Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của bộ kế hoạch và đầu tư

3.2. Các phương pháp nghiên cứu cơ bản
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tìm tòi và tham khảo các tài liệu
liên quan.
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh các số liệu;
- Phương pháp Chuyên gia: xin ý kiến, tham khảo ý kiến….
4. KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của khóa
luận gồm 03 chương:
Chương 1. khái quát chung về chất lượng công chức cấp Bộ.
Chương 2. Thực trạng chất lượng công chức của Bộ KH&ĐT
Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượn đội ngũ công chức
của Bộ KH&ĐT .
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP BỘ
I. Quan niệm chung về công vụ, công chức và chất lượng công chức
1. Quan niệm về công vụ
Mỗi một nhà nước đều có những cách thức, phương pháp quản lý xã hội
khác nhau tuy nhiên tất cả đều phải thông qua nhân tố con người hay chính là
đội ngũ công chức nhà nước. Đội ngũ công chức được nhà nước trao quyền
cho sử dụng quyền lực nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước
và bảo vệ lợi ích của nhà nước cũng như toàn xã hội, những hoạt động ấy
được gọi chung là công vụ
Khái niệm “công vụ” mang nội hàm lớn, hiện nay thì chưa có một khái
niệm chung nào cho vấn đề này. Ở mỗi quốc gia khác nhau lại xem xét “công
vụ” giưới một góc độ khác nhau và ngay trong một nước thì mỗi thời kỳ lịch
sử khác nhau thì khái niệm “công vụ” cũng có những nét riêng. Ở nước ta
quan niệm về “công vụ” được nhìn nhận giưới những góc độ như sau:
Theo từ điển hành chính thì công vụ được hiểu như sau:
- Công : Nhà nước, vụ: công việc. Công vụ là công việc của nhà nước,
khi thi hành có sử dụng quyền lực nhà nước. CBCC chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình
Theo giáo trình Luật hành chính và tài phán hành chính Việt Nam
của Học viện hành chính Quốc gia năm 2004, thì công vụ được hiểu “
Công vụ là hoạt động mang tính nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của
nhà nước, vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của các tổ
chức, cá nhân. Hoạt động công vụ là hoạt động có tính tổ chức cao, được tiến
hành thường xuyên, liên tục theo trật tự do pháp luật quy định trên cơ sở sử
6
dụng quyền lực nhà nước và được bảo đảm bằng quyền lực của nhà nước.
Hoạt động công vụ chủ yếu do đội ngũ công chức chuyên nghiệp thực hiên “
Mới đây nhất thì Điều 2 của Luật CBCC năm 2008 có quy định: hoạt
động công vụ của CBCC được hiểu như là hoạt động của cán bộ, công chức là
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của
Luật CBCC và các quy định khác có liên quan.
Như vậy, công vụ nhà nước có thể hiểu một cách đơn giản là một loại
hoạt đông của nhà nước mang tính tổ chức, quyền lực pháp lý cao và được
thực thi bởi đội ngũ công chức hay những người được nhà nước giao quyền.
Chúng ta có thể phân biệt công vụ với các hoạt động khác trong xã hội như:
sản xuất cuả cải vật chất, sáng tạo các giá trị tinh thần….
Tóm lại, Quan niệm về “công vụ” có thể chưa đồng nhất giữa các quốc
gia, ở những thời điểm khác nhau nó được xem xét giới những góc độ riêng
nhưng điểm chung nhất trong các quan niệm này là hoạt đông công vụ được
điều chỉnh bởi ý chí của nhà nước, gắn với quyền lực của nhà nước; mang
tính thường xuyên, liên tục; được đảm bảo bằng ngân sách của nhà nước và
nhằm phục vụ lợi ích cho nhà nước cho cộng đồng và toàn thể xã hội.
2. Quan niệm về công chức
Như đã trình bày ở trên thì đội ngũ công chức chính là nhân tố con người
quyết định tới hiệu quả của hoạt động công vụ. Nền công vụ của bất kỳ quốc
gia nào cũng đều gắn với vấn đề công chức. Thế nhưng cũng giống như “công
vụ” quan niệm về ‘công chức” cũng chưa có sự thống nhất. Khái niệm công
chức được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, tùy theo đặc điểm
về lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội và tổ chức bộ máy nhà nước mà quan niệm
về “Công chức” được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức đã được hình thành từ lâu và ngày
càng gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước.Lần đầu tiên khái
7
niệm công chức được nêu ra trong văn bản chính thức của Nhà nước là sắc
lênh số 67/SL ngày 20/5/1950 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa.
Theo quy định tại điều 1 của sắc lệnh 67/SL thì khái niệm công chức
được hiểu là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển
để giữ một chức vụ thường xuyên của cơ quan thuộc chính phủ, ở trong hay
ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng
biệt do chính phủ quy định” Như vậy theo quy chế này thì phạm vi công chức
còn khá hẹp, những người làm việc trong cơ quan như: Tòa án hay Viện kiểm
sát… không được gọi là công chức.
- Theo Điều 1 của Pháp lệnh CBCC năm 1998 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về công chức như sau:
a, Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
b, Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
c, Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ
thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được
xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi
ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu
chuẩn riêng;
d, Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
e, Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm
việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
8
Do Pháp lệnh CBCC năm 1998 còn nhiều điểm bất cập, chưa rõ ràng
trong việc phân định các khái niệm công chức, cán bộ, và viên chức. Chưa có
những khái niệm độc lập, tách bạch nên Pháp lệnh CBCC đã được sửa đổi
năm 2000 và năm 2003.
Theo Nghị định 117/2003/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về tuyển
dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà
nước thì có chỉ rõ đối tượng là công chức như sau: Công chức được điều
chỉnh theo Nghị định này là công dân Việt Nam trong biên chế và được
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e
khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh CBCC làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực
lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sau đây gọi là công
chức:
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
- Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp;
- Đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân;
- Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Tuy đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng những hạn chế của Pháp lệnh
CBCC vẫn chưa được giải quyết, vẫn chưa có sự tách bạch giữa các khái
niệm công chức và cán bộ. Hiện nay, chúng ta đã có một bộ luật riêng về cán
bộ công chức đó là Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Luật này bắt
đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, có thể xem đây là văn bản luật cao nhất,
cụ thể nhất, tất cả những vấn đề liên quan đến công chức được quy định một
cách rõ ràng và cụ thể. Theo đó thì khái niệm công chức được hiểu như sau:
9
Theo khoản 2 Điều 4 của Luật CBCC năm 2008 “Công chức là công
dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là
sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh
đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ
lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Tóm lại, công chức nhà nước được hiểu là : những người được tuyển
dụng, hoặc bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan nhà nước từ trung ương
cho tới địa phương, được giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà
nước và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
3. Quan niệm về chất lượng công chức
3.1. Chất lượng nói chung
Theo từ điển Tiếng Việt thì chất lượng được xem như là cái tạo nên
phẩm chất, giá trị của một con người hay một sự vật, một sự việc. Như vậy để
phân biệt người này với người kia, sự vật này với sự vật khác thì ta có thể
dùng tiêu chí “chất lượng” để phân biệt.
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam thì chất lượng là một phạm trù triết
học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, tính ổn định tương đối của
sự vật và phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của
sự vật. Chất lượng biểu thị ra ngoài qua các thuộc tính. Chất lượng của sự vật
bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn
10
tại ngoài tính quy định ấy. Vì vậy, mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất
của chất lượng và số lượng.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định nghĩa về chất lượng là “Tập hợp các
đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả
năng thỏa nãm những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” . Theo đó thì chất
lượng có các đặc điểm sau:
- Mang tính chủ quan
- Không có chuẩn mực cụ thể
- Thay đổi theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng
- Không đồng nghĩa với “sự hoàn hảo”
Như vậy “chất lượng” ở đây gắn liền với sự thỏa mãn của khách hàng, vì
vậy nếu như sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được yêu cầu của
khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù sản phẩm hay dịch vụ đó được
sản xuất bằng trình độ công nghệ cao.
3.1.1 Chất lượng sản phẩm
Điều 3 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12
được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua vào ngày 21/11/1007 quy
định: “ Chất lượng sản phẩm hành hóa là mức độ của các đặc tính của sản
phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy
chuẩn kỹ thuật tương ứng”
3.1.2 Chất lượng dịch vụ
Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động
phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác nhau. Khái
niệm “Dịch vụ” có mức độ vô hình cao bởi mục đích của nhà cung cấp dịch
vụ là nhằm thõa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách
hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng.
11
Chất lượng dịch vụ là những gì khách hàng cảm nhận được. Chất lượng
dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng, nó
liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ. Bởi vậy khi đánh giá chất lượng dịch
vụ cần hết sức quan tâm đến nhu cầu và mong muốn của người được thụ
hưởng dịch vụ ấy.
Như vây, dịch vụ là một loại sản phẩm vô hình. Khách hàng nhận được
sản phẩm này thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận.
Đặc điểm nổi bật là chúng ta chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng của
những dịch vụ sau khi đã “mua” và “sử dụng” chúng. Một đặc điểm nữa của
chất lượng dịch vụ là nó rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yêu tố bên ngoài
3.1.3 Chất lượng quản lý hành chính
Chất lượng quản lý hành chính hay chính là hiệu quả của hoạt động quản
lý hành chính nhà nước. Quản lý hành chính nhà nước là một phạm vi rộng
bao gồm nhiều vấn đề về công vụ, cán bộ công chức và các vấn đề kinh tế xã
hội khác do nhà nước quản lý.
Chất lượng quản lý hành chính là thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt
động của bộ máy nhà nước và nhiều khi đó là tiêu chí để đánh giá trình độ
phát triển của một quốc gia. Chất lượng quản lý hành chính được đo bởi nhiều
yếu tố nhưng suy cho cùng thì mục đích của quản lý hành chính là để phục vụ
con người và sự hài lòng của nhân dân là thước đo chính xác nhất.
3.2 Chất lượng công chức
Trước hết, chúng ta cần phải hiểu chất lượng của đội ngũ công chức là
chất lượng lao động của công chức – một loại lao động có tính cất đặc thù
riêng, xuất phát từ vai trò và vị trí của đội ngũ lao động này. Có được một đội
ngũ công chức có chất lượng tốt sẽ là cơ sở để hoàn thành chức năng, nhiệm
vụ của cả bộ máy, đồng thời là điều kiện thuận lợi cho phép việc ứng dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật.
Chất lượng của đội ngũ công chức phụ thuộc vào chất lượng của từng
thành viên công chức trong đội ngũ đó, và nó còn biểu hiện mối quan hệ phối
12
hợp, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong công việc giữa họ. Mục đích của việc
đánh giá chất lượng của đội ngũ công chức là làm cơ sở để tiến hành các hoạt
động như luân chuyển, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, hay khen thưởng kỷ
luật…Như vậy, cần hết sức chú trọng đến công tác này trong hoạt động của
cơ quan nhà nước.
Chất lượng của công chức là một phạm trù khó định lượng bởi vậy đánh
giá chất lượng công chức là một điều hoàn toàn không đơn giản. Hoạt động
đánh giá con người vừa mang tính khoa học vừa đòi hỏi tính nghệ thuât; bởi
vậy đánh giá công chức đòi hỏi tính toàn diện và phải xem xét giưới nhiều
khía cạnh khác nhau. Cần phải có những tiêu chí đánh giá được lượng hóa
phù hợp, phương pháp đánh giá khách quan, khoa học có như vậy thì đánh giá
mới thực sự mang lại kết quả.
Chất lượng của đội ngũ công chức được phản ánh qua hệ thống các chỉ
tiêu : trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ tin học, trình độ
quản lý nhà nước….Ngoài các tiêu chí cứng đó ra thì còn có tiêu chí vè quá
trình hoạt động của công chức đó là mức độ dảm nhận và hoàn thành công
việc. Chất lượng công chức còn bao gồm cả yếu tố sức khỏe, kinh nghiệm
giải quyết công việc và phẩm chất đạo đức…
II. Bộ và công chức cấp Bộ
1. Bộ và vai trò của cấp Bộ trong hệ thống tổ chức hành chính nhà nước
1.1. Quan niệm chung về cấp Bộ
Điều 22 Luật Tổ chức Bộ máy nhà nước có quy định: “ Bộ, cơ quan
ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý đối với nhà
nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý
nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở
hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định
của pháp luật “
Giáo trình Quản lý và phát triển tổ chức của Học viện Hành chính có
viết về việc phân loại các Bộ như sau: Có thể chia Bộ làm 2 loại là Bộ quản lý
13
theo ngành (Bộ công nghiệp, bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ xây
dưng…) và bộ quản lý theo lĩnh vực ( bộ nội vụ, bộ khoa học và công nghệ,
bộ ngoại dao…)
Theo đó thì Bộ KH&ĐT là bộ quản lý theo lĩnh vực. Bộ là cơ quan của
chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực lớn. Hoạt
động của Bộ có liên quan tới hoạt động của tất cả các bộ, các cấp quản lý, các
tổ chức xã hội và công dân. Bộ quản lý theo lĩnh vực có nhiệm vụ giúp đỡ
chính phủ nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế -xã hội nói chung, xây
dựng các dự án, kế hoạch tổng hợp và cân đối liên ngành, tham mưu xây dựng
chế độ chính sách nói chung.
1.2. Vị trí, vai trò của cấp Bộ
Phạm vi quản lý của Bộ đối với ngành hay lĩnh vực được phân công bao
gồm mọi hoạt động của mọi tổ chức kinh tê, văn hóa, xã hội…Như vậy phạm
vi quản lý của Bộ là rất rộng nhưng cũng cần phân biệt rằng Bộ là cơ quan
trung ương quản lý theo cấp độ vĩ mô. Nhiệm vụ chủ yếu của các Bộ là giúp
chính phủ xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế- xã hội nói chung, tham
mưu xây dựng các chính sách, dự án lớn hay là tự mình đề ra những quy định
về lĩnh vực mà mình quản lý; đồng thời hướng dẫn các cơ quan nhà nước và
các tổ chức kinh tế văn hóa xã hội thi hành, kiểm tra và đảm bảo rằng những
quy định đó được chấp hành một cách đồng bộ.
2. Vị trí, Vai trò của công chức cấp Bộ
Dựa vào vị trí và chức năng của Bộ chúng ta có thể đánh giá được vai trò
và vị trí của công chức cấp Bộ. Công chức nói chung và công chức cấp Bộ
nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy
nhà nước
Công chức cấp Bộ là những người được nhà nước trao cho quyền lực nhà
nước để tiến hành các công việc mà nhà nước giao phó. Quản lý nhà nước ở
tầm vĩ mô đòi hỏi công chức cấp Bộ phải có cái nhìn tổng quát và toàn diện ở
nhiều khía cạnh của vấn đề. Sản phẩm của họ là những chiến lược, quy hoạch,
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét