lợi ích biên bằng chi phí biên. Lúc này hàng hóa sẽ khan hiếm, người dân phải
chịu mức giá cao hơn so với thị trường cạnh tranh, từ đó gây tổn thất phúc lợi
xã hội.
Song song với quá trình tồn tại độc quyền, do muốn tối đa hóa lợi nhuận
nên doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất hàng hóa ở mức sản lượng mà tại đó
chi phí biên bằng với doanh thu biên thay vì sản xuất ở mức sản lượng mà ở đó
giá sản phẩm bằng chi phí biên như trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo (cân
bằng cung cầu).
Khác với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi mà giá bán sản phẩm không
phụ thuộc vào số lượng sản phẩm do một doanh nghiệp sản xuất ra, trong tình
trạng độc quyền giá bán sẽ giảm xuống khi doanh nghiệp độc quyền tăng sản
lượng. Vì thế doanh thu biên sẽ nhỏ hơn giá bán sản phẩm và cứ một đơn vị
sản phẩm sản xuất thêm doanh nghiệp độc quyền sẽ thu thêm được một khoản
tiền nhỏ hơn giá bán sản phẩm đó. Điều này có nghĩa là nếu cứ sản xuất thêm
sản phẩm thì doanh thu thu thêm được không đủ bù đắp tổn thất do giá bán
của tất cả sản phẩm giảm xuống. Mặt khác, nếu áp dụng nguyên tắc biên của
tính hiệu quả nghĩa là sản xuất sẽ đạt hiệu quả khi lợi ích biên bằng chi phí
biên, tất nhiên lợi ích biên và chi phí biên ở đây xét trên góc độ xã hội chứ
không phải đối với doanh nghiệp độc quyền ta thấy rằng: ở mức sản lượng mà
doanh nghiệp độc quyền sản xuất thì lợi ích biên (chính là đường cầu) lớn hơn
chi phí biên đồng nghĩa với tình trạng không hiệu quả. Tóm lại, doanh nghiệp
độc quyền sẽ sản xuất ở sản lượng thấp hơn và bán với giá cao hơn so với thị
trường cạnh tranh. Tổn thất mà xã hội phải gánh chịu do sản lượng giảm sút
trừ đi tổng chi phí biên để sản xuất ra phần sản lượng đáng lẽ nên được sản
xuất ra thêm đó chính là tổn thất do độc quyền.
5
2.2 Thực trạng độc quyền ở Việt Nam
Một nghịch lý đang diễn ra là các cơ sở sản xuất, kinh doanh dược trong
nước chịu sự kiểm soát chặt của cơ quan quản lý nhà nước nhưng chưa thể
kiểm soát giá cả thuốc của các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Bản thân các cơ
quan quản lý muốn công bố giá trần thuốc để minh bạch đấu thầu giá nhưng
vẫn không thể. Giá một loại số loại thuốc nhập khẩu, thuốc biệt dược, thuốc
chuyên dụng tăng cao, có loại lên đến 150% - 300% so với giá gốc.
Việc quản lý giá thuốc tại các cơ sở bệnh viện công lập bằng phương pháp
đấu thầu đã được thực hiện từ năm 2006. Qua 4 năm triển khai, áp dụng giá
thuốc cạnh tranh không thấy đâu, chỉ lộ ra nhiều bất cập. Bệnh nhân vẫn phải
mua thuốc giá cao, giá thuốc vẫn lũy tiến theo từng tháng. Một câu hỏi được
đặt ra là “Đến bao giờ, các cơ quan chức năng mới có sự chủ động về giá
thuốc, tránh sự lệ thuộc từ bên ngoài? Đến bao giờ, người bệnh mới được mua
giá thuốc không độc quyền?”
Theo quy định của Bộ Y tế và Bộ Tài chính, các nguồn thuốc khi cung cấp
vào các cơ sở y tế công lập bắt buộc phải qua công tác đấu thầu. Giá các mặt
hàng thuốc trong gói đấu thầu không được cao hơn giá tối đa của các mặt hàng
thuốc đó được công bố tại thời điểm gần nhất của Bộ Y tế. Trong trường hợp,
những mặt hàng thuốc chưa được công bố giá tối đa, khi xây dựng kế hoạch
đấu thầu, các đơn vị phải tham khảo giá những mặt hàng thuốc đã trúng thầu
trong vòng 12 tháng trước của các cơ sở y tế công lập do Cục Quản lý Dược
Việt Nam cập nhật và thông báo trên trang thông tin điện tử của ngành y tế.
Bởi doanh số bán thuốc của bệnh viện chiếm tới 70% thị phần bán lẻ nên với
những quy định như vậy, Bộ Y tế hi vọng sớm đưa được thuốc trị bệnh vào
6
guồng quản lý, hi vọng kéo được giá thuốc xuống chống dược tình trạng độc
quyền về giá thuốc.
Thế nhưng, qua những đợt thanh kiểm tra của Bộ Y tế cho thấy, giá thuốc
trong nhiều bệnh viện bán giá cao hơn giá bán lẻ bên ngoài. Các lượt thuốc
tăng giá vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn so với mặt hàng giảm giá. Theo Hiệp hội
kinh doanh dược Việt Nam, vào tháng 10, khi tiến hành khảo sát 7390 lượt
mặt hàng, bao gồm cả thuốc nội và thuốc nhập ngoại, có 7 lượt mặt hàng
thuốc ngoại tăng giá, chiếm tỉ lệ chưa đầy 0,1%, tỉ lệ tăng trung bình 5,0%
(ngoài ra có 13 lượt mặt hàng giảm giá chiếm tỉ lệ 0,14% với tỉ lệ giảm trung
bình khoảng 4,3%). Với thuốc sản xuất trong nước: có 37 lượt mặt hàng tăng
giá, chiếm tỉ lệ 0,40% so với tổng số lượt mặt hàng khảo sát, mức tăng trung
bình 3,8% và 11 lượt mặt hàng giảm giá chiếm tỉ lệ 0,12%.
Một nghịch lý đang diễn ra là các cơ sở sản xuất, kinh doanh dược trong
nước chịu sự kiểm soát chặt của cơ quan quản lý nhà nước nhưng chưa thể
kiểm soát giá cả thuốc của các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Bản thân các cơ
quan quản lý muốn công bố giá trần thuốc để minh bạch đấu thầu giá nhưng
vẫn không thể. Giá một loại số loại thuốc nhập khẩu, thuốc biệt dược, thuốc
chuyên dụng tăng cao, có loại lên đến 150% – 300% so với giá gốc.
Đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bà Nguyễn Thị Kim Phượng, cho
rằng, tổng chi cho y tế của Việt Nam hiện ngang bằng với các nước thu nhập
trung bình cao và Việt Nam đang đối mặt với sự gia tăng chi phí y tế, đối với
cả hộ gia đình và nhà nước. Chi phí y tế cao nhưng hiệu quả thấp. Không chỉ
quỹ BHYT mà hộ gia đình phải gánh chịu khoảng 20% chi phí bất hợp lý từ
việc cung ứng các dịch vụ không cần thiết, giá thuốc không hợp lý và sử dụng
thuốc không hợp lý.
7
Việc đấu thầu giá thuốc đã thật sự không mang lại những hiệu quả như
mong muốn. Lý do được bộ Y Tế cho rằng, trên thị trường đang lưu hành
khoảng 22.000 mặt hàng thuốc với trên 1500 hợp chất, mỗi loại hợp chất có
nhiều chủng loại, hàm lượng quy cách đóng gói, nhà sản xuất, nơi sản xuất
khác nhau nên việc xác định mức giá tối đa cho tất cả các mặt hàng trên thực
chất là rất khó khả thi. Trong thực tế, có những loại thuốc giống nhau, nồng độ
như nhau, nhưng thuốc nhập ngoại sẽ đắt hơn thuốc nội sản xuất. Nếu Cục
Quản lý dược công bố giá thì các doanh nghiệp trong nước sẽ đẩy giá của
mình lên cao dù chi phí rất thấp. Việc này dẫn tới, các bệnh viện không mua
được giá đúng. Còn nếu công bố mức giá cao nhất đã trúng thầu để làm cơ sở
giá tối đa thì cũng không có ý nghĩa, cơ chế công bố giá tối đa có thể dẫn tới
tăng giá thuốc đồng loạt trên thị trường. Vậy, câu hỏi đặt ra, quyền định giá
thuốc đang của cơ quan nào?
Theo khẳng định của nhiều chuyên gia, muốn quản lý minh bạch thì nên
mời các chuyên gia độc lập tham gia xây dựng giá trần, chuyển quản lý giá
thuốc sang Bộ Tài chính, nghiên cứu việc đấu thầu thuốc tập trung, triển khai
thí điểm trước tại một số tỉnh. Đây là cách chống độc quyền về giá thuốc.
Theo thừa nhận của Bộ Y Tế, Bộ vẫn gặp nhiều vướng mắc trong việc
quản lý giá thuốc. Hiện nay, Bộ đang tính toán tới cơ chế không công bố giá
trần mà công bố thặng số bán buôn tối đa đối với các thuốc do ngân sách và
BHYT chi trả, chọn lọc một số loại thuốc có tỷ trọng tần suất cao trong điều
trị.
Ngành điện là một ngành kinh doanh dịch vụ, mà đã là dịch vụ thì phải có
chú ý quan tâm , chăm sóc khách hàng. Nhưng thật ngược đời, khách hàng
phải đi lo "chăm sóc" ngành điện thì mới có cơ hy vọng được cấp điện ổn
8
định, đây mới chỉ là ổn định thôi, chứ chưa nói tới việc nguồn điện có đảm
bảo chất lượng hay không.
Việt Nam chúng ta đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, một nền
kinh tế của những sự cạnh tranh và sự đề cao chất lượng phục vụ khách hàng.
Ngành điện Việt Nam ỷ thế độc quyền, coi thường khách hàng như hiện nay là
một hiện tượng không thể chấp nhận được. Đã đến lúc chúng ta phải có một
sự xem xét lại tư cách độc quyền kinh doanh điện.
Trao đổi về việc tăng giá điện, nhiều ý kiến cho rằng không nên tăng giá
điện trong lúc nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn và nếu tăng từ 8-9,8% vẫn
là quá cao
Thông tin về việc sẽ tăng giá điện trong năm 2011 khiến nhiều người dân
lo lắng. Rất nhiều ý kiến cho rằng không nên tăng giá điện trong thời buổi lạm
phát vì sẽ kéo theo giá rất nhiều mặt hàng khác tăng theo, gây khó khăn cho
cuộc sống của người dân.
Trong tình hình kinh tế hiện nay, mục tiêu là kích cầu. Chính phủ đã tung
ra những khoản tiền để giúp kích cầu cho nền kinh tế. Nhưng việc tăng giá
điện có tác dụng ngược lại chính sách trên. Việc tăng giá điện như thế có thể
làm cho cầu đầu tư giảm sút trầm trọng.
Nếu tăng giá điện phải đảm bảo chất lượng điện. Tuy nhiên, chất lượng
dịch vụ của ngành điện lại kém, vào những thời gian cao điểm như mùa hè,
dân và doanh nghiệp vẫn phải chịu thiếu điện, bị cắt điện luân phiên gây thiệt
hại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, gây khó khăn cho đời sống. Điều này
thể hiện việc tái đầu tư của ngành điện rất kém và cũng thể hiện sự độc quyền,
thiếu tính cạnh tranh trong lĩnh vực này.
9
Nếu coi người sử dụng điện là khách hàng và phải chịu mua điện theo giá
cả thị trường thì họ được quyền yêu cầu người bán cung cấp dịch vụ tốt nhất,
được quyền lựa chọn nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt nhất. Tuy nhiên,
việc này là không thể có, vì chúng ta chỉ có một đơn vị duy nhất cung cấp điện
cho cả nước và khách hàng không bao giờ có cơ hội lựa chọn.
Tăng giá điện thì cũng là việc cần thiết nhưng trong tình hình kinh tế được
dự báo là khó khăn trong năm nay thì liệu đã phù hợp chưa? Đó là một vấn đề
đáng quan tâm, đặc biệt là các tầng lớp nhân dân có mức sống còn thấp nhưng
lại chính là những tầng lớp rất "nhạy cảm" với những biến động của thị trường
bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống thường ngày của họ.
Chưa biết tình hình năm nay thế nào nhưng nếu nghe đến việc tăng giá bất
cứ cái gì chắc hẳn họ sẽ không khỏi giật mình. Nguyên nhân đơn giản bởi
ngay việc trả một lượng tiền điện sinh hoạt hàng tháng cũng đã cần phải tính
toán bởi nó chiếm một khoản thu nhập nhất định của họ. Đấy là chưa kể hàng
loạt các mặt hàng khác sẽ tăng giá và đời sống của họ sẽ càng vất vả, khó khăn
hơn.
Một ví dụ nữa đó là các sinh viên ở trọ, hiện nay tại Hà Nội, sinh viên ở
trọ đã phải trả tiền điện với mức giá 2.500đ/1 số điện. Nếu tăng giá điện, các
chủ nhà trọ sẽ còn thu của sinh viên với mức giá như thế nào. Hơn nữa, cùng
với tăng giá điện, các mặt hàng tiêu dùng cũng sẽ theo đó tăng lên càng làm
cho đời sống vốn đắt đỏ nơi thị thành trở nên khó khăn hơn đặc biệt đối với
một bộ phận không nhỏ sinh viên từ nông thôn. Còn không ít ví dụ khác
nhưng đó là 2 ví dụ dễ thấy nhất"
Bắt đầu từ tháng 7/2011, thị trường phát điện cạnh tranh sẽ chính thức
được vận hành thí điểm, mở đầu cho việc tiến tới thị trường điện cạnh tranh
hoàn chỉnh vào năm 2022.
10
Kỳ vọng của người tiêu dùng là thông qua cạnh tranh, giá điện và chất
lượng phục vụ sẽ theo hướng có lợi cho khách hàng. Còn với nhà đầu tư, việc
tiến hành theo cơ chế thị trường, có sự cạnh tranh bình đẳng cũng là cơ hội
cho họ “chen chân” vào lĩnh vực vốn từ trước tới nay vẫn được cho là độc
quyền của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Trước đây, không phải tự nhiên mà ngành điện được xem là độc quyền “tự
nhiên”. Nó độc quyền “tự nhiên” bởi ôm cả ba khâu phát điện, truyền tải và
phân phối cùng ở trong một công ty mẹ là EVN. Tuy nhiên, đến nay ngành
điện đã nảy sinh nhiều bất cập, do vậy nên mới có chủ trương thị trường hóa.
Để đầu tư một dự án hay một nhà máy điện lớn thường phải tốn từ 300-500
triệu USD. Với số vốn trên, ngay các doanh nghiệp tư nhân lớn của Việt Nam
cũng không đủ tiền để đầu tư một dự án điện. Do đó, giả dụ chúng ta có “thả”
ra từ những năm trước thì chưa chắc họ đã làm được.
Chính vì vậy, việc hô hào cạnh tranh để tiến đến cạnh tranh bán buôn,
cạnh tranh bán lẻ là cả một quá trình dài. Vấn đề là làm sao để người tiêu dùng
được hưởng một mức giá hợp lý, và không để một doanh nghiệp nào độc
quyền thao túng thị trường, đẩy giá lên. Điều này đồng nghĩa nếu việc đầu tư
vào ngành điện gặp rào cản về vốn, tức là dù có cho phép cạnh tranh thì EVN
vẫn là “anh cả” với nhiều lợi thế và đặc quyền vượt trội?
Thực ra, EVN cũng đã phải tính đến việc không sớm thì muộn thị trường
điện cũng phải vận hành theo cơ chế thị trường. Chính vì vậy, họ cũng đã
thành lập ban thị trường điện từ mấy năm nay để lo chuyện này. Bên cạnh đó,
chúng ta còn có Cục Điều tiết điện lực nữa nên rõ ràng mục tiêu xóa độc
quyền là khá rõ ràng.
Hiện tại chúng ta đang bắt đầu triển khai giai đoạn cạnh tranh phát điện,
đồng thời cũng đã tách độc lập khối truyền tải và cho thành lập các tổng công
ty phân phối, tổng công ty phát điện…
11
Đặc biệt, Chính phủ cũng đã có chỉ đạo yêu cầu EVN phải tái cơ cấu
nhằm nâng cao hiệu quả của tập đoàn này và đưa ngành điện phát triển bền
vững, ổn định thì những quan ngại về hai chữ “độc quyền” sẽ theo đó mà giảm
đi nhiều.
Tuy nhiên, trong việc chống độc quyền, vẫn còn một số hạn chế, bất cập.
Hạn chế, bất cập còn thể hiện trên hai mặt. Một mặt, một số lĩnh vực còn độc
quyền, như điện, than, xuất bản sách giáo khoa, trong đó đáng lưu ý là điện
và sách giáo khoa. Điện tuy đã có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp hơn
(ngoài Tổng công ty điện lực), nhưng cũng vẫn chỉ là những doanh nghiệp nhà
nước và vẫn chỉ là lĩnh vực sản xuất điện. Đây là một trong những nguyên
nhân quan trọng làm cho điện sản xuất tuy tăng với tốc độ khá, nhưng vẫn còn
mất cân đối so với yêu cầu sử dụng, hiện đang là "nút cổ chai" của nền kinh tế.
Độc quyền định giá xăng dầu
Tại Việt Nam, kinh tế thị trường đã vận hành từ hơn 20 năm nay. Thế
nhưng đến tận bây giờ sự độc quyền thời bao cấp trong một số lĩnh vực vẫn
còn duy trì, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu. Luật cạnh tranh hiện
nay vẫn chưa phát huy tác dụng trong việc chống độc quyền.
Hiện nay có 11 đơn vị đầu mối tham gia kinh doanh xăng dầu. Con số này
ai cũng tưởng rằng nhà nước đã xóa bỏ độc quyền trong ngành xăng dầu, thực
ra không phải vậy. Hơn 60% khối lượng phân phối xăng dầu nằm trong tay
Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex). 10 đơn vị còn lại chia sẻ nhau
“mẩu bánh” - 40% thị phần, bên nào cũng tính toán để tranh giành lợi nhuận
nên khó có chuyện hợp tác với nhau để xóa bỏ độc quyền.
Một mình Petrolimex giữ 60% thị phần, nên tha hồ thao túng thị trường.
Nhất là sau khi nhà nước ra nghị định 84/2009/NĐ-CP, theo đó doanh nghiệp
12
sẽ được áp dụng giá bán mà không cần xin phép và chờ đợi phương án điều
chỉnh giá, phê duyệt như trước đây. Nghĩa là các đơn vị kinh doanh xăng dầu
được “chủ động giá bán từ sau 15/12/2009”. Việc tăng hay giảm giá xăng dầu
trên thị trường càng phụ thuộc vào Petrolimex.
Trong mọi lĩnh vực, tình trạng độc quyền luôn gây ra những thiệt hại cho
xã hội, nên cần phải được xóa bỏ. Việc xóa bỏ thế độc quyền của ngành viễn
thông cách đây mấy năm đã đem lại nhiều lợi ích cụ thể mà ai cũng nhận thấy
rõ. Chính vì vậy việc phá thế độc quyền của Petrolimex, không có gì khó khăn
nếu Nhà nước muốn thực hiện vì lợi ích chung của toàn xã hội.
Rồi như ngành xăng dầu, khi giá xăng dầu thế giới tăng cao hơn trong
nước, Nhà nước đã điều chỉnh giá lên, người dân đã thông cảm với sự khó
khăn của ngành và chấp nhận mở hầu bao để mua với giá mới. Thế nhưng
hiện nay khi giá thế giới đã thấp hơn trong nước từ lâu thì lại không thấy
ngành này có chút ý kiến gì về việc hạ giá bán cả.
Xăng, dầu là mặt hàng có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc
dân. Giá cả của nó ảnh hưởng đến nhiều mặt kinh tế xã hội. Vì thế, trong suốt
nhiều năm qua, nhà nước đã can thiệp trực tiếp vào quá trình hình thành giá
mặt hàng này ở thị trường nội địa. Theo đó, các doanh nghiệp đầu mối được
căn cứ vào giá nhập khẩu, thuế, phí, lợi nhuận để tính toán mức giá cụ thể đến
tay người tiêu dùng. Và, kể từ đây, diễn biến giá xăng dầu trong nước sẽ tuân
theo diễn biến chung của thế giới, chấm dứt bù lỗ. Việc can thiệp của Nhà
nước sẽ hạn chế trong một số trường hợp cụ thể, cấp bách.
3. Giải pháp chống độc quyền
3.1 Những điều kiện cần thiết để chống độc quyền
13
Để có sự cạnh tranh hoàn hảo, nhiều quốc gia đã coi việc chống độc quyền
và tạo nên cạnh tranh hoàn hảo là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà
nước. Để tạo nên cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền trong kinh doanh
thì cần phải có những điều kiện nhất định. Đó là:
+ Điều kiện về các yếu tố pháp lý - thể chế đối với hoạt động kinh doanh
Để có sự cạnh tranh trong nền kinh tế thì cần phải hoạt động sản xuất kinh
doanh. Ngày nay trong quá trình hội nhập ngày càng cao thì các thể chế pháp
lý không chỉ do nhà nước ban hành mà nó còn được ban hành bởi các tổ chức
quốc tế hoặc do một khu vực kinh tế gồm nhiều quốc gia ban hành. Yếu tố
pháp lý thể chế nhân tố quan trọng trong hình thành nên môi trường kinh
doanh - là đất sống của hoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi yếu tố pháp lý -
thể chế đều tác động vào một lĩnh vực nhất định trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, nó được dùng để điều chỉnh các hành vi hoạt động sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm. Các chủ thể kinh tế muốn tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh trong lĩnh vực nào đều phải dựa vào các thể chế - pháp lý đã được ban
hành đối với lĩnh vực đó để tham gia hoạt động kinh tế. Như vậy sẽ hình thành
nên một môi trường kinh doanh ổn định, khoa học. Mặc dù chỉ có định hướng
trong một lĩnh vực nhất định, song trong một nền kinh tế thống nhất để tạo
nên sự hoạt động đồng bộ cho guồng máy kinh tế thì các yếu tố thể chế - pháp
lý này đều phải đảm bảo các điều kiện:
Thứ nhất: Đảm bảo sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống thuộc mọi lĩnh vực
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. Như vậy mọi lĩnh
vực của hoạt động sản xuất kinh doanh đều được điều chỉnh bởi các thể chế -
pháp lý, điều này sẽ tạo nên tính hài hoà trong nền kinh tế. Nếu như không
đảm bảo được sự đồng bộ thì trong nền kinh tế sẽ có những lĩnh vực không bị
tác động của các thể chế pháp lý, việc hoạt động trong các lĩnh vực này sẽ dễ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét