Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Phương hướng và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu ở công ty thực phẩm miền Bắc-FONEXIM”.

Quan niệm thứ t cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn
yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của CNXH, cho rằng quỹ tiêu dùng với
tính cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi ngời trong các doanh
nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiêu quả kinh doanh. Quan điểm này u điểm là
đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất XHCN là không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Song khó khăn ở đây là phơng tiện
đo lờng thể hiện t tởng định hớng đó. Đời sống nhân dân nói chung và mức
sống nói riêng rất đa dạng phong phú, nhiều hình nhiều vẻ phản ánh trong
các chỉ tiêu mức độ thoả mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao đời sống là điều
kiện khó khăn.
Để làm sáng tỏ bản chất và đi đến một khái niêm hiệu quả kinh doanh
hoàn chỉnh theo định hớng trên, chúng ta phải xuất phát từ những luận điểm
của triết học của Mác- Lê nin và những luận điểm của lý thuyết hệ thống
3. Phân loại hiệu quả kinh doanh
Trong công tác quản lý kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh doanh đợc
biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trng, ý
nghĩa cụ thể của hiêu quả. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những
tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý kinh doanh.
Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiêu quả từ đó đề ra những biện
pháp nâng cao hiêụ quả kinh doanh của doanh nghiệp.
3.1.Hiêu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền
kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiêu quả kinh doanh thu đợc từ hoạt
động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Biểu hiện chungcủa hiệu quả cá biệt
là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đợc.
Hiệu quả kinh tế xã hội mà hoạt động kinh doanh đem lại cho nền kinh
tế qốc dân là sự đóng góp của hoạt động kinh doanh vào việc phát triển sản
xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích lũy ngoại
tệ, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.
Trong quản lý kinh doanh không những cần tính toán và đạt đợc hiệu
quả trong hoạt động của từng ngời, từng doanh nghiệp, mà còn phải tính toán
và quan trọng hơn phải đạt đợc hiệu quả kinh tế xã hội đối với nền kinh tế
5
5
quốc dân. Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối
quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ
có thể đạt đợc trên sơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Tuy
vậy, có thể có những doanh nghiệp không đảm bảo đợc hiệu quả (làm ăn thua
lỗ) nhng nền kinh tế vấn thu đợc hiêu qủa. Tuy nhiên tình hình thua lỗ của
doanh nghiệp nào đó chỉ có thể chấp nhận đợc trong những thời điểm nhất
định do những nguyên nhân khách quan mang lại. Các doanh nghiệp thơng
mọi phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội vì đó chính là điều kện và tiền
đề cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả nhng để doanh nghiệp quản tâm
đến hiêu quả kinh tế xã hội chung của nền kinh tế quốc dân, nhà nớc cần có
các chính sách nhằm đảm kết hợp hài hoà lợi ích của xã hội và lợi ích của
doanh nghiệp và cá nhân ngời lao động.
3.2.Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trờng
kinh doanh của nó. Doanh nghiệp phải căn cứ vào những tín hiệu về giá cả,
thị hiếu của thị trờng để giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì?
sản xuất nh thế nào? và sản xuất cho ai?
Các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh trong những
điều kiện cụ thể về trang thiết bị, trình độ kỹ thuật, khả năng tài chính, trình
độ tổ chức và quản lý. Các doanh nghiệp đa ra thị trờng những sản phẩm của
mình với một chi phí cá biệt nhất định và doanh nghiệp nào cũng cố gắng
tiêu thụ sản phẩm của mình sao cho có thể đạt đợc hiệu quả cá biệt cao nhất.
Nh vậy khi đa các hàng hoá của doanh nghiệp ra thị trờng, doanh nghiệp phải
căn cứ vào giá cả thị trờng cũng nh xu hớng vận động của giá cả, cung-cầu
thị trờng và các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Trong thực tế, chi phí mà các doanh nghiệp thực hiện quá trình sản
xuất kinh doanh là một bộ phận của chi phí lao động xã hội. Nhng ở mỗi
doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả thì chi phi lao động đó lại
đợc thể hiện dới dạng những chi phí cụ thể:
- Giá thành sản xuất hay chi phí sản xuất.
- Chi phí ngoài sản xuất.
6
6
Bản thân mỗi loại chi phí trên cũng có nhiều những chi phí bộ phận
khác nữa. Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh không thể
không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên đây nhng cũng
không thể không đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí để có thể xem xét sự
ảnh hởng của các loại chi phí bộ phận đối với chi phí tổng hợp nói chung.
Việc đánh giá hiệu quả cá biệt của từng doanh nghiệp có tác dụng rất
thiết thực giúp doanh nghiệp tìm ra đợc hớng giảm chi phí cá biệt nhằm tăng
hiệu quả hoạt động kinh doanh, đạt đợc mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
3.3. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh, việc xác định hiệu quả
nhằm hai mục đích cơ bản:
Một là, để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong
hoạt động kinh doanh.
Hai là, để phân tích luận chứng kinh tế của các phơng án khác nhau
trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn lấy một ph-
ơng án có lợi nhất.
Hiệu quả tuyệt đối là lợng hiệu quả đợc tính toán cho từng phơng án cụ
thể bằng cách xác định mức lợi ích thu đơcj với chi phí bỏ ra. Chẳng hạn tính
toán mức lợi nhuận thu đợc từ một đồng chi phí sản xuất (giá thành), hoặc
một đồng vốn bỏ ra
Ngời ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện
một thơng vụ nào đó, để biết đợc với những chi phí bỏ ra sẽ thu đợc những
lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi
phí hay không cho thơng vụ đó. Vì vậy trong công tác quản lý kinh doanh,
bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí dù với một lợng lớn hay nhỏ
đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối.
Hiệu quả so sánh đợc xác định bằng cách so sánh các chi phí trên hiệu
quả tuyệt đối của các phơng án với nhau. (Nói cách khác, hiệu quả so sánh
chính là mức độ chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phơng án). Mục
đích chủ yếu của việc tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các ph-
7
7
ơng án (hoặc các cách làm khác nhau cùng thực hiện một nhiệm vụ ) từ đó
cho phép lựa chọn một cách làm có hiệu quả cao nhất.
Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, ngời ta không chỉ tìm
thấy một cách (một phơng án, một con đờng, một giải pháp) mà có thể đa ra
nhiều cách làm khác nhau. Mỗi cách làm đó đòi hỏi lợng đầu t vốn, lợng chi
phí khác nhau, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu t cũng khác
nhau. Vì vậy, muốn đạt đợc hiệu quả kinh tế cao, ngời làm công tác quản lý
và kinh doanh thơng mại không nên tự mình vào một cách làm mà phải vận
dụng mọi sự hiểu biết đa ra nhiều phơng án đó để chọn ra một phơng án có
lợi nhất.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh trong thơng mại có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau song chúng lại có tính độc lập tơng đối. Trớc hết, xác
định quan hệ tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh. Nghĩa là, trên
cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phơng án, ngời ta so sánh mức hiệu
quả ấy của các phơng án khác nhau. Mức chênh lệch ấy chính là hiệu quả so
sánh
(3)
.
4. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
4.1. Các nhân tố bên trong
a) Lực lợng lao động
Ngời ta thờng nhắc đi nhắc lại luận điểm: Khoa học công nghệ ngày
nay đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. áp dụng kĩ thuật tiến bộ mới là
điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất. Nhng chỉ trang bị máy móc,
thiết bị kĩ thuật tiên tiến thôi cha đủ, một vấn đề không kém phần quan trọng
là vai trò của ngời lao động. Chúng ta biết rằng thứ nhất, máy móc dù tối tân
đến đâu cũng đều do con ngời tạo ra. Nếu không có lao động sáng tạo của
con ngời sẽ không có những máy móc, thiết bị đó. Thứ hai, máy móc thiết bị
dù hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kĩ thuật,
trình độ sử dụng của ngời công nhân thì mới phát huy đợc tác dụng, tránh
lãng phí, thậm chí hỏng hóc.
(3)
Nguồn: PGS.PTS. Đặng Đình Đào, Kinh tế TMDV tổ chức và quản lý kinh doanh, NXB Thống kê năm
2000, Hà Nội trang 255 258.
8
8
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp, lực lợng
lao động của doanh nghiệp tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh ở các mặt sau: thứ nhất, bằng lao động sáng tạo của mình tạo ra
công nghệ mới, thiết bị máy móc mới, nguyên vật liệu mới có hiệu quả
hơn trớc hoặc cải tiến kĩ thuật nâng cao năng suất, hiệu suất so với trớc. Thứ
hai, trực tiếp điều khiển máy móc thiết bị tạo ra kết quả của doanh nghiệp.
Hiệu quả của quá trình này thể hiện ở việc tận dụng công suất của máy móc
thiết bị, tận dụng nguyên vật liệu trực tiếp làm tăng năng suất, tăng hiệu quả
từng nơi làm việc. Thứ ba, lao động có kỷ luật,chấp hành đứng mọi quy định
về thời gian, về quy trình kĩ thuật sản xuất sản phẩm, quy trình bảo dỡng
máy móc thiết bị dẫn đến kết quả không phải chỉ tăng năng suất, chất lợng,
hiệu quả mà còn tăng độ bền, giảm chi phí sửa chữa thiết bị máy móc
Ngoài ra, chất lợng sản xuất còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức trách nhiệm,
tinh thần hợp tác phối hợp, khả năng thích ứng với những thay đổi, nắm bắt
thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp.
b) Trình độ phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật và ứng dụng kĩ thuật
tiến bộ vào sản xuất
Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với sự phát triển của t liệu
lao động. Sự phát triển của t liệu lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng
năng suất lao động, tăng sản lợng, chất lợng sản phẩm, hạ giá thành sản
phẩm. Nh vậy, cơ sở vật chất kĩ thuật là một nhân tố hết sức quan trọng trong
việc tăng chất lợng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh. Mức độ chất lợng
hoạt động của các doanh nghiệp bị tác động mạnh mẽ bởi trình độ hiện đại,
cơ cấu tính đồng bộ, tình hình duy trì bảo dỡng, duy trì khả năng làm việc
theo thời gian của máy móc thiết bị, công nghệ, đặc biệt là những doanh
nghiệp tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt.
Hiện nay, dới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang
phát triển nh vũ bão, có vai trò ngày càng lớn mang tính chất quyết định đối
với việc nâng cao năng suất, chất lợng, hiệu quả và đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế ở nớc ta, phù hợp với xu thế chung đó, hầu hết các doanh nghiệp
đã và đang tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng đầu t, ngày càng cải tiến
và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cải thiện và nâng cao trình độ
trang bị kỹ thuật cho mình.
9
9
c) Vật t, nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật t, nguyên liệu
của doanh nghiệp
Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất vật chất nào cũng phải có đủ 3
yếu tố: lao động, t liệu lao động và đối tợng lao động. Trong đó vật t, nguyên
liệu là yếu tố không thể thiếu đợc trong sản xuất kinh doanh. Do vậy số lợng,
chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ của việc cung ứng nguyên liệu, chất lợng
nguyên liệu có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu và do
đó ảnh hởng lớn đến hiệu quả kinh doanh của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trớc tiên việc cung cấp đầy đủ, có chất lợng cao nguyên liệu cho sản xuất sẽ
nâng cao chất lợng sản phẩm, thu hút khách hàng, nâng cao uy tín của doanh
nghiệp, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cần chú ý là đối với nhiều doanh
nghiệp sản xuất, tỷ trọng chi phí kinh doanh sử dụng nguyên vật liệu chiếm
rất lớn trong cơ cấu chi phí kinh doanh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên
việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có một ý nghĩa rất lớn trong việc nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, chất lợng hoạt
động của nhân sự còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập đợc một hệ thống
cung ứng nguyên liệu thích hợp trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu
biết và tin tởng lẫn nhau giữa ngời sản xuất và ngời cung ứng, bảo đảm khả
năng cung ứng vật t, nguyên liệu đầy đủ kịp thời, chính xác, đúng nơi cần
thiết, tránh tình trạng không có vật t để sản xuất hay vật t quá nhiều gây ứ
đọng vốn
d) Hệ thống trao đổi xử lý thông tin
Hiện nay với sự bùng nổi của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã
làm thay đổi hẳn nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó tin học và điện tử đóng vai
trò đặc biệt quan trọng. Thông tin đợc coi là đối tợng lao động của các nhà
kinh doanh và nền kinh tế thị trờng hiện nay là nền kinh tế thông tin hoá. Để
kinh doanh thành công trong điều kiện cạnh tranh trong nớc và quốc tế phát
triển, các doanh nghiệp cần rất nhiều thông tin chính xác về thị trờng, thông
tin về công nghệ, thông tin về tình hình cung cầu, hàng hoá, dịch vụ, thông
tin về giá cả, thông tin về tỷ giá Không những thế các doanh nghiệp còn rất
cần biết về kinh nghiệm thành công, thất bại của các doanh nghiệp trong nớc
và quốc tế, biết đợc thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh tế của
Nhà nớc và các liên quan đến thị trờng của doanh nghiệp.
10
10
Những thông tin kịp thời chính xác sẽ là cơ sở vững chắc để doanh
nghiệp xác định phơng hớng kinh doanh, xây dựng chiến lợc kinh doanh
ngắn hạn. Nếu doanh nghiệp không quan tâm đến thông tin một cách thờng
xuyên, liên tục, không nắm bắt đợc thông tin một cách kịp thời, chính xác dễ
bị thất bại.
Nhu cầu thực tế to lớn của các doanh nghiệp đòi hỏi xã hội phải phát
triển mạnh hệ thống thông tin liên lạc bằng nhiều hình thức khác nhau, từ
việc phát triển báo chí, truyền thanh, truyền hình đến việc phát triển các hoạt
động bu chính viễn thông. Trong kinh doanh nếu biết mình, biết ngời và biết
đợc các đối thủ cạnh tranh thì sẽ có chính sách để thắng lợi trong cạnh tranh,
có chính sách để phát triển quan hệ hợp tác chặt chẽ để hỗ trợ nhau trong
kinh doanh. Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp cho thấy nắm
chắc đợc các thông tin cần thiết và biết xử lý các thông tin đó kịp thời đúng
đắn trong kinh doanh là một yếu tố, một điều kiện hết sức quan trọng để
thắng lợi trong cạnh tranh và kinh doanh đạt lợi nhuận cao.
c) Nhân tố quản trị doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì nhân tố
quản trị ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và
kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Quản trị doanh nghiệp hiện đại
luôn chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hớng đi đúng trong
hoạt động kinh doanh, xác định đúng các chiến lợc kinh doanh và phát triển
doanh nghiệp. Chiến lợc kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là cơ sở đầu
tiên đem lại hiệu quả và kết quả hoặc phi hiệu quả, thất bại của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trờng. Bởi vậy nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là
lãnh đạo doanh nghiệp (quản trị viên cao cấp), bằng phẩm chất và tài năng
của mình, có vai trò quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định đối với việc
duy trì thành đạt cho một tổ chức, một công ty, trong các nhiệm vụ phải hoàn
thành, ngời cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp phải chú ý đến hai nhiệm vụ chủ
yếu là:
- Xây dựng tập thể thành một hệ thống đoàn kết, năng động với
chất lợng cao.
11
11
- Dìu dắt tập thể dới quyền, hoàn thành mục đích và mục tiêu một
cách vững chắc và ổn định. ở bất kỳ môt doanh nghiệp nào, hiệu quả kinh
doanh đều phụ thuộc lớn vào tổ chức cơ cấu bộ máy quản trị, khả năng xác
định chính xác mục tiêu, phơng hớng kinh doanh có lợi nhất cho doanh
nghiệp của những ngời lãnh đạo doanh nghiệp.
4.2. Nhân tố môi trờng bên ngoài
a) Môi trờng pháp lý
Bao gồm luật, các văn bản dới luật, quy trình, quy phạm kỹ thuật sản
xuất Tất cả các quy định pháp luật về sản xuất kinh doanh đều tác động
trực tiếp đến hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một
môi trờng pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến
hành thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình vừa điều chỉnh
các hoạt động kinh tế vi mô theo hớng không phải chỉ chú ý đến kết quả và
hiệu quả của riêng mình, mà còn phải chú ý bảo đảm lợi ích kinh tế của mọi
thành viên trong xã hội. Với t cách một doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh, doanh nghiệp có nghĩa vụ chấp hành mọi luật phát quy định, với
các hoạt động liên quan đến thị trờng ngoài nớc, doanh nghiệp không thể
không nắm chắc luật pháp của nớc sở tại và tiến hành các hoạt động trên cơ
sở tôn trọng luật pháp của nớc đó.
b) Môi trờng văn hoá xã hội
Trình độ việc làm, điều kiện xã hội, trình độ giáo dục, phong cách lối
sống, những đặc điểm truyền thống, tâm lý xã hội Mọi yếu tố văn hoá xã
hội đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp theo cả hai hớng tích cực hoặc không tích cực. Trình độ văn hoá cao
sẽ tạo thuận lợi lớn cho doanh nghiệp đào tạo đội ngũ lao động có chuyên
môn cao và có khả năng tiếp thu nhanh các kiến thức cần thiết nếu có tác
động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và
ngợc lại. Phong cách sống công nghiệp tạo thuận lợi cho việc thực hiện kỷ
luật lao động, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh doanh và ngợc lại.
12
12
c) Môi trờng chính trị
ổn định thể chế chính trị, xu hớng chính trị, tơng quan giữa các giai cấp và
tầng lớp xã hội Cũng có tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của từng
doanh nghiệp. Môi trờng chính trị ổn định luôn luôn là điều kiện tiền đề cho
việc phát triển các hoạt động đầu t, phát triển các hoạt động kinh tế. Vấn đề
đầu t lại tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của hoạt động sản xuất
kinh doanh.
d) Môi trờng sinh thái và cơ sở hạ tầng
Tình trạng môi trờng, xử lý phế thải, ô nhiễm, các ràng buộc xã hội về
môi trờng đều tác động trong một chừng mực nhất định đến hiệu quả kinh
doanh. Một môi trờng trong sạch, thoáng mát sẽ trực tiếp làm giảm chi phí
kinh doanh để cải thiện môi trờng bên trong doanh nghiệp và tạo điều kiện để
nâng cao năng suất lao động làm tăng hiệu quả kinh doanh và ngợc lại. Cơ sở
hạ tầng đóng vai trò rất quan trọng đối với việc trực tiếp giảm chi phí kinh
doanh để xây dựng cơ sở hạ tầng liên quan đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Điều quan trọng hơn là cơ sở hạ tầng tác động trực tiếp đến
chi phí kinh doanh cũng nh thời gian vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp
và do đó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nhiều trờng hợp, khi điều kiện cơ sở hạ
tầng thấp kém còn ảnh hởng trực tiếp đến chi phí đầu t hoặc gây cản trở đối
với hoạt động cung ứng vật t, kỹ thuật, mua bán hàng hoá và do đó tác động
xấu đến hiệu quả kinh doanh của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
e) Môi trờng quốc tế
Các xu hớng chính trị trên thế giới, chính sách bảo hộ và mở cửa của
thế giới, chiến tranh ảnh hởng trực tiếp đến các hoạt động mở rộng thị tr-
ờng mua bán của doanh nghiệp và vì thế tác động đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Môi trờng khu vực ổn định là cơ sở để các doanh nghiệp trong khu
vực tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh doanh
trong toàn khu vực.
f) Môi trờng công nghệ
13
13
Tình hình nghiên cứu triển khai khoa học kỹ thuật mới, đầu t cho khoa
học công nghệ đều có ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
g) Môi trờng kinh tế
Tăng trởng kinh tế quốc dân, các chính sách kinh tế của chính phủ,
lạm phát, biến động tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh luôn luôn
tác động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp. Tốc độ tăng trởng kinh tế, tốc độ tăng thu nhập quốc dân, biến
động của tiền tệ, các chính sách kinh tế, hoạt động của các đối thủ cạnh
tranh luôn là các nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu
của từng doanh nghiệp và từ đó tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến kết quả và
hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Nhìn chung, các nhân tố bên trong và bên ngoài đều tạo ra những cơ
hội và nguy cơ đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng và nó tạo
nên môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trờng kinh doanh tồn tại
một cách khách quan, gây ra những khó khăn và cũng nh các điều kiện thuận
lợi tác động đến hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp
(4)
.
II. Phơng pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
1. Các quan điểm cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả của sản xuất
kinh doanh
Hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu chất lợng
tổng hợp, nó liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau và nó còn phản ánh trình
độ lợi dụng các yếu tố đó. Do đó khi xem xét, đánh giá hiệu quả cần quán
triệt các quan điểm cơ bản sau:
- Bảo đảm sự thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trong
việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.
(4)
Nguồn: GS.TS. Ngô Đình Giao, Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp, NXB KHKT Hà
nội, năm 2000, trang416 - 424.
14
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét