Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
Luận văn thạc sỹ: "Huy động vốn cổ phần trên thị trường OTC - Một giải pháp về vốn cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh"
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu điều tra thái độ và sự mong muốn tiếp cận thò trường
OTC của doanh nghiệp. i
Phụ lục 2: Danh sách các công ty tham gia phỏng vấn. iv
Phụ lục 3a: Kết quả EFA lần I. vii
Phụ lục 3b: Kết quả EFA lần II. ix
Phụ lục 3c: Kết quả EFA lần III. xi
Phụ lục 4a: Kết quả kiểm đònh Cronbach Alpha cho 11 nhóm nhân tố sau
EFA lần I. xiii
Phụ lục 4b: Kết quả kiểm đònh Cronbach Alpha cho 10 nhóm nhân tố sau
EFA lần III. xiv
Phụ lục 5: Kết quả hồi quy. xv
Phụ lục 6: Kết quả phân tích One – way Anova. xvi
a
PHẦN MỞ ĐẦU
Thông qua các chương trình hội nhập như tham gia khu vực thương mại tự do
ASEAN (AFTA), Hiệp đònh thương mại song phương Việt – Mỹ, và quan trọng nhất
là Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO), việc tăng cường hội nhập của Việt Nam
vào nền kinh tế toàn cầu và các mạng lưới kinh doanh quốc tế có nghóa là các doanh
nghiệp trong nước cần phải có khả năng cạnh tranh và hợp tác quốc tế. Có thể cho
rằng đây là thách thức lớn lao đối với các doanh nghiệp Việt Nam, và việc đối mặt
thành công với các thách thức này sẽ phụ thuộc vào nhiều vấn đề, trong đó có việc
các doanh nghiệp phải có khả năng tiếp cận các nguồn tài trợ dài hạn phù hợp cần
thiết để giúp phát triển thành các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Mặc dù việc tiếp cận các nguồn vốn (và đặc biệt là các khoản vay) nói chung
trong những năm gần đây đã trở nên dễ dàng hơn, song việc cung cấp các nguồn tài
chính cân đối và thích hợp vẫn còn là một thách thức đối với Việt Nam.
Cùng với những tiến bộ vượt bậc trong việc phát triển nền kinh tế, trong những
năm gần đây Việt Nam cũng đã có một số thay đổi tích cực về các điều luật và các
quy đònh quản lý hoạt động huy động vốn cổ phần. Những thay đổi này đã và sẽ giúp
hoạt động huy động vốn cổ phần có những bước chuyển mạnh mẽ, góp phần huy động
và khai thác các nguồn vốn đáng kể nhằm tài trợ cho sự phát triển thành công của
khối doanh nghiệp trong nước bắt đầu tăng trưởng.
Bên cạnh hoạt động huy động vốn cổ phần trên thò trường chứng khoán chính
thức Việt Nam chưa mấy khả quan, là sự phát triển mạnh mẽ của những giao dòch phi
chính thức các chứng khoán không niêm yết và những đợt phát hành cổ phiếu ra công
chúng rất thành công của một số công ty cho thấy thò trường vốn vẫn có khả năng
phát triển nếu có các quy đònh điều tiết phù hợp. Nếu được xây dựng và quản lý chặt
chẽ, thò trường OTC (Over the counter market – thò trường giao dòch chứng khoán phi
tập trung) Việt Nam sẽ mở ra cơ hội để các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình có thể
b
lựa chọn các nguồn vốn tài trợ phù hợp nhất cho các hoạt động đầu tư phát triển và
kinh doanh của mình.
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Malayxia,… cho
thấy việc phát triển thò trường này đặc biệt hữu ích cho khu vực DNVVN, doanh
nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp tăng trưởng. Cùng với hệ thống thò trường
chứng khoán tập trung và toàn hệ thống thò trường tài chính nói chung, thò trường OTC
có vai trò lớn trong việc tạo một kênh huy động và phân bổ nguồn vốn dài hạn cho
nền kinh tế, đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp công nghệ
cao, ngành nghề mới, các doanh nghiệp mới thành lập…, chưa đủ điều kiện huy động
vốn trên thò trường tập trung. Thò trường này là một thành tố của hệ thống thò trường
chứng khoán, với những đặc thù riêng có của mình nó góp phần hoàn thiện môi
trường huy động và phân bổ nguồn vốn cho các doanh nghiệp.
Đó là những lý do đặt ra cho đề tài luận văn: “HUY ĐỘNG VỐN CỔ PHẦN
TRÊN THỊ TRƯỜNG OTC – MỘT GIẢI PHÁP VỀ VỐN CHO CÁC DOANH
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH“. Thò trường OTC ở các
nước trên thế giới đã được nghiên cứu và hoạt động rất rộng rãi, nhưng đối với Việt
Nam, nó còn khá mới mẻ về lý thuyết cũng như thực tiễn, hầu như chưa có một
nghiên cứu chính thức nào về thò trường OTC. Do đó, việc các doanh nghiệp tiếp cận
vốn của thò trường này đòi hỏi phải được nghiên cứu về mặt lý thuyết kết hợp với
kinh nghiệm thực tế của các nước cũng như ở Việt Nam nhằm mở ra một hướng giải
quyết đúng đắn, hợp thời trong việc huy động vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Việt
Nam trong giai đoạn hội nhập WTO.
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu.
• Nghiên cứu lý thuyết về thò trường OTC và hoạt động huy động cổ phần của
Doanh nghiệp.
• Phân tích đánh giá thực trạng huy động vốn cổ phần của các doanh nghiệp Việt
Nam và hoạt động của thò trường OTC Việt Nam trong thời gian qua.
c
• Nghiên cứu thái độ và sự mong muốn tiếp cận thò trường OTC của các doanh
nghiệp trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
• Đưa ra một số kiến nghò để đẩy mạnh hoạt động huy động vốn cổ phần trên thò
trường OTC của các doanh nghiệp trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phạm vò nghiên cứu:
Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá là thành phố năng động và có mức tăng
trưởng kinh tế vào bậc nhất của Việt Nam. Vì vậy đề tài xác đònh đối tượng nghiên
cứu là các Doanh nghiệp trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh .
Phương pháp nghiên cứu:
a, Phương pháp sử dụng:
• Phương pháp đònh tính
• Phương pháp đònh lượng
• Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích.
b, Nguồn thông tin cần thiết:
• Dữ liệu sơ cấp: điều tra bằng bảng câu hỏi để xác đònh nhu cầu về vốn và các
nguồn tài trợ vốn của doanh nghiệp cũng như mức độ tiếp cận thò trường OTC của các
DNVVN trên đòa bàn TP.HCM.
• Dữ liệu thứ cấp: các nguồn sách báo, tạp chí và Internet.
c, Xử lý dữ liệu: phần mềm SPSS
Ý nghóa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác đònh mức độ tiếp cận thò trường OTC của
các doanh nghiệp trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về thò trường
chứng khoán, thò trường OTC để từ đó mong muốn có cơ hội tiệp cận và khai thác
d
nguồn vốn từ thò trường OTC này nhằm đáp ứng cho nhu cầu hoạt động và phát triển
của DN.
Kết cấu nghiên cứu:
Chương I: Nghiên cứu lý thuyết về thò trường OTC và hoạt động huy động vốn cổ
phần của doanh nghiệp.
Chương II
: Thực trạng huy động vốn cổ phần của các doanh nghiệp và hoạt động của
thò trường OTC Việt Nam trong thời gian qua.
Chương III
: Nghiên cứu thái độ và sự mong muốn tiếp cận thò trường OTC của các
doanh nghiệp trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
1
CHƯƠNG I
:
LÝ THUYẾT VỀ CÁC NGUỒN TÀI TR VỐN DÀI
HẠN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG OTC
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỔ PHẦN
CỦA DOANH NGHIỆP.
Mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu to lớn về vốn để vận hành và phát triển.
Vốn là yếu tố quan trọng, cần thiết đầu tiên và bắt buộc phải có ở bất kỳ một doanh
nghiệp nào ngay từ khi bắt đầu thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh. Số lượng vốn
ở mỗi một doanh nghiệp là chỉ tiêu đánh giá quy mô của doanh nghiệp, khả năng
chiếm lónh và sức mạnh để tồn tại và phát triển. Số lượng vốn kinh doanh biểu hiện
thế lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự thành công hay thất
bại của các doanh nghiệp trên thò trường. Vốn là nguồn tài trợ cho doanh nghiệp có
điều kiện bổ sung những trang thiết bò, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh
doanh, phát huy sức mạnh để chiếm ưu thế trong cạnh tranh hoặc chuyển bại thành
thắng. Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn vốn ổn đònh và đủ mạnh để không
bò áp đảo hoặc bò thâu tóm bởi các thế lực cạnh tranh trên thò trường.
Khi huy động thêm vốn, doanh nghiệp phải tính toán hiệu quả của từng nguồn
vốn mới và cơ cấu vốn hợp lý. Mỗi nguồn vốn, mỗi phương thức huy động vốn đều
hàm chứa những ưu thế và rủi ro nhất đònh. Nhưng ưu thế và rủi ro đó trong một
chừng mực nhất đònh, có thể đánh giá được thông qua chi phí huy động (cái giá mà
doanh nghiệp phải tra)û để có được số vốn cần thiết, qua đó xác đònh phương thức huy
động vốn hiệu quả nhất cho doanh nghiệp, giảm thiểu chi phí sử dụng vốn, giảm thiểu
được rủi ro trong kinh doanh và rủi ro tài chính. Đây thực sự là những điều mà các
doanh nghiệp Việt Nam cần cân nhắc thận trọng khi lựa chọn phương thức huy động
vốn, vì đây là những nguyên tắc về kinh tế thò trường mà trước kia (trong điều kiện
kinh tế kế hoạch hoá tập trung) không hề có.
2
Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp luôn luôn có nhu cầu thường xuyên
tăng thêm nguồn vốn. Các doanh nghiệp phải cân nhắc giữa những cái lợi và bất lợi
của từng nguồn vốn. Sự lựa chọn được quyết đòïnh dựa trên sự đánh giá giữa “cái cần
thiết” và “ cái có thể”. Không có nguồn vốn nào chỉ toàn có mặt lợi. Đứng trước một
nhu cầu vốn để phát triển, doanh nghiệp nói chung có một số cách lựa chọn khác
nhau tuỳ theo điều kiện và quan điểm sử dụng tài chính của mỗi đơn vò.
Để tài trợ cho kế hoạch đầu tư lâu dài, một trong những kế sách doanh nghiệp
có thể tính đến là huy động vốn cổ phần. Hoạt động huy động vốn cổ phần thường
được đònh nghóa là phương thức được các công ty sử dụng nhằm huy động vốn đầu tư
dài hạn thông qua việc bán cổ phần (vốn chủ sở hữu) cho các nhà đầu tư bên ngoài,
thay vì các biện pháp huy động vốn truyền thống khác như vay ngân hàng, hay các
hình thức phi ngân hàng khác như phát hành trái phiếu công ty hay các hợp đồng thuê
tài chính.
Một số khái niệm cần làm rõ liên quan đến đònh nghóa trên.
1.1.1 Công ty cổ phần
Những công ty có thể bán vốn chủ sở hữu cho các nhà đầu tư bên ngoài chỉ có
thể là công ty cổ phần.
Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
• Vốn điều lệ của CTCP được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người
chủ sở hữu vốn cổ phần gọi là cổ đông. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ
phần.
• Công ty có thể phát hành nhiều loại cổ phần, trong đó phải có cổ phần phổ thông.
• Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường
hợp đó là cổ phần ưu đãi và cổ phần của cổ đông sáng lập công ty sau một thời gian
quy đònh phải nắm giữ kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Đặc điểm này của CTCP cho phép các nhà đầu tư có thể chuyển đổi hình thức
3
và mục tiêu đầu tư một cách linh hoạt và cổ phiếu của công ty có tính thanh khỏan
cao.
• Cổ đông chỉ chòu trách nhiệm về nợ và các nghóa vụ khác của công ty trong phạm
vi góp vốn của mình vào công ty (khác với tính chòu trách nhiệm vô hạn của các
thành viên trong công ty hợp danh, chủ doanh nghiệp trong doanh nghiệp tư nhân).
• Công ty được quyền phát hành chứng khóan ra công chúng. Đặc điểm này cho
thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn và rộng rãi trong công chúng.
• Cổ đông của CTCP tối thiểu phải là ba và không hạn chế số lượng tối đa (khác với
công ty TNHH là số thành viên không được vượt quá 50 thành viên). Trong quá trình
hoạt động, CTCP được quyền phát hành chứng khóan ra công chúng và các cổ động
có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình, vì vậy số lượng cổ đông của CTCP
thường rất đông.
Bằng những ưu thế của CTCP về phương thức huy động và sử dụng vốn, chỉ
trong thời gian rất ngắn hình thức CTCP đã vượt xa các hình thức khác về khả năng
tận dụng những nguồn vốn nhà rỗi trong xã hội. Có thể nói CTCP là hình thức tập
trung vốn mới, hiệu quả và tiến bộ hơn tất cả các hình thức doanh nghiệp khác. Chính
những ưu thế vượt trội này, CTCP trở thành mô hình phổ biến hiện nay ở các nước
phát triển. Nó được hình thành theo 3 phương thức huy động vốn:
• Hình thành CTCP bằng cách liên kết nguồn vốn trong nước.
• Hình thành bằng phương thức liên kết nguồn vốn trong và ngòai nước.
• Hình thức bằng phương pháp cổ phần hóa các doanh nghiệp (đây là hình thức mà
nước ta đang thực hiện trong khỏang hơn 10 năm trở lại đây).
Hoạt động huy động vốn dài hạn của CTCP được chủ yếu ở hai hình thức: quỹ
đầu tư mạo hiểm và phát hành cổ phiếu đại chúng (tham gia thò trường chứng khóan).
1.1.2 Hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm.
Đầu tư vốn mạo hiểm thường được coi là “đầu tư vốn cổ phần vào các công ty
vừa và nhỏ chưa niêm yết với sự tham gia của các nhà đầu tư ở mức độ nào đó vào
4
quá trình quản lý”
1
. Các nhà đầu tư vốn mạo hiểm cung cấp vốn – và thường là cả
các nguồn lực phi tài chính khác – vào công ty họ cho rằng có nhiều tiềm năng tăng
trưởng cao, với hi vọng đạt được lợi nhuận đầu tư cao từ đầu tư trực tiếp vào các công
ty “nhận vốn đầu tư” này.
Trong hầu hết các trường hợp, mục tiêu cơ bản của các nhà đầu tư vốn mạo
hiểm là tạo ra lợi nhuận đầu tư tối đa có thể, nên một công ty huy động vốn cổ phần
theo họat động đầu tư vốn mạo hiểm (công ty “nhận vốn đầu tư”) thường bò các nhà
đầu tư này kiểm soát tích cực và sát sao hơn nhiều so với vai trò thông thường của cổ
đông trong các CTCP tham gia thò trường chứng khoán. Đổi lại, các CTCP này được
cung cấp những hình thức giá trò gia tăng khác ngòai đầu tư về vốn như: trợ giúp công
ty nhân đầu tư trong việc xác đònh và đánh giá cơ hội kinh doanh mới và chiến lược
tăng trưởng; trợ giúp quản lý và đôi khi đào tạo đội ngũ lãnh đạo công ty; hoặc hỗ trợ
giúp việc thu hút các nhà đầu tư, các khách hàng và các nhà cung cấp khác, v.v…Vì
vậy, thỏa thuận đầu tư giữa các nhà đầu tư mạo hiểm và công ty nhận đầu tư có thể
coi là “quá trình tạo ra giá trò” thay vì đơn thuần rót vốn thông qua việc mua một số
cổ phiếu một cách bò động
2
. Do đó, hình thức đầu tư vốn mạo hiểm sẽ đặc biệt hấp
dẫn với những công ty còn thiếu những kinh nghiệm quý giá mà các nhà đầu tư mạo
hiểm thường cung cấp.
1.1.3 Phát hành cổ phiếu đại chúng.
Doanh nghiệp có thể huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư bằng cách phát hành
cổ phiếu để hình thành nguồn vốn dài hạn tài trợ cho sự phát triển của mình. Doanh
nghiệp cũng có thể tiến hành gia tăng vốn bằng hành việc phát hành cổ phiếu để kêu
gọi thêm sự tham gia của các cổ đông sáng lập với điều kiện các cổ đông này phải
sẵn có số vốn cần thiết và họ chấp nhận tham gia bổ sung vốn vào hoạt động của
doanh nghiệp.
1
Đònh nghóa lấy từ Venture Capital Journal (2001), Hướng dẫn về hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm ở
Châu Á 2001.
2
Xem Timmons, Jeffry A., New Venture Creation: Entrepreneurship for the 21st Century,1999
Irwin/McGraw-Hill, 1999, tr 437-448
5
Nhu cầu huy động vốn và thủ tục phát hành cổ phiếu đại chúng mở ra thò
trường sơ cấp (thò trường phát hành chứng khoán mới). Chính ở giai đoạn này vốn mới
trực tiếp đi vào doanh nghiệp. Nhưng nếu chỉ tới giai đoạn này thôi thì chưa đủ hấp
dẫn nguồn vốn của dân cư vì vốn của người đầu tư bò nằm chết một chỗ, khi họ cần
tiền hoặc không thích giữ tài sản đó nữa thì giải quyết như thế nào? Và như vậy khi
doanh nghiệp cần vốn sẽ chẳng ai cung cấp nữa. Thò trường thứ cấp sẽ giúp giải đáp
điều này. Khả năng thanh khoản của chứng khoán sẽ làm nó trở nên hấp dẫn hơn. Ở
thò trường thứ cấp, bên bán, bên mua đều hành động vì lợi ích riêng của họ (chứ
không phải của công ty niêm yết). Nếu trong đầu tư sản xuất kinh doanh, người ta
kiếm lợi trên sản xuất hàng hoá, thì trong mua bán thứ cấp ở thò trường chứng khoán,
sản phẩm để kinh doanh chính là chứng khoán. Nhờ thò trường thứ cấp, nhà đầu tư dễ
dàng thực hiện vòng quay vốn mà không cần dính sâu vào doanh nghiệp, quy nhanh
chứng khoán ra tiền lúc cần quyết đònh hay khi đổi ý kiến. Nhờ vậy chứng khoán trở
thành hàng hoá hấp dẫn và các doanh nghiệp có thể tiếp tục thu hút nguồn vốn dân cư
dễ dàng.
Có thể nói mục đích của phát hành đại chúng là huy động vốn để giúp công ty
phát triển thuyết phục và vững vàng, cho sản phẩm và thò trường tốt hơn, gia tăng giá
trò và thu nhập, đóng góp cho nền kinh tế phát triển và các ý nghóa xã hội khác.
Sự đăng ký tham gia thò trường chứng khoán của một công ty là một hoạt động
tài chính tế nhò, thể hiện một thời đoạn rất quan trọng trong đời sống của công ty. Đó
thực sự là một sự thay đổi quy mô của một doanh nghiệp, bởi một hoạt động của một
công ty có đăng ký ở bảng thò giá chứng khoán rất khác xa với hoạt động của một
doanh nghiệp có tính chất thuần tuý gia đình hoặc cá thể.
Có nhiều kỹ thuật tham gia: đăng ký tham gia thò trường chính thức, thò trường
OTC hoặc mặc nhiên tham gia thò trường phi chính thức, thò trường tự do tức không ghi
tên vào bảng thò giá chứng khoán. Trong mọi trường hợp, cơ chế đều đơn giản: những
cổ đông chủ chốt tham gia, với một giá và những điều kiện xác đònh, với một bộ phận
vốn sẵn có hoặc vốn có thể huy động được từ tiền tiết kiệm trong công chúng.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét