Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

cho vay tieu dungx

Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế phát triển, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì cơ
hội việc làm cũng như thu nhập của người dân tăng lên, đời sống của nhân dân
đang ngày càng được cải thiện rõ rệt. Vì vậy nhu cầu về tiêu dùng trong nền kinh
tế nói chung và người dân nói riêng ngày càng tăng cao. Đối với người dân có thu
nhập ổn định thì nhu cầu đó có thể là một căn hộ đầy đủ tiện nghi hay thậm chí là
một chiếc xe hơi đời mới. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhu cầu tiêu dùng của
người dân cũng được thoả mãn do có nhiều mặt hàng giá quá đắt so với thu nhập
của họ. Việc đáp ứng các nhu cầu này đòi hỏi một nguồn tài chính tương đối lớn.
Nhận thấy thực tiễn đó, một số ngân hàng đã và đang cố gắng nỗ lực tung ra
những chính sách cho vay tiêu dùng phù hợp với bản thân ngân hàng, phù hợp
với khách hàng mọi tầng lớp nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận và lợi ích khác cho
chính ngân hàng. Các ngân hàng đã liên tục phát triển và trở thành một trong
những tổ chức cấp tín dụng chính trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng. Một trong
những nguyên nhân cơ bản khiến cho ngành ngân hàng có được vị trí thống lĩnh
trên lĩnh vực này là các ngân hàng đã không ngừng khai thác nguồn tiền gửi của
dân cư và coi đây là nguồn vốn hoạt động quan trọng nhất. Nhiều người sẽ không
muốn gửi tiền vào một ngân hàng nếu họ không thấy được rằng mình sẽ có triển
vọng vay lại tiền từ chính ngân hàng đó khi có nhu cầu.
Mặt khác, tín dụng tiêu dùng là một trong những khoản mang lại lợi nhuận
nhiều nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên đây cũng là một dịch vụ cho vay mà chứa
đựng nhiều rủi ro và chi phí bỏ ra cao nhất vì thu nhập của người vay có thể thay
5
5
Chuyên đề tốt nghiệp
đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạng công việc, sức khoẻ của họ hay sự thay đổi vĩ
mô của nền kinh tế.
Ở Việt Nam, cạnh tranh mở rộng cho vay tiêu dùng là một hướng giúp các
ngân hàng phân tán rủi ro. Nếu như những năm trước đây, các ngân hàng tập
trung chủ yếu vào cho vay sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ thì thời gian gần
đây đã chú trọng cạnh trạnh mở rộng cho vay tiêu dùng. Đối tượng khách hàng
cho vay tiêu dùng chủ yếu là cán bộ công nhân viên, những người có thu nhập ổn
định…Mục đích vay là mua và sửa chữa nhà ở, mua xe máy, vay du học…
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam nói chung và Ngân hàng
thương mại cổ phần Hàng hải Quảng Ninh nói riêng đã và đang phát triển mạng
lưới cho vay tiêu dùng. Suốt gần 16 năm hoạt động tại Quảng Ninh, Ngân hàng
thương mại cổ phần Hàng hải Quảng Ninh đã đạt được nhiều thành công trong
hoạt động tín dụng trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, Ngân
hàng Hàng hải Quảng Ninh vẫn còn là một ngân hàng nhỏ bé nếu so với những
ngân hàng cổ phần khác và hoạt động cho vay tiêu dùng còn gặp nhiều khó khăn.
Sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải
Quảng Ninh, tìm hiểu về thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng của chi nhánh,
em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Hàng hải Quảng Ninh”.
Nội dung của đề tài gồm ba phần:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay tiêu dùng
của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
TMCP Hàng hải Quảng Ninh
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân
hàng TMCP Hàng hải Quảng Ninh
6
6
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. Ngân hàng thương mại cổ phần – Ngân hàng TMCP
2. Ngân hàng thương mại - NHTM
3. Ngân hàng Trung ương – NHTW
4. Ngân hàng Nhà nước – NHNN
5. Cho vay tiêu dùng – CVTD
6. Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải - MSB
7
7
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO
VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại (NHTM) và hoạt động cho vay của
NHTM
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của NHTM
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với sự phát triển của
nền sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát
triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở
thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Trước thế kỷ XV, người ta không thấy có cơ quan nào được xem như là một
ngân hàng thật sự; mãi đến nửa thế kỷ XVI ở châu Âu mới ra đời ngân hàng đầu
tiên. Trong thời gian đó, ngân hàng phát triển với tốc độ rất chậm, hoạt động của
ngân hàng rất hạn chế, chỉ bao gồm gửi và cho vay. Sau đó ngân hàng dần dần
từng bước phát triển, nhất là nửa sau thế kỷ XIX – song song với sự phát triển
kinh tế và thương mại.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng cũng được
cải thiện và nâng cao, chuyển hoá dần theo hướng đa năng. Tuy nhiên đến nay
cũng chưa có một khái niệm thống nhất nào về ngân hàng thương mại. Lý do là
có rất nhiều nhà kinh tế có quan điểm khác nhau, đứng trên giác độ khác nhau
nên mỗi người lại có định nghĩa không giống nhau. Mặt khác, các ngân hàng có
thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện
8
8
Chuyên đề tốt nghiệp
trong nền kinh tế. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên
phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo Luật
các tổ chức tín dụng của Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 thì: “Ngân
hàng là loại tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và hoạt động, các loại
hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát
triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
1.1.2 Chức năng của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Tầm quan trọng của NHTM được thể hiện rõ nét nhất qua các chức năng của
nó. Các chuyên gia kinh tế đã tượng trưng cho ngân hàng là trái tim của nền kinh
tế. Ngân hàng đã làm cho những nguồn vốn nhàn rỗi được khơi thông, đưa tiền từ
người thừa tiền đến người cần tiền, từ nơi thừa đến nơi thiếu giúp cho xã hội lưu
chuyển tiền tệ một cách hiệu quả hơn. NHTM trong nền kinh tế có các chức năng
sau:
1.1.2.1 Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sụ tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi
tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần
bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu
nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy
họ có tiền để tiết kiệm.
9
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.
Điều này tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai
cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính
giữa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một
lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng.
Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn.
Những chủ thể tạm thời thừa vốn sẽ là những người cho vay đầu tiên và
ngược lại là những chủ thể tạm thời thiếu vốn cũng sẽ là những người đi vay cuối
cùng của hệ thống tài chính. Trong nền kinh tế, có những cá nhân, tổ chức có nhu
cầu vốn vào các thời điểm khác nhau gây hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời.
Ngân hàng là người trung gian có vai trò huy động và tập trung các nguồn vốn
tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho
vay, đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…đảm bảo sự vận động
liên tục của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy trung gian tài
chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm,
đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu
tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư.
Một đóng góp khác của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản cho
vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rủi ro cho người gửi
tiền. Thực tế các ngân hàng tham gia vào kinh doanh rủi ro. Ngân hàng cũng thoả
mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả năng
thẩm định thông tin. Sự phân bổ không đồng đều thông tin và năng lực phân tích
thông tin được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu
quả của thi trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có
chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa
chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro - lợi nhuận hấp dẫn nhất.
10
10
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán
Tiền – vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán.
Các ngân hàng đã không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng tạo
phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ
do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh
toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã
tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim
loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế
tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền
giấy.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền
quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in)
tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài chính hoặc là Ngân hàng Trung ương
(NHTW). Từ đó chấm dứt việc các NHTM tạo ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để
có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại
lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (Mo),
thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân
hàng, thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì
hạn…
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc
cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham
gia tạo ra M1).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
11
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo
nên khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một
ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân
hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân
hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông
qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra
chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt
bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải
là tiền gửi thanh toán…
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Bên cạnh chức năng trung gian tài chính và tạo phương tiện thanh toán, các
NHTM còn thực hiện một chức năng quan trọng khác nữa là trung gian thanh
toán giữa các cá nhân, tổ chức hoặc đơn vị kinh tế trong xã hội. Việc làm trung
gian thanh toán của NHTM đã phát triển đến tầm mức đa dạng và hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều nhận thấy ngân hàng là trung tâm thanh toán lớn nhất
hiện nay. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá
và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân
hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ
nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối
các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện
thanh toán bù trừ với nhau thông qua NHTW hoặc thông qua các trung tâm thanh
toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử
dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại
qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi. Nhiều
hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh
toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân
12
12
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm
tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm
thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3 Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.3.1 Khái niệm và vai trò cho vay của NHTM trong nền kinh tế
Trong thực tế, thuật ngữ cho vay được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau ngay
cả trong quan hệ tài chính, tuỳ theo từng bối cảnh. Trong quan hệ tài chính, cho
vay có thể hiểu theo các nghĩa sau:
- Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ
thể thiếu hụt tiết kiệm thì cho vay được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ
người cho vay sang người đi vay.
- Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì cho vay là một
giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi
vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác); trong đó bên cho vay chuyển
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận,
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi
đến hạn thanh toán.
Cho vay (tín dụng) là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Ngay từ
khi mới bắt đầu, các NHTM đã luôn tìm kiếm các cơ hội để thực hiện việc cho
vay. Hình thức tín dụng truyền thống của NHTM là cho vay ngắn hạn có bảo đảm
bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên, nhiên, vật liệu; sau đó mở
rộng thành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng bất động sản,
bằng các chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế chấp. Các
NHTM lớn hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng từ cho vay (tiền)
ngắn, trung và dài hạn, bảo lãnh cho khách (để khách hàng có thể phát hành các
chứng khoán huy động vốn, mua hàng mà chưa cần trả tiền ngay, hoặc vay của
người thứ ba…), mua các tài sản để cho thuê…Đối với các NHTM Việt Nam thì
13
13
Chuyên đề tốt nghiệp
hoạt động cho vay đang là lĩnh vực chủ đạo chiếm tỷ trọng từ 70% - 80% doanh
thu.
Vai trò hoạt động cho vay của NHTM trong nền kinh tế bao gồm:
• Trong quá trình luân chuyển vốn của các doanh nghiệp thực hiện quá trình sản
xuất kinh doanh, hoạt động cho vay của ngân hàng đóng vai trò trung gian lúc
tạm thời thiếu vốn và trung gian để giải quyết vốn ứ đọng ở nơi này bù đắp sự
tạm thời thiếu hụt ở nơi khác. Trong phạm vi đó, hoạt động cho vay đóng vai trò
điều hoà vốn từ nơi tạm thời thừa vốn đến nơi thiếu vốn mà không làm tăng thêm
hay giảm bớt tổng thu nhập trong nền kinh tế.
• Hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Trong nền
kinh tế, doanh nghiệp chủ động chọn lĩnh vực đầu tư để mang lại hiệu quả cao
nhất nhưng trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế phải có sự cân đối trong cơ cấu kinh
tế giữa các vùng lãnh thổ, các ngành và trong nội bộ từng ngành kinh tế nhất là
những ngành kinh tế mũi nhọn, những ngành kém phát triển nhưng cần thiết cho
nền kinh tế. Thông qua chính sách tín dụng, lãi suất sẽ là đòn bẩy kích thích đầu
tư phát triển, góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế nói chung.
• Cho vay tác động đến chế độ hạch toán kinh tế. Các doanh nghiệp có sử dụng
phải trả lãi nên phải tính đúng, tính đủ, hạch toán kịp thời, tính toán giảm giá
thành, tăng vòng quay vốn, nâng cao chất lượng sử dụng vốn, lợi nhuận đầu tư
vào các ngành có lợi nhuận cao… giúp các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất
đúng đắn.
Có thể nói rằng, hoạt động cho vay của các NHTM có ý nghĩa quan trọng
đối với toàn bộ nền kinh tế. Nó giúp cho ngành công nghiệp có vốn mua trang
thiết bị, máy móc, dây chuyền công nghệ tiên tiến, quyền sở hữu công nghiệp…;
giúp cho người nông dân có khả năng mua hạt giống, thức ăn, phân bón…; các
sản phẩm sản xuất ra có thể được vận chuyển từ người sản xuất đến người tiêu
dùng nhờ sự tài trợ của ngân hàng đối với các xí nghiệp vận tải…
14
14

Xem chi tiết: cho vay tieu dungx


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét