Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 4
đề cũ và mới (Viện Thông tin Khoa học Xã hội, 1999); Hoạch định chính
sách trên chiến tuyến, Chung Yum Kim (Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam,
2000); Leco - Geographicet lame nagemet du milien Naturel (Jean Tricart,
Jean Kilian, Pari 1999); Agro - ecosystem analysis Agricultural
Alministeration (Conway G.R. 1985).v.v
Số lợng những tài liệu nớc ngoài về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn là rất lớn. Song những tài liệu này hoặc là đa ra những lý
luận chung, chỉ tiêu chung cho các nớc trên thế giới, hay một số nhóm
nớc, cho một khu vực của thế giới; hoặc là nghiên cứu của một nớc, một
vùng có điều kiện cụ thể về tự nhiên, xã hội, về chế độ chính trị đặc thù riêng
biệt.
Do vậy, không có chính sách áp dụng chung cho tất cả các nớc vì thế mỗi
nớc phải tự nghiên cứu, tìm tòi con đờng để đi lên công nghiệp hoá, hiện
đại hoá trong nông nghiệp nông thôn, phù hợp hoàn cảnh, điều kiện, chế độ
chính trị của nớc mình.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nớc
- Việt Nam là nớc nông nghiệp trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nớc và
giữ nớc. Có thể thấy rằng triều đại nào có chính sách tốt để thúc đẩy sự
phát triển nông nghiệp, quan tâm đến đời sống của nông dân, triều đại đó
hng thịnh, đất nớc phồn vinh (ví nh để phát triển sản xuất, mở mang đất
đai, Vua Lý đã cùng dân cày ruộng; Bộ Luật Hồng Đức thời Lê - thế kỷ 15
có nhiều nội dung là chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp, do vậy thời
Lê là một trong những thời hng thịnh nhất trong lịch sử nớc ta).
- Từ khi giành đợc chính quyền năm 1945, xây dựng nhà nớc "công nông"
là nhà nớc "của dân, do dân, vì dân", Đảng và Nhà nớc đã có những chủ
trơng, chính sách để phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống
của nông dân. Chính khẩu hiệu "ngời cày có ruộng" đã là động lực thúc đẩy
hàng triệu nông dân đứng lên giành chính quyền, bảo vệ chính quyền xây
dựng nên nhà nớc công nông đầu tiên trong lịch sử nớc ta. Trong kháng
chiến với lời hiệu triệu đI vào lịch sử là "ruộng đất là chiến trờng, cuốc cày
là vũ khí, nhà nông là chiến sỹ, hậu phơng thi đua với tiền phơng" nên chúng
ta đã kháng chiến thắng lợi.
Sau khi miền Bắc đợc giải phóng năm 1954, Đảng và Chính phủ đã có
nhiều chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn, góp phần thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lợc của cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc, giải phóng miền Nam để thống nhất đất nớc. Miền Bắc đã làm tròn
nhiệm vụ của hậu phơng lớn đối với tiền tuyến lớn, sản xuất nông nghiệp đã
trải qua những bớc thăng trầm nhng nhìn chung đảm bảo chi viện sức
ngời, sức của cho tiền tuyến. Kết quả sản xuất lơng thực ở thời kỳ này đã
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 5
cung cấp cho lực lợng vũ trang ăn no, đánh thắng. Diện tích, sản lợng các
loại cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm có bớc phát
triển, kết quả sản xuất nông nghiệp còn góp phần quan trọng cho việc thực
hiện chính sách hậu phơng của Đảng và Nhà nớc, thống nhất đất nớc, cả
nớc đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Từ năm 1975 đến nay, đặc biệt quan trọng nhất là Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị tháng 8/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, giao quyền
tự chủ sản xuất cho hộ nông dân, cho lu thông lơng thực, giải phóng sức
sản xuất, giải quyết thoả đáng các mối quan hệ sản xuất và lợi ích của nông
dân, nông nghiệp đã có bớc phát triển to lớn, bộ mặt nông thôn có nhiều
thay đổi.
Phải nói rằng Nghị quyết 10 là động lực, cùng với hệ thống chính sách nông
nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới đã thúc đẩy nông nghiệp phát triển
mạnh mẽ và đã giành đợc thành tựu quan trọng. Sản xuất nông nghiệp của
cả nớc đã tăng trởng nhanh và toàn diện, cung cấp cho nhân dân các loại
lơng thực, thực phẩm với số lợng dồi dào, chủng loại phong phú và giá rẻ,
tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện rõ rệt đời sống của nông dân, góp phần
quan trọng làm ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nớc.
Trớc khi có Nghị quyết 10 hàng năm nớc ta phải nhập khẩu bình quân nửa
triệu tấn lơng thực, năm cao nhất trên 1 triệu tấn. Sau khi có Nghị quyết 10,
từ năm 1989 đến nay bình quân nớc ta xuất khẩu một năm gần 3 triệu tấn,
tạo ra nhiều vùng chuyên canh, sản xuất hàng hoá xuất khẩu, có sản lợng
lớn: cà phê, cao su, chè, lạc, hồ tiêu, điều Giá trị xuất khẩu nông lâm sản
tăng từ 587 triệu USD (1988) lên 4300 triệu USD (2000). Hàng xuất khẩu
nông sản chiếm gần 50% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp, điều này
không một nớc nào làm đợc.
- Tuy nhiên cho đến nay nông nghiệp, nông thôn của nớc ta đứng trớc khó
khăn và những vấn đề mới đặt ra:
z
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đất canh tác ít, ngành nghề kém phát
triển, lao động d thừa nhiều và hàng năm tăng nhanh, còn nhiều tiềm năng
nông nghiệp cha đợc khai thác.
z
Sản xuất phân tán manh mún, trình độ công nghệ trong nhiều lĩnh vực nông
lâm nghiệp lạc hậu, công nghiệp chế biến kém phát triển. Khả năng cạnh
tranh của nông sản thấp, giá thành cao, tiêu thụ sản phẩm là mối lo thờng
xuyên của nông dân và nhà nớc.
z
Cơ sở hạ tầng nông thôn còn yếu kém và cha đáp ứng đợc yêu cầu của
một nền nông nghiệp hàng hoá sản xuất lớn. Vẫn còn 348 xã cha có đờng
ô tô đến xã, 50% đờng xã, 30% đờng huyện và đờng nông thôn ở vùng
cao miền núi đi lại khó khăn. Cơ sở hạ tầng phục vụ thơng mại nh chợ,
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 6
cửa hàng, kho tàng bến bãi và phơng tiện giao thông phục vụ bán buôn còn
thiếu.
z
Quan hệ sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng dẫn đến
trì trệ, hiệu quả hoạt động các tổ chức kinh tế thấp.
z
Chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn có xu hớng doãng ra, tình
trạng nghèo đói ở nông thôn vẫn diễn ra thờng xuyên, nghiêm trọng nhất là ở
miền núi, vùng sâu, vùng xa.
z
Quản lý nhà nớc trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn còn có
những yếu kém, tình trạng thiếu dân chủ còn diễn ra ở một số vùng nông
thôn.
- Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là một số chính
sách của nhà nớc đã đáp ứng tốt yêu cầu những năm đầu của quá trình đổi
mới nay không còn phù hợp với nền sản xuất hàng hoá quy mô lớn, hớng
mạnh ra xuất khẩu. Nâng cao nhanh thu nhập và đời sống của nông dân, xây
dựng nền nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh, nhất là chính sách về
đất đai, chính sách đầu t và tín dụng, chính sách về các thành phần kinh tế,
về phát triển khoa học và công nghệ nông thôn, về xoá đói giảm nghèo,
chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực, chính sách về thị trờng tiêu
thụ nông sản .v.v
Trong quá trình đổi mới, ở nớc ta đã có nhiều cơ quan, nhiều cán bộ lãnh
đạo, nhiều nhà khoa học, quản lý, tổ chức và chỉ đạo sản xuất nghiên cứu về
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Tuy vậy cho đến
nay cha có công trình nghiên cứu tổng hợp về cơ sở khoa hoc để xây dựng
tiêu chí, bớc đi, cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần
thứ IX đã chỉ rõ: trong nhiều năm tới vẫn coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp và nông thôn là trọng điểm, cần tập trung chỉ đạo và các nguồn
lực cần thiết, tiếp tục phát triển mạnh và đa nông lâm nghiệp lên một trình
độ mới.
Từ một nền nông nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ, lạc hậu, nông thôn kém
phát triển đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần thiết phải có hệ thống
chính sách phù hợp là động lực thúc nông nghiệp và nông thôn phát triển,
xác định rõ những tiêu chí của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đề ra kế
hoạch để thực hiện có tính khả thi cao. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bớc đi, cơ
chế chính sách trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn".
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 7
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề xuất cơ sở khoa học để xây dựng định hớng, tiến trình và một số chính
sách trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Xác định cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bớc đi cơ chế chính sách
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Đề
xuất một số chính sách, các chỉ tiêu, kế hoạch, xây dựng mô hình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Phân tích đánh giá hệ thống chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông
thôn đã ban hành, rút ra u điểm, nhợc điểm của hệ thống chính sách trong
từng thời kỳ.
3. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp thống kê: tổng hợp số liệu, tài liệu. áp dụng phơng pháp này
để thống kê các chính sách chủ yếu có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn
từ năm 1975 đến nay, sắp xếp theo từng thời kỳ, cùng với việc tổng hợp các
số liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn của từng thời kỳ (áp dụng phần
mềm FOXPRO và STATA để phân tích số liệu).
- Phơng pháp điều tra, khảo sát thực tế: áp dụng phơng pháp PRA, đây là
phơng pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của ngời dân đảm
bảo tính khoa học, chính xác, dân chủ trong việc đánh giá và xây dựng chính
sách.
- Phơng pháp phân tích lựa chọn chính sách: áp dụng mô hình PAM (Policy
Analysis Matrix). Nội dung chính của mô hình là nghiên cứu phân tích hệ
thống sản xuất nông nghiệp theo chu trình: đầu t - sản xuất - vận chuyển -
chế biến - thị trờng tiêu thụ sản phẩm, tìm mối liên quan trong từng công
đoạn với nhau để xác định đợc hệ thống chỉ tiêu: hiệu quả đầu t, lợi
nhuận, bảo vệ sản xuất, trợ giúp sản xuất và hiệu quả kinh tế của chính sách
tác động đến hệ thống sản xuất từ đó lựa chọn chính sách phù hợp.
- Phơng pháp chuyên gia, chuyên khảo: tổ chức phát phiếu lấy ý kiến các
chuyên gia đầu ngành về nội dung, tiêu chí, bớc đi của đề tài; tổ chức hội
thảo, trao đổi, thảo luận với các nhà lãnh đạo, khoa học, tổ chức, quản lý, chỉ
đạo sản xuất và nông dân ở trung ơng và địa phơng.
- Phơng pháp quy nạp: áp dụng phơng pháp này để lựa chọn chính sách,
tiêu chí, bớc đi đảm bảo tính khoa học và thực tiễn.
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 8
II. Lý thuyết, lịch sử phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1. Công nghiệp hoá
Công nghiệp hoá là một cuộc đại phân công lao động xã hội, kèm theo là
một quá trình di chuyển, chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế. Quá trình
chuyển xã hội từ xã hội nông nghiệp chậm phát triển sang xã hội công
nghiệp phát triển diễn ra trên cơ sở của 2 tiến trình cơ bản: tiến trình thị
trờng hoá và tiến trình công nghiệp hoá. Cùng với quá trình này là quá
trình đô thị hoá, trong thời đại hiện nay sự phát triển còn diễn ra với quá
trình hiện đại hoá. Dới tác động của những tiến trình này, quá trình công
nghiệp hoá là một sự chuyển biến sâu sắc mang tính cách mạng trong
phơng thức sản xuất, trong cách thức tổ chức kinh tế xã hội và cả lối sống
của con ngời. Trong sự chuyển biến này, mức sản xuất tăng lên mạnh mẽ,
xã hội trở nên giàu có, kèm theo là sự thay đổi trong t duy, trong tâm linh
và văn hoá.
Nó chính là quá trình cải biến nền kinh tế nông nghiệp dựa trên kỹ thuật thủ
công mang tính hiện vật, tự cấp tự túc thành nền công nghiệp - thị trờng.
Đây cũng là quá trình xây dựng một xã hội văn minh công nghiệp. Cải biến
kỹ thuật, tạo dựng nền công nghiệp lớn (khía cạnh vật chất, kỹ thuật) và
phát triển kinh tế thị trờng (khía cạnh cơ chế thể chế) là hai mặt của một
quá trình công nghiệp hoá.
Những đặc trng chủ yếu của quá trình công nghiệp hoá là:
1.1. Về mặt phơng thức sản xuất
Với máy móc trong công nghiệp đã làm đảo lộn tận gốc kỹ thuật của
phơng thức sản xuất cổ truyền. Nói khác đi máy móc đã tự xác lập thành
một phơng thức sản xuất mới: phơng thức sản xuất công nghiệp. Máy
móc trong quá trình sản xuất đã trở thành phơng tiện cơ bản, mạnh mẽ để
giải phóng sức sản xuất của con ngời và nhờ đó tăng vô hạn độ sức sản
xuất lên. Với máy móc, nền sản xuất xã hội thực sự đợc đặt vào quá trình
tăng trởng kinh tế, làm cho tăng trởng kinh tế trở thành một tất yếu kỹ
thuật.
1.2. Quá trình công nghiệp hoá
Là quá trình xác lập sản xuất lớn "trong sự hiệp tác giản đơn và ngay cả
trong sự hiệp tác đặc biệt do sự phân công lao động xã hội đẻ ra, việc ngời
công nhân cá biệt bị ngời công nhân xã hội hoá chèn lấn còn ít nhiều có
tính chất ngẫu nhiên. Còn máy móc - trừ một vài ngoại lệ sau này chúng ta
nói đến thì chỉ hoạt động trong bàn tay của lao động đã trực tiếp xã hội hoá,
hay lao động chung mà thôi. Do đó, tính chất hiệp tác của quá trình lao
động ở đây đã trở thành một tất yếu kỹ thuật, do bản chất của chính ngay t
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 9
bản quyết định"
1
. Nh vậy với máy móc sản xuất lớn đã đợc xác lập, thành
một tất yếu của chính ngay máy móc .
1.3. Nói chung về phơng thức sản xuất
, cách mạng công nghiệp là quá trình
thay lao động thủ công bằng máy móc, hay cơ khí hoá quá trình sản xuất,
nhng xét toàn bộ nền sản xuất xã hội, điểm mấu chốt của cách mạng công
nghiệp chính là xác lập công nghiệp chế tạo máy móc và toàn bộ công
nghiệp nặng. Chính bộ phận công nghiệp nặng, mà nòng cốt là công nghiệp
chế tạo máy móc, là nền tảng của kỹ thuật của toàn bộ nền kinh tế. Vì đó là
cơ sở kỹ thuật để cải tạo toàn bộ kỹ thuật nền sản xuất xã hội, hơn nữa là cơ
sở cho sự tiến bộ kỹ thuật của nền sản xuất xã hội.
1.4. Công nghiệp hoá là
một cuộc đại phân công lao động xã hội. Đó là quá trình
cơ cấu lại toàn bộ nền sản xuất xã hội, theo phơng thức của đại công
nghiệp. Trong điều kiện đại công nghiệp t bản công nghiệp đã bao trùm
toàn bộ nền kinh tế, biến nền kinh tế thành một hệ thống kinh doanh theo
phơng thức thị trờng công nghiệp hay theo phơng thức t bản chủ nghĩa.
Hoàn thành một tiến trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất mới với sự hình thành
các lĩnh vực các ngành sản xuất mới, sự hình thành những cực tăng trởng
mới cũng có nghĩa là toàn nền kinh tế và sự chuyển đổi từ kinh tế chậm phát
triển sang kinh tế phát triển. Hình thành cơ cấu của nền sản xuất lớn, sản
xuất hàng hoá. Cơ cấu này đảm bảo cho tự tái sản xuất mở rộng.
Nh vậy quá trình công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế hay là nội
dung vật chất của quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ chậm phát triển sang
phát triển.
2. Hiện đại hoá
Sự phát triển hiện đại là giai đoạn phát triển hậu công nghiệp, sự phát triển
này diễn ra với hai cuộc cách mạng: cách mạng khoa học công nghệ và cách
mạng trong kinh tế với sự xác lập của kinh tế thị trờng hiện đại và quá
trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế.
Nói cách khác: trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế và sự phát triển kinh tế
trí thức là xu hớng làm thay đổi tiến trình công nghiệp hoá hiện đại. Đòi
hỏi quá trình diễn ra công nghiệp hóa phải đồng thời thực hiện hai quá trình:
vừa xây dựng nền đại công nghiệp, vừa phát triển ngay kinh tế trí thức trong
bối cảnh hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Hai nội dung này là của một quá
trình duy nhất diễn ra đồng thời và phải đợc thực hiện đồng thời.
Hiện đại hoá đợc xác lập bởi ba quá trình thay đổi sâu sắc: thay đổi trong
hệ thống phát triển, chuyển từ hệ thống kinh tế thị trờng cổ điển sang hệ
thống kinh tế thị trờng hiện đại, chuyển từ cách mạng công nghiệp với cơ
1
C.Mac - T bản - tập thứ nhất, phần 1. NXB Sự thật Hà Nội 1984, trang 192.
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 10
khí hoá sang cách mạng khoa học công nghệ và quá trình quốc tế hoá, toàn
cầu hoá sinh hoạt kinh tế.
2.1. Hiện đại hoá đặc trng cơ bản của nó chính là trình độ phát triển cao của
khoa học - công nghệ là yếu tố quyết định tạo ra lợi thế so sánh
- Cách mạng khoa học - công nghệ là một cuộc cách mạng trong nội sinh của
lực lợng sản xuất của nhân loại, đa nhân loại sang một thời kỳ phát triển
mới: thời đại phát triển hiện đại chuyển từ làn sóng phát triển công nghiệp
sang làn sóng phát triển hậu công nghiệp.
- Khoa học công nghệ làm cho tiến trình quốc tế hoá toàn cầu hoá trở thành
một tất yếu của bản thân công nghiệp của lực lợng sản xuất.
- Khoa học - công nghệ là cơ sở tăng sức sản xuất của nhân loại mạnh mẽ, là
sự phát triển ở cấp độ cao, hiện đại.
- Cách mạng khoa học - công nghệ cố nhiên và trớc hết là cách mạng trong
lực lợng sản xuất, do vậy là cách mạng trong nội dung vật chất của phơng
thức sản xuất. Nếu cách mạng công nghiệp mới bó hẹp trong quá trình lao
động sản xuất trực tiếp, tức là ở kỹ thuật công nghiệp thì cách mạng khoa
học công nghệ có đặc trng là thực hiện một cuộc cách mạng trong hệ thống
hạ tầng của toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội. Nó không còn bó hẹp trong
phạm vi sản xuất hay hoạt động kinh tế mà tác động rộng lớn tới tất cả sinh
hoạt và đời sống của con ngời. Nhờ cuộc cách mạng này, ngời ta đã rút
ngắn không gian, giảm nhanh chóng sự cách biệt giữa các vùng trên trái đất,
khiến cho các dân tộc nhanh chóng tiếp cận đối với các nguồn lực của sự
phát triển và đặc biệt có khả năng hởng thụ đợc các thành quả của sự phát
triển trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hoá - xã hội.
- Giải phóng sự phát triển kinh tế khỏi những yếu tố truyền thống, cổ điển,
thay đổi sâu sắc phơng thức phát triển kinh tế. Giải phóng sự phát triển kinh
tế khỏi sự phụ thuộc quyết định vào các nguồn lực truyền thống cổ điển và
hình thành lợi thế so sánh mới.
2.2. Quá trình hiện đại hoá đợc đặc trng bởi quá trình quốc tế hoá khu vực hoá
và toàn cầu hoá đời sống kinh tế
- Là quá trình phát triển cao độ của quá trình phân công lao động xã hội,
nguyên tắc phân công, chuyên môn hoá đợc đặt trên phạm vi quốc tế. Nó
khai thác lợi thế giữa các quốc gia giữa các khu vực trên thế giới. Có thể nói
phân công lao động quốc tế, do đó về mặt kinh tế là quá trình quốc tế hoá,
toàn cầu hoá là quy luật tăng sức sản xuất của nhân loại, đó là quy luật kinh
tế của sự phát triển hiện đại.
- Trong điều kiện quốc tế hoá, tức điều kiện của thị trờng thế giới đợc xác
lập. Việc hình thành cơ cấu của nền kinh tế và quy luật tái sản xuất mở rộng
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 11
ở mỗi quốc gia có một sự thay đổi căn bản. Việc lựa chọn một cơ cấu sản
xuất, không lệ thuộc vào quy luật bắt buộc phải phát triển công nghiệp nặng
và tốc độ công nghiệp nặng phải tăng nhanh. Vấn đề quyết định chính là ở
chỗ, cơ cấu đó có tạo ra đợc lợi thế so sánh, do đó có sức cạnh tranh lớn
nhất không? Và có tạo ra sức sản xuất lớn nhất không?
Nhờ chuyển giao công nghệ, nền kinh tế có thể chuyển thẳng vào trung tâm
của cách mạng khoa học công nghệ. Các nớc chậm phát triển không phải
thực hiện, sự phát triển lực lợng sản xuất bằng cách hình thành nền công
nghiệp nặng, mà cần phải thực hiện mục tiêu tăng trởng nhanh nhằm vào
lợi thế so sánh thông qua chiến lợc phát triển hớng vào xuất khẩu và hội
nhập.
3. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá có quan hệ chặt chẽ với nhau, hoà quyện vào
nhau, tác động lẫn nhau trong quá trình phát triển
Công nghiệp hoá là cơ sở để hiện đại hoá và ngợc lại chính hiện đại hoá
tạo động lực để công nghiệp hoá. Trong thời đại ngày nay, không thể phát
triển CNH mà không HĐH và ngợc lại, không thể có HĐH mà không
CNH.
III. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
1.1. CNH, HĐH nông nghiệp là
quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống
phát triển thành nông nghiệp hiện đại, về thực chất nó là hiện đại hoá các
biện pháp sản xuất nông nghiệp, hiện đại hoá công nghệ sản xuất, hiện đại
hoá quản lý sản xuất kinh doanh và hiện đại hoá lực lợng lao động ngành
nông nghiệp; làm thay đổi căn bản tính chất, phơng thức sản xuất, cơ cấu
sản xuất, hình thức tổ chức quản lý sản xuất của một nền nông nghiệp sản
xuất tự cung, tự cấp, dựa chủ yếu vào điều kiện tự nhiên với kỹ thuật thủ
công sang một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá với kỹ thuật công nghệ
tiên tiến, trong điều kiện thơng mại hoá toàn cầu và phải đảm bảo cho sự
phát triển bền vững về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển
khu vực nông thôn từ trạng thái nông nghiệp cổ truyền thành khu vực có nền
kinh tế thị trờng phát triển, với hệ thống phân công lao động đạt trình độ
cao, dựa trên nền tảng kỹ thuật - công nghệ hiện đại và hội nhập nền kinh tế
toàn cầu trong khuôn khổ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá toàn bộ
nền kinh tế. Đây cũng là quá trình đô thị hoá cải biến xã hội nông thôn lên
trình độ cao hơn, bảo đảm cho mọi ngời dân có đời sống vật chất, tình thần
ngày càng đợc nâng cao.
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 12
- Dới tác động của quá trình CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi nhanh
chóng cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn. Nông
nghiệp không chỉ đóng vai trò là ngành tất yếu mà cơ sở từ đó công nghiệp
nảy sinh và phát triển, mà nông nghiệp từ đầu, nó tham gia vào sự phát triển
với tính cách là ngành sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng, thành một cực tăng
trởng thông qua việc chuyển sang sản xuất các mặt hàng nông sản xuất
khẩu. Sự tác động của chiến lợc hớng vào xuất khẩu và sự phát triển nhảy
vọt của công nghiệp và kinh tế thị trờng. Cuộc cách mạng khoa học công
nghệ, trong điều kiện toàn cầu hoá đã lôi cuốn nông nghiệp, nông thôn vào
trung tâm của sự phát triển. Sự chuyển đổi nhanh chóng của nông nghiệp tất
yếu làm tăng sự tan rã nhanh chóng kết cấu xã hội nông thôn truyền thống
và kinh tế nông dân với phơng thức sản xuất tiểu nông của nó, đồng thời là
quá trình đô thị hoá sẽ diễn ra nhanh chóng.
- CNH, HĐH nông nghiệp là việc sử dụng máy móc rộng rãi, áp dụng khoa
học công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ sinh học và công nghệ thông
tin trong khâu sản xuất. Bảo quản chế biến và tiếp thị mở rộng thị trờng tiêu
thụ trong nớc và quốc tế, chính vì vậy sẽ thúc đẩy nhanh sự tan rã của nông
nghiệp chậm phát triển và nông nghiệp truyền thống.
1.2. CNH, HĐH nông nghiệp diễn ra đồng thời với CNH, HĐH các ngành kinh tế của
đất nớc
- Nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn không thể tự cải tạo kỹ thuật, không thể
tự mình giải quyết vấn đề phát triển. Sự phát triển của nông nghiệp chính là
đợc quyết định bởi bản thân quá trình nền sản xuất xã hội thực hiện đợc,
quá trình phát triển với hai tiến trình thị trờng hoá và CNH, đó là quá trình
chuyển từ làn sóng nông nghiệp sang làn sóng công nghiệp. Sự phát triển
này khiến cho nông nghiệp mất vị trí, là nền tảng của nền kinh tế. Quy luật
chung của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là làm giảm tỷ lệ GDP
của nông nghiệp trong cơ cấu chung nền kinh tế, lao động ngành nông
nghiệp có tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu lao động chung của các ngành kinh tế.
Bảng 1.
Cơ cấu dân số lao động và GDP nông lâm nghiệp
trong tổng GDP của một số nớc năm 2000
Đơn vị tính: %
Hạng mục Mỹ Anh Pháp Nhật Hàn
Quốc
Trung
Quốc
Malayxia Thái
Lan
Việt
Nam
Dân số nông thôn/tổng dân số 23 11 15 21 8,7 70 43 68 75,8
Lao động NN/tổng lao động 2 2 5 4 10,8 47 16,8 48 66,27
GDP nông lâm nghiệp/tổng GDP 2 1 3 2 4,6 16 12,8 10,5 23,6
GDP BQ ngời/năm USD 31.910 23.510 20.950 32.030 11.000 950 4.500 2.010 410
Nguồn: Lee and timmer, Niên giám thống kê Việt Nam 2001
Đề tài Khoa học cấp Nhà nớc - KC 07. 02
Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn - Viện Quy hoạch & TKNN
Trang 13
- Sự thay đổi trong cơ cấu ngành nông nghiệp không phải là nguyên nhân chủ
yếu, tạo ra đợc thị trờng cho nông nghiệp mà chính sự phát triển của công
nghiệp, du lịch, dịch vụ đã tạo ra thị trờng cho nông nghiệp và quy định tất
yếu nông nghiệp phải chuyển thành ngành kinh doanh theo cơ chế thị trờng.
Bảng 2.
Thời điểm khi tỷ lệ lao động nông nghiệp đạt 40% và 16% trong
tổng số lao động của một số nớc trên thế giới
Quốc gia 40% 16% Khoảng thời gian
(năm)
Bình quân thời gian
giảm 1% (năm)
Anh Trớc 1800 1868 Hơn 70 năm 2,9
Hà Lan 1855 1950 95 3,9
Đức 1897 1957 60 2,5
Mỹ 1900 1942 42 1,75
Đan Mạch 1920 1962 42 1,75
Pháp 1921 1965 44 1,8
Nhật Bản 1940 1971 31 1,3
Hàn Quốc 1977 1991 14 0,58
Việt Nam 1990 2002 12 1,70
(75%) (67,8%) (-7,2%)
Nguồn: Lee and timmer (1993), Niên giám thống kê Việt Nam 2001
- Không thể tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp bó hẹp trong quan niệm phát
triển trong phạm vi ngành nông nghiệp, mà nó phải gắn với sự phát triển và
sự chuyển đổi cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế. Chính sự phát triển công
nghiệp, du lịch, dịch vụ, cơ sở hạ tầng trong điều kiện hiện đại hoá làm thay
đổi phơng thức sản xuất, cơ cấu của nền sản xuất xã hội và là sự thay đổi
bản chất kinh tế của nông nghiệp. Chuyển từ lĩnh vực tất yếu thành lĩnh vực
kinh doanh thành cực tăng trởng và bắt buộc phải tồn tại phát triển trong cơ
chế thị trờng.
1.3. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu
ăn uống hiện đại của xã hội: sản xuất nông sản sạch, giảm lơng thực, tăng
thức ăn giàu đạm, tăng rau quả, mức tiêu dùng các loại lơng thực thực
phẩm chất lợng cao tăng lên, đa dạng hoá các loại thực phẩm, tăng nông
phẩm đã qua chế biến.
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp phải đảm bảo vai trò: duy trì và phát
triển cảnh quan thiên nhiên, xã hội cho phù hợp với yêu cầu của cuộc sống ở
trình độ văn minh cao, trình độ văn hoá cao. Tái sản xuất hệ sinh thái, duy
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét