Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT Ở NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN THANH OAI TP HÀ NỘI

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao nên tại thời điểm chưa
thu hoạch được, chưa có hàng hoá để bán thì người nông dân thường ở trong tình trạng
thiếu thu nhập để đáp ứng nhu cầu về chi tiêu tối thiểu, từ đó tạo điều kiện để nạn cho
vay nặng lãi hoành hoành, đặc biệt cơ bản của tín dụng cho vay nặng lãi là lãi suất cho
vay rất cao, làm cho hộ sản xuất đã khó khăn lại càng khó khăn hơn và không bao giờ
thoát khỏi vòng quẩn đó được. Nạn cho vay nặng lãi không những không thúc đẩy sản
xuất phát triển mà còn kìm hãm sản xuất, đẩy người nông dân đến chỗ nghèo túng hơn,
gây ra tiêu cực ở nông thôn.
Đứng trước tình hình trên ngân hàng đã nắm bắt được thực tế và tiến hành cho
vay trực tiếp đối với hộ sản xuất. Tạo điều kiện cho hộ sản xuất tiếp xúc với vốn vay
ngân hàng, các ngân hàng đã đơn giản hoá các thủ tục cho vay, tổ chức mạng lưới ngân
hàng tới tận các thôn xóm để đáp ứng được nhu cầu vốn cho sản xuất, khuyến khích
người sản xuất chủ động trong đầu tư, đổi mới sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh
góp phần làm giàu cho bản thân và cho xã hội.
Tín dụng ngân hàng thông qua việc mở rộng cho vay đối với hộ sản xuất đã góp
phần phát triển kinh tế hộ, giải quyết được vần đề cho vay nặng lãi ở nông thôn, ngăn
chặn được tình trạng một số kẻ có tiền lợi dụng bóc lột người lao động để thu siêu lợi
nhuận.
e. Tín dụng ngân hàng kiểm soát bằng đồng tiền và thúc đẩy sản xuất thực
hiện chế độ hạch toán kinh tế.
Các ngân hàng thương mại với tư cách là một trung gian tài chính hoạt động
trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán có khả năng kiểm soát bằng đồng tiền đối với
hoạt động của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng thanh toán.
Để thực hiện được món vay, cán bộ tín dụng phải nắm được tình hình sản xuất
kinh doanh trước, trong và sau khi cho vay có đạt được hiệu quả hay không để tiếp tục
đầu tư mở rộng sản xuất. Qua đó tín dụng ngân hàng có thể kiểm soát được các hoạt
động của hộ sản xuất.
Nguyên tắc cơ bản của tín dụng ngân hàng là vay vốn phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc
và lãi đúng thời hạn khi sử dụng vốn vay các hộ sản xuất phải thực hiện đầy đủ các cam
kết đã ghi trong hợp đồng tín dụng, phải trả nợ đúng hạn và các điều kiện kèm theo
khác, như vậy để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có đủ lợi nhuận trang trải lãi vay
ngân hàng thì các hộ sản xuất phải hạch toán kinh tế.
f. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy hộ sản xuất tiếp cận mở rộng sản xuất
hàng hoá.
Ngân hàng đã tạo ra một bước chuyển hướng quan trọng trong phương thức sản
xuất của HSX khi được ngân hàng đầu tư vốn, HSX phải hạch toán kinh tế sao cho vốn
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
vay được sử dụng có hiệu nhất, để tăng thu giảm chi nhằm thu lợi nhuận, để hoàn trả cả
vốn và lãi vay cho ngân hàng. Muốn vậy hộ sản xuất phải nghĩ tới thị trường để tiêu thụ
sản phẩm thì mới thu được lợi nhuận cao, giúp hộ sản xuất hình thành những biện pháp
tốt nhất để tiếp cận và thích nghi với thị trường như nâng cao chất lượng sản phẩm, thay
đổi các loại cây trồng vật nuôi cho phù hợp với nhu cầu thị trường, cải tiến cách thức
sản xuất để tiết kiệm vật tư, giảm chi phí, thu hiệu quả cao nhờ sự tài trợ vốn của ngân
hàng để mở rộng qui mô sản xuất, nhờ đó tính chất sản xuất hàng hoá cũng được tăng
lên.
g. Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị xã hội.
Tín dụng ngân hàng không những thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to
lớn về mặt chính trị xã hội. Tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động trong cả nước nói chung và ở nông thôn nói riêng đặc biệt là với
một nước có trên 80% dân số sống ở nông thôn. Tín dụng ngân hàng thông qua cho vay
mở rộng sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người
lao động, hạn chế được tệ nạn xã hội.
Tín dụng ngân hàng góp phần làm giảm bớt những tệ nạn xã hội trong quá trình
thực hiện chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần, tạo thêm công ăn việc làm cho hộ
sản xuất, tăng thu nhập, hạn chế bớt những phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữ vững
được nền tảng an ninh chính trị, góp phần củng cố lòng tin của dân chúng nói chung và
của các hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Tóm lại: Tín dụng ngân hàng có vai trò to lớn đối với hộ sản xuất cả về mặt kinh
tế lẫn xã hội, chính trị để tín dụng ngân hàng đến với hộ sản xuất, các ngân hàng phải
ngày càng tự hoàn thiện mạng lưới tổ chức, biện pháp nghiệp vụ của mình để góp phần
đáp ứng một cách thuận tiện, kịp thời nhu cầu vốn cho hộ sản xuất tạo điều kiện cho hộ
sản xuất mở rộng sản xuất kinh doanh ngoài những nỗ lực của bản thân ngân hàng thì
Nhà nước, các ngành, các cấp có liên quan cũng cần phải xây dựng các chính
sách kinh tế phù hợp, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các ngân hàng ngày càng
được mở rộng và đạt hiệu quả cao hơn.
1.1.3. Vị trí của kinh tế hộ sản xuất trong nền kinh tế.
Nước ta là một nước nông nghiệp thuần tuý với trên 80% dân số sống ở khu vực
nông thôn, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chiếm giữ vai trò hết sức
quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và phát triển kinh tế
của đất nước. “Chỉ khi nào nông thôn được công nghiệp hoá - hiện đại hoá, khi học vấn,
kiến thức và công nghệ tiên tiến nằm trong tay nông dân, được bà con sử dụng thành
thạo và vững chắc thay cho “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, khi xưởng máy mọc
lên ở các làng mạc, thị trấn, ngành nghề phát triển rộng khắp, một bộ phận đáng kể nông
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
dân trở thành công nhân công nghiệp, hình thành cục diện mới ở các vùng nông thôn thì
lúc đó mới có thể nói công nghiệp hoá - hiện đại hoá được hoàn thành cơ bản trên phạm
vi cả nuớc”. Chính vì lẽ đó kinh tế nông nghiệp nông thôn mà chủ nhân là HSX có vị trí
vô cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước.
Hộ sản xuất ra đời là một yêu cầu bức xúc của ngành kinh tế, thể hiện chủ
trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Hộ sản xuất đang trở thành một
nhân tố quan trọng trong sự tiến tới CNH - HĐH và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình
xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Thực chất HSX là
đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất cũng như tiêu thụ sản
phẩm mà mình làm ra. Nói cách khác hộ sản xuất là chủ thể trong mọi mối quan hệ sản
xuất kinh doanh. Thành phần chủ yếu của hộ sản xuất bao gồm: Hộ nông dân, cá thể, hộ
gia đình xã viên, công ty cổ phần, công ty TNHH hoạt động sản xuất kinh doanh trong
lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Như vậy hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn. Hộ sản xuất
hoạt động trong nhiều ngành nghề nhưng hiện nay phần lớn hoạt đông trong lĩnh vực
nông nghiệp và nông thôn, các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh rất đa dạng và phát
triển ngày càng mạnh.
Tóm lại :HSX là một hình thức tổ chức kinh tế có vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phân công lao động dẫn tới chuyên môn hoá từ đó tạo ra khả năng hợp tác
lao động trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
1.2. Quy trình, phương thức cho vay hộ sản xuất.
1.2.1. Điều kiện cho vay đối với hộ sản xuất:
Hộ sản xuất muốn được vay vốn ngân hàng phải có đầy đủ 5 điều kiện sau đây:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật.
+ Cư trú (thường trú, tạm trú) tại địa bàn huyện, thị xã, thành phố (trực
thuộc tỉnh) nơi chi nhánh NHNo&PTNT cho vay đóng trụ sở. Trường hợp người vay
ngoài địa bàn nói trên giao cho giám đốc Sở giao dịch, chi nhánh cấp 1 quyết định. Nếu
người vay ở địa bàn liên kề (thôn, làng, bản) ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, khi cho vay giám đốc NHNo&PTNT nơi cho vay phải thông báo cho giám
đốc NHNo&PTNT nơi người cư trú biết.
+ Đại diện cho hộ gia đình để giao dịch với NHNo&PTNT là chủ hộ hoặc
người đại diện của hộ; chủ hộ hoặc người đại diện phải có đầy đủ năng lực và năng lực
hành vi dân sự.
- Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp.
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết:
+ Có vốn tự có tham gia vào dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, đời sống. Mức vốn tự có thực hiện theo điều 12 QĐ 1627/2001/NHNN; Cụ thể cho
vay trung, dài hạn khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu là 10% trong tổng nhu cầu
vốn, cho vay ngắn hạn vốn tự có là 10%.
+ Kinh doanh có hiệu quả: có lãi; trường hợp lỗ thì phải có phương án khả
thi khắc phục lỗ đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
+ Không có nợ khó đòi hoặc nợ quá hạn trên 6 tháng tại NHNo&PTNT Việt Nam.
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu
quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi.
- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ,
NHNN Việt Nam và hướng dẫn của NHNo&PTNT Việt Nam.
1.2.2. Quy trình cho vay hộ sản xuất.
a, Lập hồ sơ và xét duyệt cho vay
*/ Lập hồ sơ
- Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi đến ngân hàng giấy đề nghị vay vốn
và các tài liệu chứng minh đủ điều kiện vay vốn. Khách hàng phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi đến ngân hàng.
- Ngân hàng hướng dẫn các loại tài liệu khách hàng cần gửi đến cho ngân hàng
phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loại khách hàng, loại cho vay và khoản vay.
*/ Xét duyệt cho vay
- Cán bộ tín dụng được phân công giao dịch với khách hàng có nhu cầu vay vốn
có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn và tiến hành thẩm định các
điều kiện vay vốn theo quy định.
- Trưởng phòng tín dụng, hoặc tổ trưởng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính
hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ và báo cáo thẩm định do cán bộ tín dụng lập, tiến hành xem
xét, tái thẩm định (nếu cần thiết) hoặc trực tiếp thẩm định trong trường hợp kiêm làm
cán bộ tín dụng, ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định. tái thẩm định (nếu có) và trình giám
đốc quyết định.
- Giám đốc NHNo&PTNT nơi cho vay căn cứ báo cáo thẩm định, tái thẩm định
(nếu có) do phòng tín dụng trình, quyết định cho vay hoặc không cho vay.
Nếu cho vay thì NHNo&PTNT nơi cho vay cùng khách hàng lập hợp
đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay (trường hợp cho vay có bảo đảm bằng tài
sản).
Nếu khoản vay vượt quyền phán quyết thì thực hiện theo quy định hiện
hành của NHNo&PTNT Việt Nam;
Nếu không cho vay thì thông báo cho khách hàng biết.
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
8
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
- Hồ sơ khoản vay được giám đốc ký duyệt cho vay được chuyển cho kế toán
thực hiện nghiệp vụ hạch toán kế toán, thanh toán, chuyển thủ quỹ để giải ngân cho
khách hàng (nếu cho vay bằng tiền mặt).
- Thời gian thẩm định cho vay
Các dự án trong quyền phán quyết: Trong thời gian không quá 5 ngày làm việc
đối với cho vay ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay trung, dài hạn
kể từ khi NHNo&PTNT nơi cho vay nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông
tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của NHNo&PTNT Việt Nam, NHNo&PTNT
nơi cho vay phải quyết định và thông báo việc cho vay hoặc không cho vay đối với
khách hàng.
Các dự án, phương án vượt quyền phán quyết: Trong thời gian không quá
5 ngày làm việc đối với cho ngắn hạn và không quá 15 ngày làm việc đối với cho vay
trung, dài hạn kể từ khi NHNo&PTNT nơi cho vay nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn
hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của NHNo&PTNT Việt Nam,
NHNo&PTNT nơi cho vay phải làm đầy đủ thủ tục trình lên NHNo&PTNT cấp trên.
Trong thời gian không quá 5 ngày làm việc đối với cho ngắn hạn và không quá 15 ngày
làm việc đối với cho vay trung, dài hạn kể từ ngày nhận đủ hồ sơ trình, NHNo&PTNT
cấp trên phải thông báo chấp thuận hoặc không chấp thuận.
- NHNo&PTNT nơi cho vay có trách nhiệm niêm yết công khai thời hạn tối đa
thẩm định cho vay theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam.
b. Giải ngân, thu nợ
*/ Giải ngân: Hồ sơ các khoản vay được giám đốc ký duyệt cho vay được chuyển cho kế
toán thực hiện nghiệp vụ hạch toán kế toán, thanh toán, chuyển thủ quỹ để giải ngân cho
khách hàng.
*/ Thu nợ:Căn cứ vào đặc đểim sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khả năng tài chính, thu
nhập và nguồn trả nợ của khách hàng, NHNo&PTNT nơi cho vay và khách hàng thoả
thuận về việc trả nợ gốc và lãi tiền vay như sau:
- Các kỳ hạn trả gốc.
- Các kỳ hạn trả lãi cùng với nợ gốc hoặc theo kỳ hạn riêng: tháng, quý, năm.
- Đồng tiền trả nợ và bảo tàon giá trị nợ gốc bằng các hình thức thích hợp, phù
hợp với quy định của pháp luật.
Khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi, nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn và
không được điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc, hoặc lãi; hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc
lãi, thì NHNo&PTNT nơi cho vay chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn và khách
hàng phải trả lãi suất nợ quá hạn.
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
Trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn, số lãi phải trả chỉ tính từ ngày vay đến
ngày trả nợ.Giám đốc chi nhánh thoả thuận cùng khách hàng về điều kiện, số phí phải
trả trước hạn và phải được ghi vào hợp đồng tín dụng.
c, Giám sát
*/ Nội dung kiểm tra, giám sát
NHNo&PTNT nơi cho vay có trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn,
sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng, nhằm đôn đốc khách hàng thực hiện đúng,
đầy đủ những cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, nội dung kiểm tra, giám
sát như sau:
- Kiểm tra, giám sát trước khi cho vay: là việc thẩm định, tái thẩm định các điều
kiện vay vốn theo quy định.
- Kiểm tra trong khi cho vay: là việc kiểm tra, tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của
hồ sơ khách hàng, hồ sơ vay vốn, hồ sơ tài sản đảm bảo tiền vay và các yếu tố chứng từ.
Sự khớp đúng giữa chứng minh thư và người vay, giữa nhận tiền và người có tên trên
giấy đề nghị vay vốn…
- Kiểm tra sau khi cho vay: Kiểm tra sử dụng vốn vay theo mục đích sử dụng đã
ghi trong hợp đồng tín dụng. Kiểm tra tiến độ thực hiện dự án, phưng án.Kiểm tra hiện
trạng tài sản đảm bảo tiền vay.
*/ Xử lý vốn vay: Giám đốc NHNo&PTNT nơi cho vay căn cứ vào kết quả kiểm
tra theo mức độ vi phạm của khách hàng quyết định xử lý như sau:
- Tạm ngừng cho vay trong các trường hợp: Khách hàng sử dụng vốn vay sai
mục đích, cung cấp thông tin sai sự thật.
- Chấm dứt cho vay: trong các trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng tín
dụng đã cam kết nhưng không khắc phục, sửa chữa, khách hàng ngừng sản xuất có thể
đẫn đến phá sản, quá trình tổ chức lại sản xuất không xác định được người chịu trách
nhiệm chính trước pháp luật về quan hệ vay vốn và trả nợ ngân hàng.
- Khởi kiện trước pháp luật: NHNo&PTNT nơi cho vay có quyền khởi kiện
(dân sự, hình sự) trong các trường hợp sau:
+ Khách hàng có nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan, nhưng không có biện pháp khả
thi để trả nợ ngân hàng.
+ Khách hàng có nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan, nhưng không có biện
pháp khắc phục.
+ Khách hàng có năng lực tài chính để trả nợ nhưng cố tính trốn tránh trả nợ
ngân hàng theo thoả thuận.
+ Khách hàng có hành vi lừa đảo, gian lận.
+ Các vi phạm khác theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
10
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
1.2.3. Các phương thức cho vay hộ sản xuất.
Cho vay: Là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHNN Việt Nam giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định
theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (theo tại QĐ số
1627/2001/QĐ/NHNN).
Cho vay trực tiếp ở đây được hiểu là cho vay theo khái niệm trên, nhưng NHNN
cho vay trực tiếp đến tận khách hàng vay chứ không cho vay qua bất kỳ một tổ chức tín
dụng hay doanh nghiệp nào khác.
1.2.3.1. Căn cứ theo hình thức cho vay.
a, Cho vay tại trụ sở ngân hàng: Là việc Ngân hàng cho khách hàng vay nhận
tiền vay và hoàn trả nợ vay trực tiếp tại trụ sở làm việc của ngân hàng; Theo hình thức
này khách hàng trực tiếp đến trụ sở làm việc của ngân hàng đặt quan hệ tín dụng và ký
hợp đồng tín dụng trực tiếp với ngân hàng.
b, Cho vay qua tổ, nhóm: Khi thực hiện cho vay qua tổ nhóm, khách hàng sẽ
tham gia và tổ, nhóm tự nguyện do các tổ chức đoàn thể, hoặc chính quyền hoặc tổ dân
cư đứng gia tổ chức, theo hình thức này ngân hàng thông qua tổ trưởng các tổ nhóm để
nắm bắt nhu cầu vay vốn và ký hợp đồng tín dụng trực tiếp với khách hàng vay, hình
thức giải ngân cho vay có thể là giải ngân cho vay trực tiếp tại trụ sở ngân hàng hoặc
cho vay thông qua tổ lưu động.
- Tổ vay vốn do các thành viên là hộ gia đình, cá nhân tự nguyện thành lập, có nhu cầu
vay vốn, cùng cư trú tại thôn, xóm (khóm, ấp).
- Trình tự thành lập tổ vay vốn:
+ Thống nhất danh sách tổ viên, bầu lãnh đạo tổ sau khi đã có đơn của các tổ viên.
+ Thông qua quy ước hoạt động.
+ Trình UBND xã (phường) công nhận cho phép hoạt động.
- Trách nhiệm và quyền lợi của tổ trưởng tổ vay vốn:
+ Nhận giấy đề nghị ngân hàng cho vay.
+ Kiểm tra, giám sát, đôn đốc các thành viên sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ,
trả lãi đúng hạn.
+ Được NHNNo&PTNT nơi cho vay chi trả hoa hồng căn cứ kết quả công việc
hoàn thành và theo hướng dẫn về chi hoa hồng của NHNNo&PTNT Việt Nam.
- Trách nhiệm của NHNNo&PTNT nơi cho vay:
+ Hướng dẫn lập thủ tục vay và trả nợ.
+ Thẩm định các điều kiện vay vốn.
+ Thực hiện giải ngân, thu nợ, thu lãi đến từng tổ viên.
+ Kiểm tra điển hình việc sử dụng vốn vay của tổ viên.
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
- Thủ tục vay:
+ Tổ viên gửi cho tổ trưởng giấy đề nghị vay vốn và các giấy tờ khác theo quy
định.
+ Tổ trưởng nhận hồ sơ của tổ viên, tổ chức họp bình xét điều kiện vay vốn, sau
đó tổng hợp danh sách tổ viên có đủ điều kiện vay vốn, đề nghị ngân hàng xét cho vay.
+ Từng tổ viên ký hợp đồng tín dụng trực tiếp với NHNNo&PTNT nơi cho vay.
c, Hộ Sản xuất vay trực tiếp thông qua doanh nghiệp.
Đối tượng thực hiện là các HSX nhận khoán của các doanh nghiệp đã thực hiện
giao khoán.
- Vốn vay phải trực tiếp tới hộ sản xuất cần vốn sản xuất kinh doanh.
- Ngân hàng nơi cho vay ký hợp đồng với doanh nghiệp làm dịch vụ vay vốn cho
hộ sản xuất, trong đó có nội dung:
*/ Trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp
+ Nhận giấy đề nghị ngân hàng cho vay;
+ Kiểm tra, giám sát, đôn đốc các thành viên sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ,
trả lãi đúng hạn;
+ Được NHNNo&PTNT nơi cho vay chi trả hoa hồng căn cứ kết quả công việc
hoàn thành và theo hướng dẫn về chi hoa hồng của NHNNo&PTNT Việt Nam.
*/ Trách nhiệm của NHNNo&PTNT nơi cho vay:
+ Hướng dẫn lập thủ tục vay và trả nợ.
+ Thẩm định các điều kiện vay vốn.
+ Thực hiện giải ngân, thu nợ, thu lãi đến từng tổ viên.
+ Kiểm tra điển hình việc sử dụng vốn vay của tổ viên.
- Thủ tục vay:
+ Tổ viên gửi cho tổ trưởng giấy đề nghị vay vốn và các giấy tờ khác theo quy
định.
+ Doanh ghiệp nhận hồ sơ của tổ viên, tổ chức họp bình xét điều kiện vay vốn, sau
đó tổng hợp danh sách tổ viên có đủ điều kiện vay vốn, đề nghị ngân hàng xét cho vay.
+ Từng tổ viên ký hợp đồng tín dụng trực tiếp với NHNo&PTNT nơi cho vay.
d, Cho vay qua tổ lưu động: Trường hợp cần thiết, giám đốc NHNo&PTNT nơi
cho vay quyết định thành lập tổ cho vay lưu động và thông báo công khai để nhân dân
được biết về cán bộ, lịch làm việc, địa điểm làm việc của tổ.
*/Thành phần tổ cho vay lưu động tối thiểu phải có 3 người:
- Cán bộ làm nghiệp vụ tín dụng là tổ trưởng.
- Cán bộ làm nghiệp vụ kế toán làm tổ viên.
- Cán bộ làm nghiệp vụ làm thủ quỹ.
*/Tổ cho vay lưu động có nhiệm vụ:
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
12
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
- Nhận và thẩm định hồ sơ vay vốn trình lãnh đạo phê duyệt.
- Thực hiện giải ngân, thu nợ, thu lãi với NHNo&PTNT nơi cho vay theo quy
định.
e, Cho vay qua trung gian
Cho Hộ sản xuất vay thông qua doanh nghiệp hoặc tổ chức tín dụng:
*/ Doanh nghiệp vay trực tiếp để chuyển tải vốn cho hộ sản xuất nhận khoán.
- Doanh nghiệp phải có đủ điều kiện vay vốn theo quy định.
- Doanh nghiệp vay trực tiếp và có trách nhiệm trả nợ NHNo&PTNT Việt Nam.
- Doanh nghiệp phải có hợp đồng cung ứng vật tư, tiền vốn, tiêu thụ sản phẩm
cho HSX.
*/ Cho Hộ sản xuất vay thông qua các tổ chức tín dụng.
Chi nhánh có nhu cầu cho vay phải lập đề án trình Tổng Giám đốc NHNo&PTNT
Việt Nam phê duyệt.
1.2.3.2. Căn cứ vào thời gian của khoản vay
a, Cho vay ngắn hạn: Đây là hìmh thức tín dụng có thời hạn dưới 1 năn và mục
đích sử dụng khoản vay này cũng thường để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời như
phục vụ cho thanh toán tiền hàng hoá, tài trợ vốn lưu động hay thanh toán ngoại thương.
b, Cho vay trung hạn: Đây là hình thức tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm. Các
khoản vay này thường được sử dụng để thay đổi trang thiết bị, mua sắm máy móc mà
thời gian khấu hao không quá dài để có thể trả vốn đúng hạn cho Ngân hàng.

c,Cho vay dài hạn: Đây là các khoản tín dụng được cấp có thời hạn trên 5 năm và
cũng thường dùng để xây dựng nhà xưởng, đầu tư dây chuyền công nghệ, những dự án
sản xuất lớn, có thời hạn thu hồi vốn dài. Các khoản vay này đòi hỏi phải có tài sản thế
chấp và chịu nhiều rủi ro.
1.2.3.3. Căn cứ theo hình thức đảm bảo
a, Cho vay không có đảm bảo: Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng vay mà
không cần có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh, mà dựa trên cơ sở sự uy tín của
khách hàng.
Những khách hàng được cấp tín dụng này thường trả nợ đầy đủ và đúng hạn các
khoản nợ của mình từ trước tới nay, họ có tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có
hiệu quả, sản xuất có uy tín trên thị trường, phẩm chất người lãnh đạo doanh nghiệp là
tốt.
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân hàng- Tài chính
b, Cho vay có đảm bảo: Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên cơ sở
có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh.
Tài sản dùng làm thế chấp, cầm cố có thể là nhà xưởng, xe cộ, các khoản phải
thu,các trang thiết bị, hay các tài sản được hình thành từ vốn vay, vật có giá hoặc các
giấy tờ có giá. Ngoài ra bảo đảm cho khoản vay có thể được thực hiện bởi bên thứ 3
được ngân hàng chấp nhận.Tín dụng bảo đảm chủ yếu để ngăn ngừa rủi ro, mất khoản
hoàn trả vay đến hạn.Giá trị của khoản bảo đảm thường lớn hơn khoản đi vay nhằm đề
phòng sự mất giá cũng như chi phí xử lý tài sản đó khi khoản vay có vấn đề. Sự bảo
đảm là cần thiết khi khác hàng yếu kém về tài chính, tình hình công nợ không tốt, trình
độ quản lý yếu kém, lợi tức thấp…
1.2.3.4. Căn cứ vào mục đích sử dụng.
Cho vay sản xuất kinh doanh: Các khoản vay này thường được sử dụng để tài trợ
cho vốn lưu động của doanh nghiệp hay tài trợ cho việc xây dựng nhà xưởng mua sắm
trang thiết bị, mua nguyên vật liệu. Các khoản vay thưòng có giá trị lớn, đem lại lợi
nhuận chủ yếu cho ngân hàng, lãi suất thường thấp so với các mức lãi suất của khoản
vay khác.
1.2.3.5. Căn cứ vào phương thức cho vay.
a, Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng và
khách hàng thoả thuận và ký kết một hợp đồng hạn mức tín dụng. Trong đó quy định
một số hạn mức tín dụng tố đa mà khách hàng được phép vay của ngân hàng trong một
thời hạn nhất định.Phương thức cho vay này áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn có
nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định.
b, Cho vay từng lần: Đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng và người vay thoả
thuận ký kết hợp đồng riêng đối với mỗi khoản vay khi khách hàng có nhu cầu. Mỗi lần
khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết hợp đồng được thực hiện lại từ đầu.
Khách hàng và ngân hàng thoả thuận những điều kiện riêng cho từng lần vay và số
lượng tín dụng, thời hạn khoản vay,lãi áp dụng, tài sản bảo đảm…
1.3. Các chỉ tiêu phán ánh hiệu quả cho vay Hộ sản xuất.
Hiện nay tín dụng vẫn chiếm 60%-70% trong tổng tài sản cuả các ngân hàng
thương mại. Vì thế sự tồn tại và sự phát triển của các ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào
hoạt động tín dụng. Việc đánh giá chất lượng tín dụng ở các ngân hàng hiện nay thông
qua các chỉ tiêu cơ bản sau:
1.3.1. Chỉ tiêu định tính.
a, Đảm bảo nguyên tắc cho vay: Mỗi tổ chức kinh doanh hoạt động đều dựa
trên các nguyên tắc khác nhau. Trong đó nguyên tắc cho vay là nguyên tắc quan trọng
đối với mỗi ngân hàng.
Nguyễn Thị Huyền MSSV: LT110559
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét