Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Báo cáo tại Cty Việt á.

Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Có đủ tiền mặt có thể nắm bắt, tận dụng đợc các cơ hội trong
kinh doanh.
- Có tiền mặt chi trả, doanh nghiệp có thể đợc hởng chiết khấu
thanh toán. Tiền mặt còn dùng trong các chiến dịch quảng cáo,
marketing, khuyến mại
Công việc của nhà quản lý tài chính là giải bài toán để trả lời
câu hỏi: doanh nghiệp nên giữ một lợng tiền mặt bao nhiêu là hợp lý,
phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng thời kỳ?
* Các khoản đầu t tài chính ngắn hạn.
Chính vì tiền mặt là loại tài sản không sinh lời nên các doanh
nghiệp muốn duy trì một lợng tài sản có tính lỏng cao thờng đầu t
vào các loại chứng khoán ngắn hạn. Chứng khoán ngắn hạn bao gồm
tíns phiếu kho bạc và thơng phiếu ngắn hạn. Khác với tiền mặt việc
đầu t vào các chứng khoán ngắn hạn vẫn đảm bảo tính lỏng của tài
sản và còn đem lại thu nhập cho doanh nghiệp. với sự phát triển của
công nghệ thông tin hiện nay, các nhà tài chính có thể dễ dàng
chuyển đổi từ tiền mặt sang các loại chứng khoán ngắn hạn và ngợc
lại. Khi số tiền mặt trong két cao hơn mức cần thiết, các nhà tài
chính có thể bán bớt chứng khoán ngắn hạn thu tiền mặt, đáp ứng
yêu cầu sản xuất kinh doanh .
* Các khoản phải thu:
Đây là một trong những bộ phận quan trọng của TSLĐ. Khi
doanh nghiệp bán hàng hoá của mình cho các doanh nghiệp khác,
thông thờng ngời mua cha trả tiền ngay lúc giao hàng. Các hoá đơn
cha đợc thanh toán này thể hiện quan hệ tín dụng thơng mại và
chúng tạo nên khoản mục "phải thu khách hàng". Hình thức tín dụng
thơng mại này đang đợc sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế. Nó thể
hiện sự tin tởng lẫn nhau giữa ngời mua và ngời bán, tạo cơ sở cho
mối quan hệ làm ăn lâu dài. Qui mô của các khoản phải thu không
chỉ phụ thuộc vào qui mô của doanh nghiệp mà nó còn phụ thuộc vào
chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Thờng thì các doanh nghiệp
có tiềm lực tài chính sẽ dễ dàng bán chịu do đó sẽ đẩy mạnh khối l-
5
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
ợng sản phẩm tiêu thụ. Tuy nhiên yếu tố chính tác động đến chính
sác tín dụng thơng mại của các doanh nghiệp là tình hình cân bằng
cung - cầu về loại sản phẩm của các doanh nghiệp đó trên thị trờng
trong từng thời kỳ. Nếu trên thị trờng cung lớn hơn cầu tức là d thừa
hàng hoá thì bán hàng trả chậm cũng là một hình thức cạnh tranh rất
có hiệu quả, ngợc lại nếu thị trờng khan hiếm hàng hoá thì các nhà
cung cấp các nhà phân phối sẽ thắt chặt chính sách tín dụng thơng
mại để tăng nhanh tốc độ quay vòng vốn.
Do vậy nhiệm vụ của các nhà tài chính là đa ra quyết định có
nên bán chịu hay không? nên bán chịu cho những đối tợng nào? điều
khoản của việc bán chịu ra sao? Đây là những vấn đề hết sức khó
khăn vì nếu chỉ đa ra một quyết định sai lầm sẽ có ảnh hởng lớn tới
tình hình tài chính của doanh nghiệp, hình thành các khoản nợ dây d-
a khó đòi. Theo một số liệu thống kê của Bộ Tài Chính thì tổng số nợ
khó đòi giữa các doanh nghiệp Nhà nớc kể từ 30/4/1991 trở về trớc
lên tới 13.500 tỷ đồng đã đợc Nhà nớc "khoanh lại" còn sỗ nợ khó
đòi hình thành trong thời gian từ năm 1991 trở lại đây đã lên tới gần
200.000 tỷ đồng. Hiện nay Nhà nớc đang xem xét việc thành lập
"Công ty mua bán nợ" để giải quyết các khoản nợ giữa các doanh
nghiệp. Qua đó ta cũng thấy đợc tầm quan trọng của công tác quản
lý các khoản phải thu, nếu quản lý tốt, xác định đợc chính sách tín
dụng thơng mại hợp lý sẽ giữ đợc khách hàng, tăng số lợng sản phẩm
tiêu thụ nhng nếu quản lý không tốt sẽ dẫn đến tình trạng thất thoát
tài sản của doanh nghiệp.
Ngoài "phải thu khách hàng" doanh nghiệp còn có các khoản
phải thu khác nh thu tiền trả trớc cho ngời bán, thu nội bộ, nhng
chiếm tỷ trọng nhỏ, không làm ảnh hởng nhiều tới tình hình tài chính
doanh nghiệp.
* Dự trữ (tồn kho): là toàn bộ nguyên vật liệu chính, nguyên
vật liệu phụ, vật t, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá tồn tại
trong các kho của doanh nghiệp. ở đây ta chỉ xem xét lợng dự trữ
hợp lý, đảm bảo cho quá trình hoạt động bình thờng của doanh
nghiệp chứ không xem xét khía cạnh dự trữ bất đắc dĩ tức là sản
6
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
phẩm hàng hoá bị ứ đọng, không bán đợc, sản xuất bị ngng trệ. Quản
lý dự trữ là việc tính toán duy trì một lợng nguyên vật liệu, sản phẩm
dở dang, hàng hoá với cơ cấu hợp lý, đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh đợc liên tục và có hiệu quả. Nh ta đã biết, chi phí cho dự
trữ không chỉ bao gồm chi phí đặt hàng, chi phí lu kho, trông nom
bảo quản mà còn có cả chi phí cơ hội của vốn. Tuy nhiên việc dự trữ
nhiều hàng hoá nhiều khi mang lại lợi ích lớn hơn là đem tiền đầu t
chứng khoán ngắn hạn khi thị trờng trở lên khan hiếm loại hàng hoá
mà doanh nghiệp đang dự trữ khi đó doanh nghiệp sẽ không bị bỏ lỡ
cơ hội trong kinh doanh mà còn củng cố uy tín của doanh nghiệp
trên thị trờng.
* Tài sản lu động khác.
Đây là những bộ phận tài sản lu động của doanh nghiệp không
thuộc các nhóm trên nh tạm ứng chi phí trả trớc, chi phí chờ kết
chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản ký cợc ký quĩ
1.3. Các chính sách tài trợ cho TSLĐ:
Các nguồn tài trợ do TSLĐ có thể là tất cả các khoản mục bên
"nguồn vốn" của bảng cân đối kế toán. ở đây ta có thể tạm chia
thành các nguồn tài trợ dài hạn và các nguồn tài trợ ngắn hạn.
* Các nguồn tài trợ dài hạn gồm có:
- Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn của các chủ sở hữu doanh
nghiệp, nó bao gồm vốn pháp định (liên doanh, cổ phần, vốn ngân
sách) và vốn tự bổ sung trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
- Vay dài hạn: các khoản vay ngân hàng hoặc phát hành trái
phiếu Tỷ trọng của các nguồn vốn trong chính sách tài trợ TSLĐ
bằng các nguồn tài trợ dài hạn gọi là cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Để sử dụng các nguồn vốn này, chúng ta hãy xem xét chi phí sử
dụng vốn của từng loại: khi sử dụng vốn chủ sở hữu, các doanh
nghiệp phải trả cổ tức cho cổ đông (đối với công ty cổ phần), chia lợi
nhuận cho các bên liên doanh (đối với công ty liên doanh), trả các
khoản thu sử dụng vốn (đối với các doanh nghiệp Nhà nớc). Còn nếu
7
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
sử dụng vay dài hạn doanh nghiệp phải chi trả lãi vay hay còn gọi là
chi phí vốn vay, lãi tiền vay là một khoản chi phí trớc thuế.
- Ưu điểm: chính sách tài trợ dài hạn có đặc điểm là tính ổn
định cao, trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, doanh
nghiệp không phải chịu sức ép trả nợ ngay, tránh đợc việc phải bán
rẻ sản phẩm hoặc phải vay ngắn hạn để trả nợ.
- Nhợc điểm: chi phí sử dụng vốn cao hơn các nguồn tài trợ
ngắn hạn.
Tuy nhiên trong thực tế quản lý tài chính hiếm khi các doanh
nghiệp sử dụng các nguồn tài trợ dài hạn để tài trợ cho TSLĐ. Chính
sách tài trợ này chỉ đợc các doanh nghiệp sử dụng nếu mới đi vào
hoạt động và chủ yếu đối với các doanh nghiệp kinh doanh thơng
mại (có TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn).
* Nguồn tài trợ ngắn hạn:
- Tín dụng thơng mại: đây là khoản tín dụng đợc hầu hết các
doanh nghiệp tận dụng một cách triệt để, nó còn đợc gọi là tín dụng
nhà cung cấp. Các khoản tín dụng thơng mại đợc hình thành một
cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua hàng trả chậm.
Nguồn vốn tín dụng thơng mại có ảnh hởng hết sức to lớn không chỉ
với các doanh nghiệp mà đối với toàn bộ nền kinh tế. ở nhiều doanh
nghiệp, nguồn vốn tín dụng thơng mại dới dạng các khoản nợ phải
trả có thể chiếm tới 30-40% tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
Tín dụng thơng mại là một phơng thức tài trợ tiện lợi và linh
hoạt trong kinh doanh mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng quan
hệ hợp tác kinh doanh lâu bền. Thời hạn của tín dụng thơng mại đợc
qui định cụ thể trong hợp đồng mua bán, do đó điều quan trọng nhất
khi sử dụng tín dụng thơng mại là luôn phải đảm bảo khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp tránh nhữgn rủi ro có
thể xảy ra khi sử dụng tín dụng thơng mại đợc vợt quá khả năng
thanh toán của doanh nghiệp.
8
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Sử dụng nguồn vốn tín dụng thơng mại không phải là không có
chi phí. Khi mua hàng trả chậm, thờng thì ngời mua phải chấp nhận
mức giá cao hơn so với mua thanh toán ngay. Trong thực tế hiện nay,
tín dụng thơng mại rất đợc a thích vì nó là một nguồn tài trợ ngắn
hạn có chi phí thấp, thủ tục đơn giản hơn nhiều so với vay ngân
hàng. Đây là một nguồn tài trợ phù hợp để tài trợ cho TSLĐ, tuy
nhiên sử dụng tín dụng thơng mại tài trợ cho TSLĐ ở mức độ nào là
nhiệm vụ của các nhà tài chính, tuỳ theo tình hình tài chính của
doanh nghiệp ở từng thời điểm.
- Tín dụng ngân hàng: một trong những nguồn tài trợ khá quan
trọng cho TSLĐ là vay ngắn hạn tại các Ngân hàng thơng mại. Các
ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp với các thời
hạn đa dạng từ vài tháng tới một năm, khối lợng cho vay phụ thuộc
vào nhu cầu và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đối với TSLĐ
là những tài sản thờng có thời gian quay vòng dới một năm nên dùng
vay ngắn hạn để tài trợ cho TSLĐ là rất phù hợp. Tuy nhiên nó
không đợc a thích bằng "tín dụng thơng mại" do chi phí cao hơn và
thủ tục phức tạp hơn. Để vay đợc tiền ở Ngân hàng thơng mại, các
doanh nghiệp phải lập bộ "hồ sơ xin vay vốn" ít nhất gồm có đơn xin
vay và phơng án sản xuất kinh doanh. Phơng án trả nợ, sau khi các
cán bộ ngân hàng thẩm định xong hồ sơ thì doanh nghiệp mới có thể
vay đợc vốn. Các thủ tục bắt buộc này cộng với một số yếu tố khác
gây chậm trễ, nhiều khi làm mất đi cơ hội kinh doanh của doanh
nghiệp.
2. Nội dung quản lý tài sản lu động:
2.1. Quản lý vốn bằng tiền và các khoản đầu t tài chính ngắn
hạn:
Quản lý tiền ở đây đề cập tới tiền trong két của doanh nghiệp
và tiền gửi ngắn hạn tại các ngân hàng. Vì lợng tài sản này hầu nh
không sinh lãi nên các doanh nghiệp đều muốn duy trì lợng tiền ở
mức thấp nhất có thể. Nhng tiền mặt lại rất cần thiết cho các hoạt
động hàng ngày của doanh nghiệp nh thanh toán cho nhà cung cấp,
trả lợng, tạm ứng do đó nhiệm vụ đặt ra cho các nhà quản lý tài
9
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
chính là làm sao duy trì một lợng tiền mặt hợp lý nhất vừa tránh lãng
phí vốn vừa đảm bảo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp.
Quản lý tiền mặt có liên quan chặt chẽ đến quản lý các khoản
đầu t tài chính ngắn hạn, đặc biệt là các loại chứng khoán có tính
thanh khoản cao. Các loại chứng khoán này có thể là tín phiếu kho
bạc, thơng phiếu chúng có khả năng chuyển đổi ra tiền mặt một
cách dễ dàng và ngợc lại, chi phí chuyển đổi nhỏ nên trong quản trị
tài chính ngời ta sử dụng chứng khoán có tính thanh toán cao để duy
trì tiền mặt ở mức mong muốn. Trong thực tế sản xuất kinh doanh
dòng tiền vào ra tại doanh nghiệp hầu nh chẳng theo qui luật nào cả.
Tuy nhiên, các nhà tài chính học đã đa ra công thức tính lợng tiền
mặt tối u của doanh nghiệp trong năm nh sau:
Q =
Mô hình dự trữ tiền mặt này chỉ hoạt động tốt trong điều kiện
doanh nghiệp dự trữ tiền mặt một cách đều đặn. Nhng điều này
không thờng xảy ra trên thực tế. Có thể trong một vài tuần nào đó
doanh nghiệp thu đợc một số tiền từ các hoá đơn bán hàng và vì vậy
nó có thêm một khoản thu thuần tuý bằng tiền mặt, cũng có thể trong
một vài tuần khác doanh nghiệp phải trả cho ngời bán và lợng tiền
mặt đột nhiên giảm đi.
Các nhà kinh tế và khoa học quản lý đã xây dựng các mô hình
phù hợp hơn với thực tế, tức là các mô hình này có tính đến cả những
khả năng tiền ra vào ngân quỹ.
= 3 x
Mô hình này chỉ ra rằng nếu doanh nghiệp luôn luôn duy trì đ-
ợc mức cân đối tiền mặt theo nh thiết kế ban đầu thì doanh nghiệp sẽ
tối thiểu hoá đợc chi phí giao dịch và chi phí do lãi suất gây ra.
Để sử dụng mô hình này cần tiến hành các bớc.
10
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Bớc thứ nhất: doanh nghiệp cần phải xác định giới hạn dới của
cân đối tiền mặt, giới hạn dới có thể bằng 0 và có thể lớn hơn 0 để
đảm bảo mức an toàn tối thiểu.
Bớc thứ hai: doanh nghiệp cần phải ớc tính phơng sai của thu
chi ngân quĩ. Chẳng hạn có thể dựa vào thu chi ngân quĩ của 100
ngày trớc đo để tính toán phơng sai cho mẫu gồm 100 ngày này.
Việc chọn mẫu tuỳ theo loai hình doanh nghiệp mà xác định, nếu
doanh nghiệp sản xuất theo mùa thì cần phải chọn mẫu theo từng
mùa đặc thù.
Bớc thứ ba: quan sát lãi suất và chi phí giao dịch của mỗi lần
mua và bán chứng khoán.
Bớc thứ t: tính toán giới hạn trên và mức tiền mặt theo thiết kế
đồng thời đa ra những thông tin để các nhân viên tài chính thực hiện
chiến lợc kiểm soát tiền mặt theo mô hình Miller - Orr. Nếu lợng
tiền mặt ở mức thấp nhất (giới hạn dới) thì doanh nghiệp phải bán
chứng khoán ngắn hạn để bổ sung vào tiền mặt cho đủ mức dự kiến
ngợc lại khi tiền mặt bằng hoặc vợt giới hạn trên thì doanh nghiệp
mua chứng khoán ngắn hạn.
Khoảng dao động của mức cân đối tiền mặt phụ thuộc vào 3
yếu tố.
- Mức do động của thu chi ngân quĩ hàng ngày lớn hay nhỏ. Sự
dao động này thể hiện ở phơng sai của thu chi ngân quĩ. Phơng sai
của thu chi ngân quĩ là tổng các bình phơng (độ chênh lệch) của thu
chi ngân quĩ thực tế và thu chi bình quân. Phơng sai càng lớn thì thu
chi ngân quĩ thực tế càng có xu hớng khác biệt so với thu chi bình
quân. Khi đó doanh nghiệp cũng sẽ qui định khoảng dao động tiền
mặt cao.
- Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán, khi chi phí
này lớn ngời ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoảng dao
động của tiền mặt cũng lớn hơn.
11
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ ít tiền mặt và do
đó khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống.
Tóm lại tiền mặt là tài sản sinh lời thấp, chứng khoán ngắn hạn
có tính thanh khoản cao nên lợi tức đem lại cũng nhỏ hơn so với các
loại chứng khoán dài hạn. Do đó tổng số tiền mặt và chứng khoán
ngắn hạn chỉ nên giữ một lợng vừa đủ đảm bảo khả năng thanh toán
của doanh nghiệp.
2.2. Quản lý dự trữ:
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, tài sản dự trữ chiếm tỷ
trọng khá lớn khoảng 50 - 70% giá trị TSLĐ, do đó quản lý dự trữ có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài
sản lu động. Khi doanh nghiệp dự trữ hàng hoá sẽ liên quan tới hàng
loạt chi phí nh chi phí bốc xếp, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm,
chi phí bảo quản, những chi phí này đợc chia ra:
* Chi phí lu kho (chi phí tồn trữ) đây là những chi phí liên
quan tới việc tồn trữ hàng hoá, chúng bao gồm:
- Chi phí hoạt động: chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo
hiểm hàng hoá, chi phí do hao hụt mất mát, chi phí bảo quản,
- Chi phí tài chính: chi phí sử dụng vốn nh trả lãi tiền vay,
thuế, khấu hao,
* Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch và vận
chuyển hàng hoá. Chi phí đặt hàng thờng là chi phí cố định, không
phụ thuộc vào khối lợng mỗi lần đặt hàng. Do đó vấn đề đặt ra là khi
nào thì bắt đầu tiến hành đặt hàng và khối lợngcủa mỗi lần đặt hàng
là bao nhiêu để cho tổng chi phí dự trữ hàng hoá là thấp nhất.
Điểm đặt hàng: trong thực tiễn hoạt động, doanh nghiệp không
khi nào đợi hết nguyên vật liệu trong kho thì mới tiên hành đặt hàng,
vì nh vậy sẽ làm cho sản xuất bị gián đoạn. Vậy thì khi nào bắt đầu
đặt hàng là thích hợp, tránh tình trạng ứ hàng trong kho gây lãng phí,
tăng chi phí lu kho. Điểm đặt hàng ở đây chính là khối lợng nguyên
vật liệu còn tồn kho phải đủ để sử dụng cho tới khi lô hàng mới về.
12
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Điểm đặt hàng =
Lợng dự trữ an toàn: khối lợng nguyên vật liệu sử dụng, hàng
hoá tiêu thụ mỗi ngày không phải là con số cố định mà thay đổi hàng
ngày, thay đổi theo mùa vụ. Do đó để đảm bảo sự ổn định của quá
trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải duy trì một lợng
hàng hoá tồn kho. Khối lợng hàng hoá dự trữ an toàn phụ thuộc vào
tình hình sản xuất cụ thể của doanh nghiệp. Lợng dự trữ an toàn này
đợc cộng thêm vào "Điểm đặt hàng" để xác định thời điểm đặt hàng
thực sự.
2.3 Quản lý các khoản phải thu.
Để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, các doanh nghiệp
đều muốn tiêu thụ càng nhiều hàng hoá càng tốt. Để tăng lợng sản
phẩm tiêu thụ, ngoài các yếu tố nh chất lợng sản phẩm, giá cả, quảng
cáo, thì điều kiện thanh toán cũng là một yếu tố có tính cạnh tranh
cao trên thị trờng. Tất nhiên, trong kinh doanh thì bán hàng thu tiền
ngay là điều mà bất cứ chủ doanh nghiệp nào cũng mong muốn nhng
trong điều kiện thị trờng cạnh tranh quyết liệt nh hiện nay thì việc
phải cấp "Tín dụng thơng mại" cho khách hàng là điều không thể
tránh khỏi nếu muốn bán đợc hàng. Do đó mục tiêu của các doanh
nghiệp là làm sao bán đợc nhiều hàng nhất chứ không phải là bán
hàng thu tiền ngay. Vấn đề đặt ra là nên bán chịu cho những đối tợng
nào và quản lý các khoản phải thu này nh thế nào.
Quản lý các khoản phải thu tốt tức là doanh nghiệp phải đa ra
chính sách tín dụng thơng mại hợp lý, các điều kiện ràng buộc giúp
doanh nghiệp có thể nhanh chóng thu hồi đợc tiền hàng, giảm số
ngày thu tiền bình quân, hạn chế lợng vốn bị khách hàng chiếm
dụng, tạo điều kiện mua sắm đầu t cho chu kỳ sản xuất tiếp theo.
2.3.1 Nội dung chính sách tín dụng thơng mại.
* Các điều khoản bán hàng: Để bán hàng hoá, doanh nghiệp
cần phải có những điều khoản bán hàng cụ thể trong đó thể hiện các
yếu tố:
- Thời kỳ cấp tín dụng thơng mại (còn gọi là thời kỳ tín dụng)
13
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Chiết khấu tiền mặt và thời kỳ chiết khấu
- Loại công cụ tín dụng thơng mại
Thời kỳ tín dụng thơng mại là khoảng thời gian mà doanh
nghiệp cho khách hàng chịu tiền. Thời hạn này dao động trong
khoảng thời gian từ 30 ngày đến 150 ngày. Nếu trong điều khoản bán
hàng có đề nghị chiết khấu tiền mặt thì thời kỳ tín dụng thơng mại sẽ
gồm hai phần: thời kỳ tín dụng thơng mại thuần tuý và thời kỳ chiết
khấu tiền mặt.
Thời kỳ tín dụng thơng mại thuần tuý là thời hạn tối đa cho
khách hàng nợ, hết thời gian này, khách hàng bắt buộc phải trả tiền.
Thời kỳ này bắt đầu kể từ khi doanh nghiệp viết hoá đơn bán hàng
cho khách hàng.
Thời kỳ chiết khấu tiền mặt: là khoảng thời gian do ngời bán
qui định, nếu ngời mua thanh toán tiền hàng trong khoảng thời gian
này thì sẽ đợc hởng một tỷ lệ % nhất định trên tổng giá trị thanh
toán.
VD: 2/10 toàn bộ 30 có nghĩa là khách hàng đợc quyền nợ tối
đa 30 ngày trong đó 10 ngày đầu là khoảng thời gian chiết khấu nếu
khách hàng thanh toán trong vòng 10 ngày sẽ đợc hởng một khoản
chiết khấu 2% trên tổng giá trị lô hàng.
Chiết khấu tiền mặt là một biện pháp quản lý "các khoản phải
thu". Mục đích của chiết khấu tiền mặt là để hỗ trợ cho chính sách
tín dụng thơng mại của doanh nghiệp, trong khi vẫn cho khách hàng
chịu tiền để tiêu thụ đợc sản phẩm thì chiết khấu tiền mặt lại thúc ép
khách hàng trả tiền nhanh để đợc hởng giá trị chiết khấu. Mức lãi
suất chiếu khấu đợc hởng thoạt trông có vẻ là nhỏ nhng lãi suất tơng
đơng năm của nó lại rất lớn, đủ cho mọi khách hàng phải quan tâm
(trong ví dụ trên lãi suất chiết khấu qui đổi ra lãi suất tơng đơng là
37%/năm).
Mặt khác thiết khấu tiền mặt còn giúp cho doanh nghiệp có thể
định giá cao hơn đối với những khách hàng muốn kéo dài thời gian
trả tiền.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét