Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Tài liệu Quyết định 08/2001/QĐ-TTg pdf

Để thuận lợi cho việc quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất được phân
chia thành các đơn vị diện tích như sau:
- Tiểu khu: Có diện tích trung bình 1.000 ha, là đơn vị cơ bản để quản lý rừng; thứ tự tiểu
khu được ghi số bằng chữ số Ả Rập trong phạm vi của từng tỉnh từ tiểu khu số 1 đến tiểu
khu cuối cùng (ví dụ: Tiểu khu 1, Tiểu khu 2, );
- Khoảnh: Có diện tích trung bình 100 ha, là đơn vị thống kê tài nguyên rừng và tạo
thuận lợi trong việc xác định vị trí trên thực địa; thứ tự khoảnh được ghi số bằng chữ số ả
Rập trong phạm vi từng tiểu khu (ví dụ: khoảnh 1, khoảnh 2, );
- Lô: Là đơn vị chia nhỏ của khoảnh có cùng điều kiện tự nhiên và có cùng biện pháp tác
động kỹ thuật; diện tích lô bình quân là 10 ha đối với rừng gỗ và rừng tre nứa tự nhiên;
thứ tự lô được ghi bằng chữ cái Việt Nam trong phạm vi từng khoảnh (ví dụ: Lô a, Lô b
);
Đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ tuỳ theo yêu cầu cụ thể để áp dụng việc phân
chia, có thể không nhất thiết phải chia đơn vị lô;
Số thứ tự của tiểu khu, khoảnh, lô được ghi số theo trình tự từ hướng Bắc xuống hướng
Nam, từ hướng Tây sang hướng Đông;
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn cụ thể về hệ thống mốc ranh giới,
bảng chỉ dẫn và lập hồ sơ quản lý các loại rừng này.
Chương 2
RỪNG ĐẶC DỤNG
I. TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÁC KHU RỪNG ĐẶC DỤNG
Điều 6. Các loại rừng đặc dụng
Rừng đặc dụng được chia thành 3 loại như sau:
1. Vườn quốc gia là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ
sinh thái, bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:
a) Vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn của các hệ sinh thái cơ bản (còn nguyên vẹn
hoặc ít bị tác động của con người); các nét đặc trưng về sinh cảnh của các loài động, thực
vật; các khu rừng có giá trị cao về mặt khoa học, giáo dục và du lịch;
b) Vùng đất tự nhiên đủ rộng để chứa đựng được một hay nhiều hệ sinh thái và không bị
thay đổi bởi những tác động xấu của con người; tỷ lệ diện tích hệ sinh thái tự nhiên cần
bảo tồn phải đạt từ 70% trở lên;
c) Điều kiện về giao thông tương đối thuận lợi;
2. Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm đảm bảo diễn thế tự
nhiên và chia thành hai loại sau:
a) Khu dự trữ thiên nhiên là vùng đất tự nhiên, có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và tính đa
dạng sinh học cao, được thành lập, quản lý, bảo vệ nhằm bảo đảm diễn thế tự nhiên, phục
vụ cho bảo tồn, nghiên cứu khoa học và là vùng đất thoả mãn các điều kiện sau:
- Có hệ sinh thái tự nhiên tiêu biểu, còn giữ được các đặc trưng cơ bản của tự nhiên, ít bị
tác động có hại của con người; có hệ động, thực vật đa dạng;
- Có các đặc tính địa sinh học, địa chất học và sinh thái học quan trọng hay các đặc tính
khác có giá trị khoa học, giáo dục, cảnh quan và du lịch;
- Có các loài động, thực vật đặc hữu đang sinh sống hoặc các loài đang có nguy cơ bị tiêu
diệt;
- Phải đủ rộng nhằm đảm bảo sự nguyên vẹn của hệ sinh thái, tỷ lệ diện tích hệ sinh thái
tự nhiên cần bảo tồn đạt từ 70% trở lên;
- Đảm bảo tránh được sự tác động trực tiếp có hại của con người;
b) Khu bảo tồn loài hoặc sinh cảnh là vùng đất tự nhiên được quản lý, bảo vệ nhằm đảm
bảo sinh cảnh (vùng sống) cho một hoặc nhiều loài động, thực vật đặc hữu hoặc loài quý
hiếm và là vùng đất phải thoả mãn các điều kiện sau;
- Đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn thiên nhiên, duy trì cuộc sống và phát triển
của các loài, là vùng sinh sản, nơi kiếm ăn, vùng hoạt động hoặc nơi nghỉ, ẩn náu của
động vật;
- Có các loài thực vật quý hiếm, hay là nơi cư trú hoặc di trú của các loài động vật hoang
dã quý hiếm;
- Có khả năng bảo tồn những sinh cảnh và các loài dựa vào sự bảo vệ của con người, khi
cần thiết thì thông qua sự tác động của con người vào sinh cảnh;
- Diện tích của khu vực tùy thuộc vào nhu cầu về sinh cảnh của các loài cần bảo vệ;
3. Khu rừng văn hóa - lịch sử - môi trường (khu rừng bảo vệ cảnh quan) là khu vực bao
gồm một hay nhiều cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu và có giá trị văn hóa, lịch sử,
nhằm phục vụ cho các hoạt động văn hoá, du lịch hoặc để nghiên cứu thí nghiệm, bao
gồm:
a) Khu vực có các thắng cảnh trên đất liền, ven biển hay hải đảo;
b) Khu vực có các di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng hoặc có các cảnh quan như
thác nước, hang động, nham thạch, cảnh quan biển, các di chỉ khảo cổ hoặc khu vực riêng
mang tính lịch sử truyền thống của dân địa phương;
c) Khu vực dành cho nghiên cứu thí nghiệm;
Đối với các khu rừng đặc dụng là vùng hải đảo có thể bao gồm cả hệ sinh thái rừng và hệ
sinh thái biển;
Đối với Vườn quốc gia hoặc Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất ngập nước, bao gồm
toàn bộ tài nguyên tự nhiên của hệ sinh thái đất ngập nước và cả sinh vật thuỷ sinh.
Điều 7. Phân khu chức năng của Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên
Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên được chia thành các phân khu chức năng sau
đây:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: là khu vực được bảo toàn nguyên vẹn, được quản lý bảo
vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên; nghiêm cấm mọi hành vi làm thay đổi cảnh
quan tự nhiên của khu rừng;
- Phân khu phục hồi sinh thái: Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để rừng phục
hồi, tái sinh tự nhiên; nghiêm cấm việc du nhập những loài động vật, thực vật không có
nguồn gốc tại khu rừng.
- Phân khu dịch vụ - hành chính: Là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh
hoạt của Ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí.
Trong Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên có thể xây dựng nhiều điểm, tuyến du lịch
dịch vụ, nhưng phải được xác định trong dự án khả thi được cấp có thẩm quyền phê
duyệt.
Điều 8. Vùng đệm đối với Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên
Để ngăn chặn những tác động có hại đối với Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên
phải có các vùng đệm.
1. Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các
Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm
phạm khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho
công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào
vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã
là đối tượng bảo vệ.
2. Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; Dự án đầu tư
xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc
dụng.
3. Chủ đầu tư dự án vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với ủy ban nhân dân các cấp và
các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội, ở trên địa bàn của vùng đệm, đặc biệt là
với Ban quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất lâm - nông - ngư
nghiệp, định canh định cư, trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương,
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định và nâng cao đời sống
của người dân.
Điều 9. Phân cấp quản lý rừng đặc dụng
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ
trong việc phân cấp quản lý rừng đặc dụng theo những nội dung sau:
a) Quản lý thống nhất toàn bộ hệ thống rừng đặc dụng trong phạm vi cả nước bao gồm:
lập quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng trình Chính phủ phê duyệt; trình Chính phủ ban
hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chính sách, chế độ, các văn bản quy phạm pháp
luật liên quan tới công tác quản lý (theo dõi, chỉ đạo việc điều tra và báo cáo tình hình về
diễn biến tài nguyên rừng), bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng; tổ chức hướng dẫn nghiệp
vụ kỹ thuật, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng
đặc dụng;
b) Trực tiếp quản lý các Vườn quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt hoặc nằm trên phạm
vi nhiều tỉnh;
c) Phối hợp với Bộ Thuỷ sản trong việc tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ thuật, thanh tra,
kiểm tra việc thực hiện quản lý, bảo vệ tài nguyên thuỷ sinh vật ở các Vườn Quốc gia và
Khu bảo tồn thiên nhiên có hệ sinh thái nước;
2. Bộ Văn hóa - Thông tin trực tiếp quản lý và tổ chức xây dựng các khu rừng văn hóa -
lịch sử - môi trường đã được xếp hạng cấp quốc gia hoặc được quốc tế công nhận, để
phục vụ cho các mục tiêu tham quan du lịch văn hoá lịch sử. Đồng thời Bộ Văn hóa -
Thông tin có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức
xây dựng, quản lý, bảo vệ những khu rừng này;
3. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp quản lý các khu rừng đặc dụng còn lại trong hệ
thống các khu rừng đặc dụng, tuỳ theo mức độ quy mô, ý nghĩa của từng khu rừng đặc
dụng còn lại mà tỉnh ra quyết định giao cho cấp huyện quản lý xây dụng và khai thác vào
mục đích tham quan du lịch.
Điều 10. Xây dựng dự án đầu tư các khu rừng đặc dụng
1. Mỗi khu rừng đặc dụng phải có quy hoạch định hình để phát triển, trên cơ sở quy
hoạch để xây dựng dự án đầu tư trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp quy mô
dự án lớn thì phân kỳ thực hiện, khi cần sẽ xem xét đánh giá bổ sung; ngoài dự án đầu tư
xây dựng khu rừng đặc dụng, khi có nhu cầu có thể xây dựng một hoặc nhiều dự án vùng
đệm phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương;
2. Nhà nước đầu tư bằng vốn ngân sách, đồng thời thu hút các nguồn vốn viện trợ của
nước ngoài và các tổ chức quốc tế để xây dựng hệ thống rừng đặc dụng theo dự án đầu tư
đã được phê duyệt;
Điều 11. Bộ máy quản lý khu rừng đặc dụng
1. Mỗi khu rừng đặc dụng có diện tích tập trung từ 1.000 ha trở lên (trường hợp đặc biệt
có thể nhỏ hơn 1.000 ha), được thành lập Ban quản lý, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự
nghiệp kinh tế có thu. Ban quản lý là chủ rừng, được giao đất lâm nghiệp và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ và xây dựng khu rừng
được giao;
2. Khu rừng đặc dụng có diện tích tập trung từ 15.000 ha trở lên, được tổ chức Hạt Kiểm
lâm trực thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn
nghiệp vụ của cơ quan Kiểm lâm cấp tỉnh (nơi đóng trụ sở Ban quản lý rừng đặc dụng);
3. Những khu rừng đặc dụng có diện tích dưới 1.000 ha (trừ trường hợp đặc biệt) không
thành lập Ban quản lý mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là chủ
rừng) quản lý, bảo vệ, xây dựng theo quy định của pháp luật;
Trường hợp những khu rừng đặc dụng chưa giao cho chủ rừng cụ thể, Uỷ ban nhân dân
huyện chịu trách nhiệm chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các xã sở tại tổ chức quản lý, bảo vệ và
xây dựng rừng; đồng thời lập thủ tục trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để
giao đất, giao rừng cho các chủ rừng nêu trên quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng đặc dụng;
4. Định suất biên chế Ban quản lý khu rừng đặc dụng tuỳ theo quy mô, giá trị và điều
kiện của từng khu rừng để quy định, bình quân 1.000 ha có một định suất biên chế
(trường hợp khu rừng có ý nghĩa quan trọng về bảo tồn loài hoặc sinh cảnh, về văn hoá
lịch sử, ở vị trí cách biệt với các vùng rừng rộng lớn thì có thể dưới 500 ha một định
suất); tối thiểu mỗi Ban quản lý được biên chế 5 người;
5. Những khu rừng đặc dụng thuộc quy định tại Khoản 3 của Điều này cũng được cấp
kinh phí để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng theo quy định ở Khoản 4 Điều này.
Điều 12. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý rừng đặc dụng
1. Chịu trách nhiệm trước Nhà nước về quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dụng khu rừng
đặc dụng theo Quy chế này và các quy định của pháp luật; tổ chức quản lý, bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên; khôi phục và bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái; bảo tồn tính đa
dạng sinh học của khu rừng đặc dụng, gồm: Thực hiện các biện pháp nhằm phát triển bền
vững tài nguyên sinh vật, tài nguyên đất, tài nguyên nước, đồng thời phối hợp với cấp
Chính quyền sở tại để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khác; thực hiện các biện pháp
phòng, chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng, ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại
đến khu rừng đặc dụng;
2. Lập dự án bổ sung đầu tư xây dựng khu rừng đặc dụng đồng thời dự toán chi phí hàng
năm cho các hoạt động của đơn vị để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; quản lý sử dụng
kinh phí đầu tư từ ngân sách Nhà nước theo các quy định hiện hành;
3. Tổ chức thực hiện các nội dung theo dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt; tổ chức các hoạt động về hợp tác quốc tế theo sự phân công
của các cơ quan có thẩm quyền và theo các quy định hiện hành của Nhà nước về lĩnh vực
này;
4. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy định hoạt động của khu rừng đặc dụng theo hướng
dẫn của cơ quan chủ quản;
5. Định kỳ báo cáo cấp trên về tình hình diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động của
khu rừng đặc dụng;
6. Được tiến hành các hoạt động dịch vụ nghiên cứu khoa học, văn hóa, xã hội và du lịch
sinh thái theo quy định của pháp luật.
II. BẢO VỆ, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÁC KHU RỪNG ĐẶC DỤNG
Điều 13. Quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên trong khu rừng đặc dụng
1. Toàn bộ tài nguyên trong khu rừng đặc dụng phải được tiếp tục điều tra tỷ mỷ và lập
hồ sơ theo dõi;
Thường xuyên theo dõi diễn biến tài nguyên rừng nhất là những loài quý hiếm, điều
chỉnh số liệu thống kê và trên bản đồ; thực hiện việc phúc tra tài nguyên định kỳ 5 năm
một lần;
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm triển khai thực hiện theo quy
định tại Khoản 1, Điều 9 của Quy chế này;
2. Trong các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, nghiêm cấm các hoạt động sau đây:
a) Các hoạt động làm thay đổi cảnh quan tự nhiên;
b) Các hoạt động làm ảnh hưởng đến đời sống tự nhiên của các loài động, thực vật hoang
dã;
c) Thả và nuôi trồng các loài động vật, thực vật đưa từ nơi khác tới mà trước đây không
phân bố ở các khu rừng đặc dụng (trường hợp đặc biệt phải có ý kiến của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn);
d) Khai thác các tài nguyên sinh vật;
đ) Khai thác các tài nguyên thiên nhiên khác;
e) Chăn thả gia súc;
g) Gây ô nhiễm môi trường;
h) Mang hóa chất độc hại, chất nổ, chất dễ cháy vào rừng, đốt lửa trong rừng và ven rừng;
3. Trong các phân khu phục hồi sinh thái, nghiêm cấm các hoạt động sau đây:
a) Khai thác các tài nguyên sinh vật;
b) Khai thác các tài nguyên thiên nhiên khác;
c) Gây ô nhiễm môi trường;
4. Việc phục hồi hệ sinh thái trong khu rừng đặc dụng phải tuyệt đối tôn trọng diễn thế tự
nhiên, được thực hiện như sau:
a) Biện pháp chủ yếu được áp dụng để phục hồi hệ sinh thái rừng đặc dụng là khoanh
nuôi và tái sinh tự nhiên.
- Hạn chế trồng lại rừng, nếu phải trồng lại rừng thì phải thực hiện đúng biện pháp kỹ
thuật, cơ cấu cây trồng phải là cây bản địa và thực hiện theo dự án được cấp có thẩm
quyền phê duyệt; riêng đối với các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt phải thực hiện theo quy
định tại Mục c, khoản 2, Điều này;
- Việc bảo vệ và phục hồi động vật hoang dã trong khu rừng đặc dụng;
Tất cả các loài động vật hoang dã phải được bảo vệ nghiêm ngặt, nghiêm cấm việc săn
bắn, bẫy bắt, hoặc xua đuổi;
Bảo vệ môi trường sống và nguồn thức ăn của động vật hoang dã, trường hợp cần thiết có
thể tạo thêm nguồn thức ăn, nước uống cho chúng;
Chỉ được thả vào rừng đặc dụng những loài động vật hoang dã khoẻ mạnh, không có
bệnh tật và phù hợp vùng sinh thái của chúng; số lượng từng loài phải phù hợp với vùng
sống và nguồn thức ăn của động vật;
b) Việc bảo vệ, phục hồi và phát triển tài nguyên thuỷ sinh vật và tính đa dạng sinh học
của hệ sinh thái ngập nước trong phạm vi khu rừng đặc dụng nằm ở vùng hải đảo, ven
biển hoặc vùng ngập nước sẽ thực hiện theo các nội dung được phê duyệt trong các dự án
đầu tư và theo quy định của pháp luật về thuỷ sản.
Điều14. Khai thác tận thu, tận dụng gỗ trong rừng đặc dụng
Chỉ được tận thu, tận dụng gỗ đối với rừng đặc dụng là các khu rừng văn hoá - lịch sử -
môi trường theo quy định như sau:
Đối tượng tận thu, tận dụng chỉ là những cây gỗ đã bị chết đứng, gẫy đổ do rừng bị cháy
và bị thiên tai khác;
Thủ tục lập hồ sơ, quản lý việc tổ chức thực hiện khai thác tận thu, tận dụng gỗ, phải tuân
theo quy định do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn.
Điều 15. Hoạt động nghiên cứu khoa học trong khu rừng đặc dụng
1. Trên cơ sở các quy định về nghiên cứu khoa học trong các khu rừng đặc dụng do Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, Ban quản lý khu rừng đặc dụng có trách
nhiệm lập kế hoạch nghiên cứu khoa học hàng năm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, tổ
chức thực hiện và báo cáo kết quả lên cơ quan quản lý cấp trên;
2. Việc nghiên cứu khoa học hoặc giảng dạy, thực tập của các tổ chức hoặc cá nhân các
nhà khoa học, học sinh, sinh viên trong nước phải tuân theo các quy định sau:
a) Phải được Ban quản lý khu rừng đặc dụng cho phép và phải tuân theo sự hướng dẫn,
kiểm tra của Ban quản lý khu rừng đặc dụng;
b) Khi tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học tại các khu rừng đặc dụng phải trả
tiền thuê hiện trường và các dịch vụ cần thiết cho Ban quản lý khu rừng đặc dụng;
c) Phải gửi báo cáo kết quả nghiên cứu đã được nghiệm thu công bố cho Ban quản lý khu
rừng đặc dụng;
3. Việc nghiên cứu khoa học của các tổ chức hay cá nhân các nhà khoa học nước ngoài
hoặc phối hợp với tổ chức hay cá nhân các nhà khoa học trong nước phải tuân theo các
quy định sau:
a) Phải được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép và phải tuân theo sự
hướng dẫn, kiểm tra của Ban quản lý khu rừng đặc dụng;
b) Khi tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học tại các khu rừng đặc dụng phải thực
hiện theo quy định tại Mục b, Khoản 2 của Điều này;
c) Phải gửi báo cáo kết quả nghiên cứu đã được nghiệm thu công bố cho cơ quan cấp
phép và Ban quản lý khu rừng đặc dụng;
4. Việc sưu tầm mẫu vật tại các khu rừng đặc dụng với bất kỳ mục đích gì, phải được
phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và phải thanh toán các chi phí cho Ban
quản lý khu rừng đặc dụng;
Trường hợp thu thập mẫu vật đưa ra nước ngoài sẽ có quy định riêng.
Điều 16. Tổ chức hoạt động du lịch trong khu rừng đặc dụng
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan
ban hành các quy định về việc tổ chức các hoạt động du lịch (sinh thái, văn hoá, lịch sử,
nghỉ dưỡng ) theo nguyên tắc vừa khuyến khích mạnh việc phát triển các hoạt động du
lịch, vừa không được làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu bảo tồn thiên nhiên và môi
trường;
2. Việc tổ chức hoạt động du lịch trong phạm vi khu rừng đặc dụng phải được xây dựng
thành dự án riêng, được cấp quản lý khu rừng đặc dụng cho phép tổ chức thực hiện trên
nguyên tắc không được làm ảnh hưởng xấu đến mục tiêu bảo tồn của khu rừng đặc dụng;
3. Ban Quản lý khu rừng đặc dụng được tự tổ chức hoặc cho các tổ chức, hộ gia đình và
cá nhân thuê, khoán để kinh doanh dịch vụ, du lịch sinh thái.
Nghiêm cấm việc sử dụng đất và rừng quy hoạch thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt của vườn
quốc gia để cho thuê, khoán hoặc liên doanh làm thay đổi diễn thế tự nhiên của rừng.
Mọi hoạt động thu, chi dịch vụ du lịch thực hiện theo quy định về chế độ quản lý tài
chính hiện hành; tiền thu từ các dịch vụ du lịch chủ yếu được để lại đầu tư cho công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng đặc dụng;
4. Việc du lịch, tham quan trong các khu rừng đặc dụng do Ban quản lý rừng đặc dụng tổ
chức hoặc phối hợp, liên kết với ngành văn hoá, du lịch thực hiện.
Điều 17. Ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đối với dân cư sống trong các khu rừng
đặc dụng và vùng đệm
1. Phương án quy hoạch, Dự án đầu tư xây dựng, tổ chức đời sống cho dân cư trong khu
rừng đặc dụng và vùng đệm phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt đồng thời với Quyết
định thành lập các khu rừng đó;
2. Dân cư sống trong khu rừng đặc dụng chủ yếu được ổn định tại chỗ. Không được di
dân từ nơi khác tới rừng đặc dụng và vùng đệm;
Trong trường hợp đặc biệt cần phải di chuyển dân ra khỏi phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
của rừng đặc dụng, Ban quản lý khu rừng đặc dụng phải lập dự án trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt theo quy định hiện hành;
3. Diện tích đất ở, ruộng, vườn và nương rẫy cố định của dân cư sống trong rừng đặc
dụng không tính vào diện tích rừng đặc dụng nhưng phải được thể hiện trên bản đồ và
cắm mốc ranh giới rõ ràng trên thực địa;
4. Dân cư sống trong các khu rừng đặc dụng và vùng đệm phải chấp hành nghiêm chỉnh
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, phải tuân theo các quy định trong Quy chế này và những
quy định của Ban quản lý khu rừng đặc dụng.
Chương 3
RỪNG PHÒNG HỘ
I. TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÁC KHU RỪNG PHÒNG HỘ
Điều 18. Các loại rừng phòng hộ
1. Rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa
nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng sông, lòng hồ;
2. Rừng phòng hộ chống gió hại, chắn cát bay, phòng hộ nông nghiệp, bảo vệ các khu
dân cư, các khu đô thị, các vùng sản xuất, các công trình khác;
3. Rừng phòng hộ chắn sóng ven biển nhằm ngăn cản sóng, chống sạt lở, bảo vệ các công
trình ven biển;
4. Rừng phòng hộ môi trường sinh thái, cảnh quan nhằm điều hòa khí hậu, chống ô nhiễm
ở khu đông dân cư, các đô thị và các khu công nghiệp, kết hợp phục vụ du lịch, nghỉ
ngơi;
Điều 19. Phân chia rừng phòng hộ theo mức độ xung yếu
1. Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần
hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết nước; những nơi cát di
động mạnh; những nơi bờ biển thường bị sạt lở, sóng biển thường xuyên đe doạ sản xuất
và đời sống nhân dân có nhu cầu cấp bách nhất về phòng hộ, phải quy hoạch, đầu tư xây
dựng rừng chuyên phòng hộ, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng trên 70%;
2. Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn
nước trung bình; những nơi mức độ đe doạ của cát di động và của sóng biển thấp hơn, có
điều kiện kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu cầu cao về bảo vệ và sử dụng
đất, phải xây dựng rừng phòng hộ kết hợp sản xuất, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng tối
thiểu 50%;
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cụ thể về tiêu chí của vùng rừng rất
xung yếu và xung yếu để hướng dẫn thực hiện.
Điều 20. Tổ chức bộ máy quản lý rừng phòng hộ
1. Tuỳ theo quy mô, tính chất, mức độ quan trọng của mỗi khu rừng phòng hộ để thành
lập Ban quản lý, trường hợp đặc biệt có quy mô diện tích tập trung từ 5.000 ha trở lên

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét