đệ. Hệ thống giao thông đờng sông đợc nạo vét chỉnh trị). Khối l-
ợng hàng hoá xuất nhập khẩu, đặc biệt hàng hoá có giá trị cao, của Bắc Bộ
qua cảng Hải Phòng sẽ đợc tăng nhanh.
Cảng đợc hiện đại hoá - container hoá, luồng lạch đợc chỉnh trị để tầu
1 vạn tấn ra vào thuận lợi, nhằm đạt công suất 10 - 12 triệu tấn vào năm
2005 và 15 - 18 triệu tấn vào năm 2014.Nghiên cứu xây dựng cảng nớc sâu,
cảng chuyên dùng cho du lịch nội địa và quốc tế.
- Tập trung đầu t chiều sâu và mở rộng cụm cảng sông Vật Cách
gắn với nâng cấp các tuyến đờng sông của vùng bắc bộc nối với cảng biển.
- Hệ thống đờng sắt đợc đầu t nâng cấp thành đờng đôi.
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét