Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ vị thành niên có rối loạn hành vi

không mong muốn tỉ lệ thuận với các rối loạn hướng nội và hướng ngoại ở các em theo
báo cáo của cha mẹ.
Về phương diện tình cảm, vì cha mẹ Châu Á không thường thể hiện trực tiếp tình
yêu của mình với con cái qua các hành vi ôm hôn, hay khen ngợi nên Liu cho rằng lời
khen và sự quan tâm của cha mẹ có ảnh hưởng tích cực lên hành vi của trẻ Châu Á nhiều
hơn so với ảnh hưởng của cùng hành vi đó trên trẻ Châu Âu.
1.2. Định nghĩa và phân loại phong cách làm cha mẹ
1.2.1. Định nghĩa phong cách làm cha mẹ
Từ những phân tích về phong cách làm cha mẹ, trong phạm vi nghiên cứu luận văn
này, chúng tôi đồng ý với khái niệm sau đây: “Phong cách làm cha mẹ là mô hình những
khuôn mẫu khác nhau mà cha mẹ sử dụng để quản lý và xã hội hóa đứa trẻ”.
1.2.2. Phân loại phong cách làm cha mẹ
+Phong cách dân chủ: Theo Diana Baumrind (1989), phong cách cha mẹ dân chủ
thì có nhiều ấm áp (vd: diễn tả nhiều cảm xúc tích cực tới đứa trẻ), đưa ra những luật lệ
phù hợp với lứa tuổi của trẻ và sẵn sàng thảo luận những luật lệ đưa ra mặc dù cha mẹ sẽ
là người quyết định cho thảo luận đó. Cha mẹ dân chủ thì nhiều sự nồng nhiệt với trẻ, đưa
ra những yêu cầu và mong muốn hợp lý với trẻ, những yêu cầu cha mẹ đưa ra thì phù hợp
với giai đoạn phát triển của trẻ, những luật lệ và những mong đợi đưa ra thì rõ ràng.
+ Phong cách độc đoán: Ngược lại với phong cách cha mẹ dân chủ, cha mẹ độc
đoán thì lại cố gắng kiểm soát, kể cả kiểm soát hành vi và cảm xúc của trẻ; cha mẹ ít thể
hiện sự nồng ấm với trẻ, khi trẻ làm gì sai hoặc thất bại thì cha mẹ sẽ trừng phạt trẻ thậm
chí là dùng những hình phạt về thể chất (đánh đập trẻ). Cha mẹ độc đoán không giải thích
lý do đằng sau những luật lệ họ đưa ra. Họ thường dùng cách dạy con bằng việc đưa ra
chỉ dẫn và không mời gọi trẻ tham gia vào việc cùng đưa ra những quyết định
+ Phong cách dễ dãi – nuông chiều: Tương tự như phong cách làm cha mẹ dân
chủ, phong cách làm cha mẹ dễ dãi- nuông chiều được mô tả bởi sự nồng ấm cao của cha
mẹ nhưng với sự kiểm soát thấp, ở bất cứ khía cạnh nào thì cha mẹ cũng cung cấp cho trẻ
rất ít những khung cấu trúc sẵn cũng như rất ít những kỷ luật dành cho trẻ. Với việc thiếu
cấu trúc và thiếu kiểm soát không có nghĩa là cha mẹ không chăm sóc hoặc bỏ mặc con
cái nhưng vì cha mẹ tin rằng trẻ sẽ phát triển và trưởng thành tốt nhất khi chúng được độc
lập và học qua cách trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống. Phong cách làm cha mẹ dễ dãi-
nuông chiều đưa ra rất ít yêu cầu cho những hành vi trưởng thành thậm chí còn khoan
dung cho những hành vi bốc đồng của trẻ.
+ Phong cách thờ ơ- không quan tâm: Được thể hiện thấp cả về sự nồng ấm lẫn
kiểm soát, cha mẹ cung cấp rất ít những kỷ luật cũng như không thể hiện tình cảm đối với
trẻ. Nói chung, cha mẹ rất ít quan tâm cũng như không hứng thú trong việc nuôi dạy con
cái, thậm chí họ cũng không đáp ứng những đòi hỏi hợp lý và những nhu cầu cần thiết
của trẻ. Cha mẹ thờ ơ- không quan tâm có rất ít những kỳ vọng, mong chờ vào hành vi
của trẻ.
1.3. Định nghĩa rối loạn hành vi, nguyên nhân ảnh hƣởng và can thiệp cho trẻ có rối
loạn hành vi
1.3.1. Định nghĩa rối loạn hành vi
Rối loạn hành vi là mô hình lặp lại và kéo dài hành vi chống đối xã hội, xâm khích
và mang tính thách thức. Những trẻ với rối loạn hành vi bộc lộ ở mức độ cao về hành vi
đánh nhau và bạo lực, tàn ác với súc vật hoặc độc ác với những người khác, phá hoại
nghiêm trọng về tài sản, trộm cắp, nói dối, trốn học, bỏ nhà ra đi, thường xuyên trong
trạng thái cáu kỉnh và có những hành vi thách thức bằng lời nói. Những hành vi liên
quan đến rối loạn hành vi thì vi phạm chủ yếu đến mong đợi xã hội (độ tuổi phù hợp của
trẻ) và thường xuyên có những hành vi nghiêm trọng hơn so với hành vi tinh nghịch trẻ
con bình thường hoặc có những hành vi mang tính nổi loạn chống đối vào lứa tuổi VTN
và tất cả những hành vi này phải kéo dài ít nhất 6 tháng.
1.3.2. Nghiên cứu dịch tễ học về rối loạn hành vi
1.3.2.1. Dịch tễ học về rối loạn hành vi trên thế giới
1.3.2.2. Dịch tễ học về rối loạn hành vi ở VN
1.3.3. Biểu hiện của rối loạn hành vi (theo các hệ thống bảng phân loại bệnh DSM-
ICD)
Theo DSM – IV (Hội tâm thần học Hoa Kỳ, 1994) các rối loạn hành vi ở trẻ em và
VTN được tập hợp thành bốn nhóm: [29]
Xâm hại người khác hay súc vật, bao gồm:
Phá hoại tài sản (hành vi xâm hại gây tổn thất tài sản)
Lừa đảo hay trộm cắp
Vi phạm nghiêm trọng các luật lệ
1.3.4. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến rối loạn hành vi
Nghiên cứu về nguyên nhân rối loạn hành vi phần lớn tập trung vào những yếu tố
nguy cơ xuất hiện tạo thành rối loạn hành vi. Bao gồm
1.3.4.1. Những yếu tố thuộc về cá nhân trẻ
1.3.4.2. Những yếu tố thuộc về gia đình
1.3.4.3. Những yếu tố về trường học
1.3.5. Huấn luyện hành vi cha mẹ, một phương thức hiệu quả để can thiệp rối loạn
hành vi
1.4. Trẻ vị thành niên và những vấn đề hành vi ở trẻ vị thành niên
1.4.1. Khái niệm trẻ vị thành niên
Trong khuôn khổ nghiên cứu luận văn “ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ
đến hành vi không thích nghi của trẻ vị thành niên có rối loạn hành vi” chúng tôi giới hạn
lại độ tuổi của khách thể nghiên cứu trong phạm vi từ 13 tuổi đến hết 16 tuổi.
1.4.2. Những biểu hiện rối loạn hành vi ở VTN
1.4.3. Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ và RLHV ở trẻ VTN
1.5. Tiểu kết về mối quan hệ giữa phong cách làm cha mẹ và RLHV ở trẻ
CHƢƠNG 2. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm của khách thể nghiên cứu
2.1.1. Mục đích lựa chọn và phân loại khách thể
2.1.2. Đặc điểm của nhóm trẻ đang sinh hoạt tại trường giáo dưỡng
2.1.3. Đặc điểm của nhóm trẻ học tại trường THCS Hiệp Phước
2.2. Tổ chức thu thập số liệu
2.2.1. Lựa chọn khách thể nghiên cứu
2.2.1.1. Giai đoạn 1: Lựa chọn khách thể nghiên cứu tại trường Giáo dưỡng số IV Đồng
Nai. Theo các bước như sau:
+ Bước 1: Nghiên cứu viên gửi thư mời tham gia nghiên cứu đến các bậc phụ
huynh trong những ngày cuối tuần khi cha mẹ đến thăm trẻ tại trường.
+ Bước 2: Với những cha mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu, nghiên cứu viên sẽ trực
tiếp gặp để giới thiệu thêm về nghiên cứu đồng thời hẹn thời gian đến làm bảng hỏi và
phỏng vấn đồng thời xin phép cha mẹ được tiến hành điều tra khảo sát bằng bảng hỏi đối
với con cái của họ.
+ Bước 3: Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi với trẻ, khảo sát bằng bảng hỏi và
phỏng vấn với cha mẹ.
2.2.1.2. Giai đoạn 2: Lựa chọn khách thể nghiên cứu tại trường THCS Hiệp Phước
+ Bước 1: Làm việc với nhà trường, giới thiệu qua về nghiên cứu và các bước tiến hành
với những người có trách nhiệm.
+ Bước 2: Gửi thư mời tham gia nghiên cứu đến các phụ huynh trong ngày họp
phụ huynh đầu năm. Những cha mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ gửi lại thư mời tham
gia nghiên cứu cùng thông tin để nghiên cứu viên liên lạc.
+ Bước 3: Liên lạc với những cha mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu để giới thiệu
thêm về nghiên cứu đồng thời hẹn thời gian đến làm bảng hỏi và phỏng vấn đồng thời xin
phép cha mẹ được tiến hành điều tra khảo sát bằng bảng hỏi đối với con cái của họ.
+ Bước 4: Điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn các bậc cha mẹ và điều tra bằng
bảng hỏi trên con cái.
2.3. Các loại thang đo sử dụng trong nghiên cứu
2.3.1. Thang đo các biểu hiện rối loạn hành vi của trẻ:
Để đo các biểu hiện rối loạn hành vi của trẻ, chúng tôi sử dụng thang CBCL (tên
tiếng Anh là Child Behavior Cheklist) tạm dịch là Bảng liệt kê hành vi trẻ em.
2.3.2. Thang đo phong cách làm cha mẹ và đặc điểm hành vi của cha mẹ
Để đo vấn đề này, chúng tôi sử dụng 2 thang đo, đó là PAQ và CRPBI
+ Thang PAQ (tên tiếng Anh: parental authority questionaire) tạm dịch là Bộ câu
hỏi về phong cách làm cha mẹ, gồm có 30 câu hỏi đánh giá theo các mức độ sau:
1 = Hoàn toàn không đúng.
2 = Không đúng phần nhiều.
3 = Đúng phần nhiều.
4 = Hoàn toàn đúng.
Tác giả của thang đo này là Dr. John R. Buri, thuộc khoa tâm lý của trường Đại
học St. Thomas. Cấu trúc của thang đo gồm 3 tiểu thang đo phong cách làm cha mẹ đó là:
- Phong cách cha mẹ dễ dãi, nuông chiều
- Phong cách làm cha mẹ độc đoán
- Phong cách làm cha mẹ dân chủ
Độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo:
Thang CRPBI (Child’s Report of Parental Behavior) tạm dịch là báo cáo hành vi
của cha mẹ dành cho con cái gồm 30 câu được Earl S. Schaefer thuộc Viện sức khỏe tâm
thần quốc gia nghiên cứu và phát triển. Cấu trúc của thang đo gồm 3 tiểu thang đo để đo
3 phạm trù
- Quan tâm một cách thống nhất – Thiếu quan tâm:
- Ủng hộ sự độc lập – Kiểm soát về tâm lý, cảm xúc:
- Chấp nhận và Bỏ mặc:
Độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo:
Quá trình Việt hóa và sử dụng các thang đó CBCL, PAQ và CRPBI ở Việt Nam:
2.4. Chiến lƣợc phân tích
Trong đề tài này, số liệu khảo sát thực tiễn được tôi xử lý theo từng cặp cha mẹ -
con cái. Để xử lý số liệu điều tra, tôi đã sử dụng phương pháp thống kê toán học, số liệu
thu được sau khảo sát thực tiễn được xử lý bằng chương trình SPSS phiên bản 13.
Bước 1, chúng tôi sử dụng các phép thống kê mô tả để có được một bức tranh về
tần suất, tỉ lệ phần trăm các đặc điểm của mẫu nghiên cứu mà chúng tôi cho rằng ít nhiều
có ảnh hưởng tới phong cách làm cha mẹ cũng như các vấn đề rối loạn hành vi ở trẻ bao
gồm: (a) tình trạng kinh tế gia đình; (b) trình độ học vấn của cha mẹ; (c) số lượng thành
viên trong gia đình; (d) nghề nghiệp.
Bước 2, sử dụng phép kiểm định bằng giá trị hệ số tương quan (Pearson) cho các
biến liên tục và phân phối chuẩn để có kết luận về mối tương quan giữa các phong cách
làm cha mẹ (dễ dãi - nuông chiều; độc đoán – nghiêm khắc và dân chủ); hành vi làm cha
mẹ (thể hiện qua các đặc điểm hành vi nồng ấm; kiểm soát tâm lý và nhất quán trong
hành vi ứng xử với con cái) và những vấn đề hành vi của trẻ (bao gồm hành vi xâm khích
và hành vi sai phạm).
Hệ số này được tính theo công thức
Bước 3, sau khi có một bức tranh chung về sự tương quan giữa phong cách hành
vi làm cha mẹ và những vấn đề hành vi của trẻ, chúng tôi tiến hành mô hình kiểm định
(với những hành vi xâm khích và hành vi phá luật là biến phụ thuộc; phong cách làm cha
mẹ và hành vi làm cha mẹ là biến tác động và các biến đặc điểm như (a) tình trạng kinh
tế gia đình; (b) trình độ học vấn của cha mẹ; (c) số lượng thành viên trong gia đình; (d)
nghề nghiệp là các biến tác động). Kết luận của các phép kiểm định này cho biết dưới tác
động của các biến đặc điểm, liệu mối liên hệ giữa phong cách, hành vi làm cha mẹ và rối
loạn hành vi ở trẻ ở từng nhóm (trường Giáo Dưỡng và trường Hiệp Phước còn có ý
nghĩa nữa hay không).

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm khách thể nghiên cứu
Với những đặc điểm về trình độ học vấn, điều kiện kinh tế của gia đình cũng như
số thành viên trong gia đình, nghề nghiệp của cha mẹ chúng ta đã có một bức tranh khái
quát về khách thể nghiên cứu nhằm tìm hiểu cũng như lý giải cho những yếu tố ảnh
hưởng đến phong cách làm cha mẹ cũng như ảnh hưởng đến những vấn đề hành vi ở trẻ
VTN.
3.2. Mối tƣơng quan giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi hƣớng ngoại
của trẻ VTN
Trong phần này, chúng tôi mô tả mối quan hệ giữa phong cách làm cha mẹ với các
hành vi xâm khích và hành vi sai phạm nói chung trong nhóm mẫu điều tra. Mục đích của
phần kiểm định này muốn đưa ra những kết luận chung nhất về mối quan hệ giữa mức độ
rối loạn hành vi ở trẻ và những đặc điểm của phong cách làm cha mẹ. Vì các vấn đề hành
vi của trẻ trong độ tuổi vị thành niên thường được chia làm 2 nhóm là hành vi xâm khích
và hành vi sai phạm nên chúng tôi tiến hành các phép kiểm định cho từng nhóm hành vi
nói trên. Giả thuyết đặt ra với phong cách làm cha mẹ là các phong cách dễ dãi nuông
chiều hay độc đoán, nghiêm khắc có mối tương quan thuận với tỉ lệ hành vi sai phạm và
hành vi xâm khích của trẻ VTN trong khi đó phong cách làm cha mẹ dân chủ có mối
quan hệ nghịch với tỉ lệ rối loạn hành vi ở trẻ. Ở cấp độ đặc điểm hành vi làm cha mẹ, giả
thuyết của chúng tôi là sự nồng ấm và nhất quán trong hành vi của cha mẹ càng cao thì tỉ
lệ hành vi sai phạm và hành vi xâm khích càng thấp và ngược lại cha mẹ kiểm soát tâm lý
SyySxx
Sxy
yyxx
yyxx
r





22
)()(
))((
càng nhiều thì tỉ lệ hành vi xâm khích và hành vi sai phạm càng tăng. Phép phân tích
tương quan đã được dùng để kiểm định mối quan hệ giữa các biến, kết quả kiểm định
được thể hiện như sau:
Kết quả trong bảng 3.9 cho thấy sự đồng thuận với kết luận của các công trình
nghiên cứu đi trước về phong cách làm cha mẹ dễ dãi nuông chiều và phong cách làm cha
mẹ độc đoán nghiêm khắc đều làm tăng các biểu hiện rối loạn hành vi ở trẻ. Kết quả của
nghiên cứu này cũng thống nhất với các nghiên cứu đi trước về tỉ lệ tương quan cao giữa
nhóm hành vi sai phạm và hành vi xâm khích ở VTN (với hệ số tương quan lần lượt là
0,809 dựa trên số liệu tự báo cáo của trẻ và 0,715 căn cứ trên đánh giá của cha mẹ)
Với phong cách làm cha mẹ dân chủ, kết quả của nghiên cứu này có phần hơi khác
với mong đợi. Theo kết quả của các nghiên cứu đi trước (phần lớn được tiến hành ở
phương Tây) phong cách làm cha mẹ dân chủ đặc trưng bởi sự ấm áp và thời gian dành
cho con cái để hướng dẫn và điều chỉnh hành vi của chúng. Cha mẹ có phong cách dân
chủ thường có xu hướng giải thích và thống nhất với con cái về những nội quy cũng như
thường áp dụng những hình thức không bạo lực để phạt. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra
không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa hành vi xâm khích và phong cách làm
cha mẹ dân chủ. Hơn nữa, trái với mong đợi, chúng ta vẫn thấy sự tương quan thuận giữa
phong cách làm cha mẹ dân chủ và hành vi sai phạm (với mức độ rất yếu so với mối
tương quan giữa 2 phong cách làm cha mẹ còn lại với hệ số là (0,171). Có nghĩa là cha
mẹ càng có xu hướng sử dụng phong cách dân chủ thì con cái càng có nhiều cơ hội tham
gia vào những hành vi sai phạm nhiều hơn.
Như vậy, để kết luận cho phần này, chúng ta có thể nói số liệu nghiên cứu ủng hộ
các kết quả nghiên cứu đi trước ở phương Tây khẳng định phong cách làm cha mẹ dễ dãi
nuông chiều và phong cách làm cha mẹ độc đoán nghiêm khắc làm tăng tỉ lệ rối loạn
hành vi ở trẻ. Tuy nhiên, tác động tích cực của phong cách làm cha mẹ dân chủ đến rối
loạn hành vi ở VTN không được tìm thấy trong nghiên cứu này.
Những nghiên cứu đi trước đã chỉ ra rằng kiểm soát tâm lý càng cao thì càng ảnh
hưởng đến rối loạn hành vi nơi trẻ VTN. Và kết quả nghiên cứu cũng đồng thuận với giả
thuyết nghiên cứu ban đầu.Với hành vi kiểm soát tâm lý cao thì có mối quan hệ thuận với
hành vi xâm khích và hành vi sai phạm lần lượt với hệ số tương quan là (r = 0,127; r =
0,183).
Trong những nghiên cứu đi trước cho rằng hành vi làm cha mẹ nhất quán trong
việc duy trì luật lệ thì tương quan nghịch với hành vi sai phạm và hành vi xâm khích. Và
với kết quả kiểm định từ bảng 3.10 cũng cho kết quả giống như mong đợi, hành vi làm
cha mẹ nhất quán càng cao thì hành vi xâm khích và hành vi sai phạm ở trẻ VTN càng ít
lần lượt với hệ số tương quan như sau (r = - 0,197; r = - 0,230).
Riêng với sự nồng ấm của cha mẹ, số liệu nghiên cứu khẳng định không có mối
quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê.
Tuy nhiên, điều thú vị là kiểm soát tâm lý có mối tương quan có ý nghĩa với hành
vi sai phạm cho dù hệ số tương quan không lớn lắm (r = 0,183), điều này có thể thống
nhất với giải thích bên trên của chúng tôi. Có nghĩa là trước sự kiểm soát và áp đặt của
các bậc phụ huynh, các em thường tuân theo và không có những hành vi phản kháng trực
tiếp (thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi xâm khích) nhưng có thể có những các
phản ứng gián tiếp (đằng sau lưng bố mẹ/ khi bố mẹ không có mặt) qua những hành vi sai
phạm, hành vi phá luật.
3.2.1. Mối tương quan giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi hướng ngoại
của trẻ VTN ở trường Giáo dưỡng số IV
Kết quả từ những nghiên cứu đi trước cho rằng, phong cách cha mẹ dân chủ là một
trong những loại phong cách tối ưu và là phong cách được đánh giá là tốt nhất cho sự
phát triển của trẻ. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không tương đồng với những kết quả đi
trước, không chỉ riêng với phong cách dân chủ mà cả phong cách độc đoán của các bậc
cha mẹ ở trường Giáo dưỡng đều không có ý nghĩa về mặt thống kê.
Tuy nhiên, với phong cách dễ dãi nuông chiều theo kết quả thống kê cho thấy có
tương quan với hành vi sai phạm (r = 0,236)
Ở cấp độ hành vi làm cha mẹ, chúng tôi cũng tiến hành phân tích tìm mối liên hệ
giữa hành vi làm cha mẹ với rối loạn hành vi ở trẻ VTN.
Tương tự như khía cạch phong cách làm cha mẹ, theo kết quả thống kê về cấp độ
hành vi làm cha mẹ thì hành vi nồng ấm và hành vi kiểm soát tâm lý của cha mẹ đều ảnh
hưởng đến hành vi sai phạm ở trẻ VTN. Cụ thể là hành vi nồng ấm tương quan nghịch
với hành vi sai phạm ở trẻ VTN (r = -0,267).
Nhìn chung, dựa trên số liệu thống kê về mối tương quan giữa hai cấp độ phong
cách làm cha mẹ và hành vi làm cha mẹ với rối loạn hành vi ở trẻ VTN thì đều có chung
một kết luận: Phong cách nghiêm khắc độc đoán và phong cách dễ dãi nuông chiều cũng
như hành vi kiểm soát tâm lý và nồng ấm thì có tương quan với rối loạn hành vi hướng
ngoại ở trẻ VTN trong trường Giáo dưỡng. Thông qua kết quả thu được, chúng tôi cũng
nhận ra rằng phong cách dân chủ dường như không có ý nghĩa về mặt thống kê. Điều này
có sự khác biệt với những nghiên cứu đi trước khi dự báo phong cách này có ảnh hưởng
tích cực đến hành vi của trẻ VTN.
3.2.2. Mối tương quan giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi hướng ngoại
của trẻ VTN ở trường THCS Hiệp Phước
Tương tự như kết quả thu được về mối tương quan giữa phong cách làm cha mẹ và
hành rối loạn hành vi ở trẻ VTN ở trường Giáo dưỡng. Kết quả thu được ở nhóm trường
THCS Hiệp Phước cũng cho kết quả tương tự. Phong cách dễ dãi nuông chiều và phong
cách độc đoán có ảnh hưởng đến hành vi phá luật ở trẻ. Và một lần nữa phong cách dân
chủ cũng không có ý nghĩa về mặt thống kê trong kết quả nghiên cứu này.
Như vậy, với kết quả thu được đã chứng tỏ không riêng gì cha mẹ phương tây mà
cha mẹ ở VN, hai phong cách dễ dãi nuông chiều và phong cách độc đoán đều dự báo
những ảnh hưởng không tốt đến hành vi của trẻ VTN nói chung, tuy nhiên với VTN Việt
Nam, mối liên quan giữa phong cách làm cha mẹ và hành vi sai phạm hay hành vi phá
luật thể hiện rõ ràng hơn và có ý nghĩa thống kê trong mẫu nghiên cứu này.
Riêng với phong cách dân chủ, mặc dù được dự báo là phong cách tối ưu và có
ảnh hưởng tích cực đên sự phát triển hành vi ở trẻ VTN. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu
lại cho thấy nó không có ý nghĩa về mặt thống kê với những vấn đề hành vi ở trẻ; điều
này cũng tương tự như kết quả thu được ở nhóm trường Giáo dưỡng và một lần nữa
khẳng định sự khác biệt về văn hoá và cách nhìn nhận về hành vi của cha mẹ có ảnh
hưởng đến mối liên hệ này.
Để tìm hiểu sâu hơn về sự ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi của
trẻ VTN, chúng tôi cũng tiến hành phân tích dưới cấp độ hành vi làm cha mẹ. Và kết quả
thu được như sau:
Tương tự như cấp độ phong cách làm cha mẹ, ở cấp độ hành vi làm cha mẹ cũng
cho một kết quả tương đồng. Bên cạnh đó, số liệu thu được từ nhóm VTN trường Hiệp
Phước cũng có nhiều điểm thống nhất với nhóm VTN trường Giáo Dưỡng chỉ ngoại trừ
một điểm là hành vi nồng ấm của cha mẹ trong nhóm này cũng có mối liên hệ nghịch với
hành vi xâm khích ở trẻ VTN.
Tiểu kết: Khi xem xét sự khác biệt trong các số liệu do cha mẹ khai bao và do trẻ
khai báo, chúng tôi cho rằng số liệu sẽ chính xác hơn nếu đảm bảo được yếu tố khách
quan. Có nghĩa là, số liệu báo cáo về rối loạn hành vi của trẻ do cha mẹ khai thông tin sẽ
bao quát và chính xác hơn so với số liệu trẻ tự khai về hành vi của mình. Ngược lại,
thông tin về hành vi làm cha mẹ cũng như phong cách làm cha mẹ do trẻ báo cáo sẽ cụ
thể và chi tiết hơn những thông tin tự đánh giá của cha mẹ. Vì vậy, trong phần tiếp theo,
khi so sánh giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi của trẻ VTN ở hai trường
Giáo dưỡng số IV và trường THCS Hiệp Phước. chúng tôi sẽ tiến hành phân tích thông
tin dựa trên báo cáo của trẻ về phong cách và hành vi làm cha mẹ và báo cáo của cha mẹ
về rối loạn hành vi của trẻ.
3.2.3. Bàn luận và so sánh giữa phong cách làm cha mẹ và rối loạn hành vi của trẻ
VTN ở hai trường Giáo dưỡng số IV và trường THCS Hiệp Phước
Để xác định liệu có sự khác nhau trong mối tương quan giữa phong cách làm cha
mẹ; hành vi làm cha mẹ với tỉ lệ rối loạn hành vi ở trẻ không, chúng tôi tiến hành phép
phân tích hồi quy đơn biến với biến Nhóm (giá trị 1 = nhóm trẻ tại trường giáo dưỡng và
2 = nhóm trẻ tại trường Hiệp Phước). Bất cứ khi nào sự tương tác giữa biến Nhóm và
kiểu hành vi làm cha mẹ hoặc phong cách làm cha mẹ có ý nghĩa thống kê nghĩa là có thể
kết luận mối quan hệ giữa một phong cách làm cha mẹ hoặc hành vi làm cha mẹ cụ thể
nào đó và rối loạn hành vi có sự khác biệt giữa hai nhóm ở mức ý nghĩa thống kê.
Căn cứ trên phép kiểm định này, kết quả cho thấy chỉ có sự khác biệt giữa 2 nhóm
trẻ VTN trong mối quan hệ giữa phong cách làm cha mẹ độc đoán và hành vi xâm khích
(F = 6,44 P<0,05) là có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra, mối quan hệ giữa kiếm soát tâm lý và
hành vi sai phạm (F = 10,857, P < 0,001) cũng có ý nghĩa thống kê cao.
Số liệu cho thấy chỉ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa phong cách và hành
vi làm cha mẹ và những vấn đề hành vi ở 2 nhóm trẻ ở phong cách làm cha mẹ độc đoán
và hành vi kiểm soát tâm lý của cha mẹ. Không có sự khác biệt có ý nghĩa đối với các
phong cách làm cha mẹ dân chủ và nuông chiều cũng như hành vi làm cha mẹ nồng ấm
và nhất quán với hành vi không thích nghi ở hai nhóm trẻ.
Tại sao lại có sự khác biệt trong mối quan hệ giữa phong cách, hành vi làm cha mẹ
và rối loạn hành vi của con cái ở nhóm trẻ VTN trường Giáo Dưỡng và trường Hiệp
Phước. Lý do có thể là đây là nhóm trẻ đặc thù, trung bình các em có thời gian sinh hoạt
ở trong trại từ ba tháng trở lên nên không có nhiều sự tương tác với gia đình. Hơn nữa,
qua phỏng vấn, nói chuyện cùng các em, chúng tôi thấy rằng đây là những em có mức độ
rối loạn hành vi khá nghiêm trọng và ngay cả trước khi được đưa vào trường Giáo dưỡng,
các em cũng ít khi dành thời gian ở nhà cũng như giao tiếp với bố mẹ, có lẽ chính vì vậy
bố mẹ các em dù có áp dụng những phong cách, hành vi làm cha mẹ thế nào đi chăng nữa
thì cũng không ảnh hưởng đến hành vi của các em. Đối với nhóm trẻ trong trường Giáo

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét