pần nâng mức giá dầu tăng lên 25 USD/tùng vào táng 3 năm 2002. Đến giữa năm 2002, các
nước ngoài OPEC đã kôi pục lại mức sản lượng đã cắt giảm tuy niên giá vẫn tiếp tục tăng và
dự trữ dầu của Mỹ đạt mức tấp nất trong 20 năm. OPEC tăng sản lượng têm 2,8 triệu
tùng/ngày vào táng 1 và táng 2/2003. Vào ngày 19/3/2003, ki mà sản lượng dầu của
Venezuela bắt đầu được kôi pục, cuộc tấn công quân sự vào Iraq đã nổ ra. Trong ki đó, trữ
lượng dầu ở Mỹ và các quốc gia OECD vẫn ở mức tấp. Với sự pát triển mạn của kin tế, nu
cầu dầu từ Mỹ và các nước câu Á đã tăng một các cóng mặt. Nếu giá dầu tế giới cỉ ở mức
30 USD/tùng trong năm 2003, tì đến năm 2004 đã là 50 USD/tùng kéo teo việc tăng giá
dầu tô ở Việt Nam : năm 2004 giá dầu tô xuất kẩu bìn quân ở Việt Nam là 277USD/ 1 tấn.
III. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU DẦU THÔ TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY:
1. Giai đoạn từ 2005 – 2008:
Giai đoạn 2005- 2008 là giai đoạn kối lượng dầu tô xuất kẩu ká ổn địn và kim
ngạc xuất kẩu tăng ká đều đặn.
Về khối lượg xuất khẩu:
Bảng 2 - Biểu đồ khối lượng xuất khẩu dầu thô giai đoạn 2005- 2008
5
(Nguồn: Tổng Cục Thống Kê)
Nìn vào biểu đồ ta tấy, đồ tị có dạng toải co tấy kối lượng dầu tô xuất
kẩu qua các năm ká ổn địn, dao động trong koảng 14- 20 triệu tấn; cao nất là vào
năm 2005 với kối lượng xuất kẩu là 18,6 triệu tấn.
Về kim gạch xuất khẩu:
Bảng 3- Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam giai đoạn 2005-2008
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Nìn vào biểu đồ ta tấy, kim ngạc xuất kẩu dầu tô giai đoạn 2005 – 2008 có xu
ướng tăng dần teo tời gian, cao nất là năm 2008 với kim ngạc xuất kẩu đạt 10,36
tỉ USD. Qua pân tíc tín toán, ta tấy tốc độ tăng trưởng bìn quân là 12,2% và lượng
tăng bìn quân của kim ngạc xuất kẩu dầu tô là 0,99 tỉ USD.
So với năm 2005, giá trị xuất kẩu năm 2008 tăng têm 2.99 tỉ USD (140,56%).
Mặc dù lượng xuất kẩu có giảm đi 4,86 triệu tấn (73,9%) nưng do giá dầu tô năm
2008 tăng mạn đạt 972$/1 tấn (tăng 145.4% so với năm 2005) nên kim ngạc xuất kẩu
kông giảm mà vẫn tăng teo xu ướng cung. Cuối năm 2008, giá dầu tô xuất kẩu
6
của Việt Nam có giảm mạn do ản ưởng của giá dầu tế giới tuy niên cưa gây tác
động lớn đến giá trị kim ngạc xuất kẩu cung của cả năm 2008.
Ta có biểu đồ giá xuất dầu tô bìn quân của Việt Nam giai đoạn 2005- 2008:
Bảng 4- Biểu đồ giá xuất dầu thô bình quân của Việt Nam giai đoạn 2005-2008
Nguyê hâ
Sản lượng khai thác dầu thô trong nước giảm: Sau mỏ Bạc Hổ bắt đầu được
kai tác năm 1987, àng loạt mỏ trong đá móng nứt nẻ và các ang ốc lần lượt được
pát iện và đưa vào kai tác cũng nư cuẩn bị được đưa vào kai tác nư mỏ Rạng
Đông, Ruby, Sư Tử Đen, Đông Nam Rồng, Sư Tử Vàng, Đông Rồng, Nam Rồng, Đồi
Mồi, Cá Ngừ Vàng… đã đóng góp ká lớn co tổng sản lượng kai tác dầu tô trong
nền kin tế quốc dân. Sản lượng xuất kẩu dầu tô đạt được vào năm 2005 là 18.6 triệu
tùng dầu. Tuy niên, do nguồn tài nguyên tiên niên có ạn: sự cạn kiệt của các mỏ
dầu cũ trong ki công tác tam dò, kai tác các mỏ dầu mới kông mới tiến triển nên
sau đó sản lượng năm 2006- 2008 đã giảm.
7
Ngoài ra, ngàn kai tác dầu tô của ta pụ tuộc củ yếu vào việc cung cấp tiết
bị đặt àng của nước ngoài, trong ki các nà cung cấp tiết bị koan, kai tác đều bị
quá tải do bội tực kả năng đáp ứng. Cín điều này cũng ạn cế sản lượng kai tác
dẫn đến sản lượng xuất kẩu năm 2008 cưa đạt được nư kế oạc cả năm tối tiểu là
15 triệu tấn.
Thuế suất xuất khẩu mặt hàng dầu (dạng thô và dạng mỏ) tăng cũng là nguyên
nân kiến lượng xuất kẩu dầu tô của nước ta giảm trong giai đoạn này. từ táng 4
năm 2008, Bộ Tài cín đã quyết địn tuế suất xuất kẩu mặt àng dầu (dạng tô và
dạng mỏ) tăng lên là 20% tay co mức 8%. Tiếp đó vào cuối táng 8 Bộ Tài cín đang
đề ngị sửa đổi kung tuế đối với một số mặt àng xuất kẩu và kai tác tài nguyên.
Teo đó, mức tuế xuất kẩu tối đa co dầu tô sẽ tăng lên 50% từ mức 20% iện nay.
Cín động tái tăng tuế suất xuất kẩu này đã làm giảm đáng kể sản lượng xuất kẩu
dầu tô của Việt Nam trong năm 2008.
Giá dầu thế giới tăng cao làm tăng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2005 – 2008: Mặc dù có
tác động làm giảm lượng xuất kẩu, tuy niên, trong giai đoạn 2005 – 2008 sản lượng
dầu tô kai tác kông pải là nân tố ản ưởng niều đến trị giá xuất kẩu. Trái lại,
biến động của giá dầu tô lại cín là nguyên nân cín trực tiếp làm tăng kim ngạc
xuất kẩu dầu tô giai đoạn 2005-2008.
Giá dầu tăg là do đồg USD đag suy yếu: Các nà pân tíc tị trường dầu mỏ quốc
tế tường co rằng iện tượng đầu cơ lượng lớn dầu trên tị trường dầu mỏ được kuyến
kíc bởi đồng USD giảm giá là nguyên nân cín kiến giá dầu tăng cao. Đồng đôla
suy yếu trong ki dầu mỏ được giao dịc bằng USD, nên các nước XK đều có tâm lý đẩy
giá lên để bù vào koản lỗ của đồng USD. Do đó, các nà giao dịc co rằng cỉ k i kỳ
vọng về sự giảm giá USD oàn toàn "mất đi" tì giá dầu trên tị trường tế giới mới tực
sự vào xu ướng đi xuống.
Giá dầu tăg do lo gại cug khôg đủ cầu: Nu cầu tăng vọt, trong ki nguồn cung
kông teo kịp là lý do đầu tiên đẩy giá dầu tăng pi mã. Teo báo cáo mới nất của
OPEC, nu cầu dầu tô của các nước tàn viên Tổ cức Hợp tác và Pát triển kin tế
8
(OECD) sẽ giảm nẹ, trong ki đó nu cầu dầu tô của các nước kông tuộc OECD,
trong đó có một số nước tại câu Á, Trung Đông và Mỹ la-tin vẫn cao, dẫn tới nu cầu
về mặt àng này trên tế giới tiếp tục tăng, đặc biệt 2 “đầu tàu” tăng trưởng nóng ở Câu
Á là Trung Quốc và Ấn Độ, đã kiến nguồn dầu mỏ tế giới bị “ngốn” với tốc độ cóng
mặt. Do đó, co dù sản lượng dầu của OPEC có vượt quá ạn ngạc đi nữa tì các nà
pân tíc co rằng vẫn có tâm lý lo ngại về cung vượt cầu trên tị trường tế giới.
Giá dầu tăg do OPEC khôg muố tăg sả lượg: Hiện nay, OPEC tiên về quan
điểm ạn cế sản lượng để duy trì giá dầu. OPEC đã ba lần quyết địn giữ nguyên sản
lượng kể từ táng 12 năm ngoái. OPEC luôn duy trì quan điểm là kủng oảng kin tế tại
Mỹ sẽ ản ưởng tới tăng trưởng kin tế toàn cầu và dẫn tới nu cầu dầu tô trên tế giới
sẽ giảm.Sự kỳ vọng của OPEC về "giá dầu ợp lý" cũng nư nững tuyên bố của một số
quốc gia tàn viên tổ cức này rằng giá dầu đã kông các xa đáng kể mức giá ợp lý,
kiến các nà pân tíc co rằng kó có kả năng OPEC sẽ tăng sản lượng để làm giảm
giá dầu cao iện nay.
Giá dầu tăg là do khu vực địa chíh trị bất ổ: Một số "điểm nóng" về cín trị lại là
nững nơi cung cấp dầu co tế giới kiến nguồn cung dầu mỏ trở nên ngày càng bất ổn
trong năm nay. Đã 5 năm trôi qua kể từ ki Mỹ pát động ciến tran cống Iraq, nưng
tìn ìn tại Iraq vẫn bất ổn. Cuộc xung đột giữa Tổ Nĩ Kỳ và Iraq iện kông có dấu
iệu được giải quyết và triển vọng về vấn đề ạt nân của Iran vẫn cưa được ngã ngũ.
Nững yếu tố này làm co nguồn cung từ Trung Đông - một ku vực quan trọng cung
cấp dầu tô co tế giới - bấp bên. Một vài "điểm nút" sản xuất và vận cuyển dầu quan
trọng kác cũng nằm ở ku vực địa cín trị kó lường này, làm gia tăng sự bất ổn về
nguồn cung dầu trên tị trường tế giới.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008: Cuộc kủng oảng tài cín tồi
tệ "àng trăm năm mới có một lần", teo lời ông Alan Greenspan, cựu Củ tịc Cục Dự
trữ Liên bang (FED), đã được dự báo từ năm 2006. Tuy niên, dự đoán cũng nư pân
tíc của niều nà kin tế đã kông đủ sức tuyết pục để các cơ quan tài cín quyền
lực nất tại Mỹ và câu Âu có biện páp đề pòng. Nguyên nân sâu xa của cơn địa cấn
9
tài cín bắt nguồn từ kủng oảng tín dụng và nà đất tại Mỹ. Bong bóng bất động sản
càng lúc càng pìn to đã đặt tị trường nà đất và tiếp đó là tín dụng tại Mỹ cũng nư
niều quốc gia câu Âu vào tế nguy iểm.Kủng oảng tài cín bùng pát tại Mỹ và
lan rộng toàn cầu, kéo teo sự sụp đổ đồng loạt của niều địn cế tài cín kổng lồ, tị
trường cứng koán kuyn đảo. Teo ước tín vào cuối quý III năm 2008, ơn một nửa
giá trị tị trường nà đất Mỹ là tiền đi vay với một pần ba các koản này là nợ kó đòi.
Cuộc kủng oảng tài cín toàn cầu tác động đến ầu ết các nền kin tế trên tế giới.
Niều nền kin tế lớn bắt đầu từ Nật, Nga, EU lâm vào tìn trạng suy toái, Mỹ cín
tức lâm vào suy toái từ táng 12/2007 tì giá dầu tô sụt giảm mạn cùng với đó là
nu cầu xây dựng đi xuống ản ưởng tới mặt àng dầu của Việt Nam, giá dầu giảm tác
động đến nguồn tu từ dầu mỏ của Việt Nam. Tuy kông cịu ản ưởng về tị trường
nưng cịu ản ưởng về giá, đang từ ngưỡng cao xuống còn 50 USD/tùng.
Mặc dù lượng từ năm 2005 đến 2008 có xu hướng giảm do nhiều nguyên nhân:
sản lượng khai thác giảm, giá dầu thế giới tăng tuy nhiên tổng kim ngạch xuất khẩu
dầu thô của Việt Nam vẫn tăng trưởng đều đặn, đạt tốc độ tăng bình quân trong 4
năm đạt 12,23%, do giá tăng bình quân trong 4 năm đạt 38,7%. Tóm lại, việc tăng kim
ngạch xuất khẩu dầu thô phụ thuộc rất nhiều vào giá. Vì vậy, ưu tiên hàng đầu của
ngành dầu khí Việt Nam cần tập trung phân tích tình hình, nâng cao dự báo chính
xác về thời điểm và nắm bắt thời cơ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu đúng thời điểm để thu
được giá trị lợi nhuận cao.
2. Năm 2009:
Kim ngạc xuất kẩu dầu tô của Việt Nam năm 2009 giảm mạn so với năm 2008. Teo
số liệu tống kê, xuất kẩu dầu tô của Việt Nam năm 2009 đạt 13,373 triệu tấn với trị giá 6,2 tỉ
USD, giảm 2,8% về lượng và giảm 40,2% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
Australia là tị trường xuất kẩu dầu tô củ yếu của Việt Nam năm 2009 với
3,329 triệu tấn, đạt trị giá 1,6 tỉ USD, giảm 20% về lượng và giảm 40,2% về trị giá so với
cùng kỳ năm ngoái, ciếm 25,5% trong tổng kim ngạc xuất kẩu dầu tô của cả nước
năm 2009; tiếp teo đó là Singapore đạt 2,253 triệu tấn với kim ngạc 992,7 triệu USD,
10
tăng 9,5% về lượng nưng giảm 39,7% về trị giá, ciếm 16%; sau cùng là Malaysia đạt
1,794 tấn với trị giá 759,8 triệu USD, tăng 50,3% về lượng nưng giảm 11% về trị giá.
Trong số tị trường xuất kẩu dầu tô năm 2009 cỉ có 3 tị trường nỏ có tốc độ
tăng trưởng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái: Hàn Quốc đạt 838,7 ngìn
tấn với kim ngạc 389 triệu USD, tăng 396,8% về lượng và tăng 325,9% về trị giá, ciếm
6,3% trong tổng kim ngạc xuất kẩu dầu tô của cả nước; Tái Lan đạt 731 ngìn tấn
với kim ngạc 343 triệu USD, tăng 283% về lượng và tăng 142,7% về trị giá, ciếm
5,5%; Indonesia đạt 419,7 ngìn tấn với kim ngạc 208,7 triệu USD, tăng 24,9% về
lượng và tăng 13,3% về trị giá, ciếm 3,4%.
Năm 2009 do tác động của kủng oảng kin tế toàn cầu ản ưởng đến kim
ngạc xuất kẩu cả nước nói cung và đặc biệt ản ưởng đến kim ngạc xuất kẩu dầu
tô nói riêng vì giá dầu tô tế giới năm 2009 giảm mạn so với năm 2008 và lượng dầu
tô xuất kẩu giảm.
3. Năm 2010:
Xuất kẩu dầu tô của Việt Nam năm 2010 giảm cả về lượng và trị giá
Teo số liệu tống kê, xuất kẩu dầu tô của Việt Nam táng 12/2010 đạt 714 ngìn tấn
với kim ngạc 505,7 triệu USD, tăng 0,7% về lượng và tăng 8,5% về trị giá so với táng
trước; tăng 0,3% về lượng và tăng 18,3% về trị giá so với cùng táng năm ngoái, nâng
tổng lượng dầu tô xuất kẩu của Việt Nam năm 2010 đạt 8 triệu tấn với kim ngạc gần
5 tỉ USD, giảm 40,4% về lượng và giảm 20% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái, ciếm
6,9% trong tổng kim ngạc xuất kẩu àng oá của cả nước năm 2010.
Australia dẫn đầu tị trường về xuất kẩu dầu tô của Việt Nam năm 2010, đạt 2,9
triệu tấn với kim ngạc 1,8 tỉ USD, ciếm 37% trong tổng kim ngạc xuất kẩu dầu tô
của cả nước năm 2010.
Pần lớn tị trường xuất kẩu dầu tô của Việt Nam năm 2010 đều giảm mạn về
kim ngạc, cỉ một số ít có tốc độ tăng trưởng mạn: Hàn Quốc đạt 875 ngìn tấn với
kim ngạc 556 triệu USD, tăng 4,4% về lượng và tăng 42,9% về trị giá so với cùng kỳ,
11
ciếm 11,2% trong tổng kim ngạc; tiếp teo đó là Ôxtrâylia đạt 2,9 triệu tấn với kim
ngạc 1,8 tỉ USD, giảm 12,9% về lượng nưng tăng 16,1% về trị giá so với cùng kỳ,
ciếm 37% trong tổng kim ngạc; sau cùng là Malaysia đạt 1,3 triệu tấn với kim ngạc
820 triệu USD, giảm 27,7% về lượng nưng tăng 7,9% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm
16,5% trong tổng kim ngạc.
Ngược lại, một số tị trường xuất kẩu dầu tô của Việt Nam năm 2010 có độ suy
giảm: Tái Lan đạt 86,8 ngìn tấn với kim ngạc 51 triệu USD, giảm 88,1% về lượng và
giảm 85,1% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 1% trong tổng kim ngạc; tiếp teo đó là
Nật Bản đạt 339,8 ngìn tấn với kim ngạc 214 triệu USD, giảm 66,7% về lượng và
giảm 55,4% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 4,3% trong tổng kim ngạc; Indonesia đạt
201 ngìn tấn với kim ngạc 116,3 triệu USD, giảm 52% về lượng và giảm 44,3% về trị
giá so với cùng kỳ, ciếm 2,3% trong tổng kim ngạc; sau cùng là Singapore đạt 997
ngìn tấn với kim ngạc 583,8 triệu USD, giảm 55,7% về lượng và giảm 41,2% về trị giá
so với cùng kỳ, ciếm 11,8% trong tổng kim ngạc (KN).
Thị trườg
Năm 2009 Năm 2010
% tăg,
giảm KN
Lượg (tấ) Trị giá (USD) Lượg (tấ) Trị giá (USD)
Tổg
13.372.877 6.194.595.019 7.976.883
4.957.579.806 -20
Australia 3.328.681 1.581.041.058 2.900.348 1.836.318.550 16,1
Singapore
2.253.105 992.709.332
997.170
583.765.610 -41,2
Malaysia
1.794.448 759.800.854
1.296.654
819.969.889 7,9
Nật Bản
1.021.540 480.116.943
339.811
214.114.871 -55,4
Hoa Kỳ
1.057.697 469.934.139
594.058
360.220.505 -23,3
Trung Quốc
1.032.921 462.623.331 593.997 367.631.900
-20,5
Hàn Quốc
838.695 389.096.250 875.217 556.121.359
42,9
Tái Lan
730.993 343.409.897
86.837
51.124.896 -85,1
12
Indonesia
419.766 208.683.869
201.303
116.267.938 -44,3
Bảng: Thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt Nam năm 2010
4. Tám tháng đầu năm 2011:
Teo số liệu tống kê, xuất kẩu dầu tô của Việt Nam táng 8/2011 đạt 910,6
ngìn tấn với kim ngạc 812,6 triệu USD, giảm 0,2% về lượng và giảm 4% về trị giá so
với táng trước; tăng 59,1% về lượng và tăng 137,8% về trị giá so với cùng táng năm
ngoái, nâng tổng lượng dầu tô xuất kẩu của Việt Nam 8 táng đầu năm 2011 đạt 5,7
triệu tấn với kim ngạc 5 tỉ USD, tăng 4,8% về lượng và tăng 53,4% về trị giá so với
cùng kỳ năm ngoái, ciếm 8,2% trong tổng kim ngạc xuất kẩu àng oá của cả nước 8
táng đầu năm 2011.
Australia luôn dẫn đầu tị trường về lượng và kim ngạc xuất kẩu dầu tô của
Việt Nam 8 táng đầu năm 2011 đạt 1,2 triệu tấn với kim ngạc 1 tỉ USD, giảm 40,2% về
lượng và giảm 15,8% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 20,7% trong tổng kim ngạc.
Trong 8 táng đầu năm 2011, một số tị trường xuất kẩu dầu tô có tốc độ tăng trưởng
mạn về kim ngạc: Nật Bản đạt 961 ngìn tấn với kim ngạc 862 triệu USD, tăng
376,6% về lượng và tăng 602,6% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 17% trong tổng kim
ngạc; tiếp teo đó là Hàn Quốc đạt 871 ngìn tấn với kim ngạc 723,6 triệu USD, tăng
133,7% về lượng và tăng 206,7% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 14,3% trong tổng kim
ngạc; Trung Quốc đạt 603 ngìn tấn với kim ngạc 510 triệu USD, tăng 58,8% về lượng
và tăng 122,3% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 10% trong tổng kim ngạc; sau cùng là
Malaysia đạt 743,8 ngìn tấn với kim ngạc 636 triệu USD, tăng 10,4% về lượng và tăng
56,8% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 12,5% trong tổng kim ngạc.
Ngược lại, một số tị trường xuất kẩu dầu tô của Việt Nam 8 táng đầu năm
2011 có độ suy giảm: Indonesia đạt 64 ngìn tấn với kim ngạc 60 triệu USD, giảm
64,7% về lượng và giảm 42% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 1,2% trong tổng kim
ngạc; tiếp teo đó là Singapore đạt 381 ngìn tấn với kim ngạc 349,7 triệu USD, giảm
60,3% về lượng và giảm 37,8% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 6,9% trong tổng kim
13
ngạc; Tái Lan đạt 44,6 ngìn tấn với kim ngạc 41 triệu USD, giảm 48,6% về lượng và
giảm 19% về trị giá so với cùng kỳ, ciếm 0,8% trong tổng kim ngạc; sau cùng là
Australia.
Thị trườg
8 thág đầu ăm 2010 8 thág đầu ăm 2011 % tăg,
giảm KN
Lượg (tấ) Trị giá (USD) Lượg (tấ) Trị giá (USD)
Tổg 5.475.626 3.304.828.278 5.736.360 5.070.452.988 + 53,4
Hàn Quốc 372.796 235.963.623 871.343 723.608.629 + 206,7
Hoa Kỳ 445.544 267.645.023 325.644 278.137.416 + 3,9
Indonesia 181.734 103.899.476 64.103 60.356.274 - 42
Malaysia 673.613 405.626.085 743.820 636.163.882 + 56,8
Nật Bản 201.641 122.697.862 961.012 862.075.823 + 602,6
Australia 2.005.537 1.245.869.921 1.198.434 1.049.285.906 - 15,8
Singapore 961.577 561.852.185 381.317 349.732.566 - 37,8
Tái Lan 86.837 51.124.896 44.644 41.432.034 - 19
Trung Quốc 379.987 229.603.125 603.593 510.325.450 + 122,3
Bảg: Thị trườg xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 8 thág đầu ăm 2011
Do giá dầu tế giới tiếp tục tăng cao, có lúc đã vượt quá 110 đô la Mỹ/tùng, nên
giá xuất kầu dầu tô của Việt Nam cũng tăng teo. Điều này giúp đảm bảo được mục
tiêu tu về 9,5 tỉ đô la Mỹ trong năm nay nư kế oạc, dù sản lượng kai tác dầu tô từ
mỏ Bạc Hổ (lớn nất nước ta) sẽ giảm koảng 1 triệu tấn so với năm trước.
Các cuyên gia ngàn năng lượng dự đoán đây là tời điểm tị trường dầu tô câu Á -
Tái Bìn Dương có sự tăng trưởng ká tốt, do tời gian này có nu cầu sưởi ấm mùa
đông tại vùng Đông Bắc Á và nu cầu tiêu tụ năng lượng ở Trung Quốc và Ấn Độ tiếp
tục gia tăng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét