Trong khoa học pháp lý, hợp đồng đợc hiểu là sự thoả thuận giữa hai
bên hoặc nhiều bên về một ván đề nhất định trong sinh hoạt xã hội nhằm
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên đó.
Để đạt đợc sự thoả thuận, các bên trong quan hệ hợp đồng phải bày tỏ ý
chí của mình cho bên kia biết. ý chí của các bên khi đã thống nhất thành
sự thoả thuận sẽ đợc biểu hiện ra bên ngoài dới những hình thức nhất định
nh lời nói, giấy tờ .v.v Gọi là hình thức của hợp đồng. Trong xã hội có
Nhà nớc và Pháp luật, ý chí của các bên phải phù hợp và ý chí của Nhà n ớc
thể hiện qua các quy định của pháp luật. Do đó việc ký kết hợp đồng đã
làm phát sinh một quan hệ pháp luật.
Các bên trong quan hệ hợp đồng gọi là chủ thể của hợp đồng tuỳ
thuộc vào loại hợp đồng, chủ thể có thể là cá nhân (thể nhân) hoặc tổ
chức. Bên có nghĩa vụ thực hiện hành vi phát sinh từ hợp đồng gọi là bên
có nghĩa vụ (còn là ngời thụ trái), bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện
một hành vi gọi là bên có quyền (còn gọi là trái chủ)
Việc các chủ thể có trong quan hệ hợp đồng bày tỏ ý chí và thoả
thuận về một vấn đề nhất định làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với
nhau gọi là ký kết hợp đồng .
Việc ký kết hợp đồng đợc tiến hành theo 1 trình tự gồm 2 giai đoạn : giai
đoạn đề nghị lập hợp đồng và giai đoạn tiếp nhận đề nghị. Bên đề nghị
phải tỏ rõ ý chí lập hợp đồng bằng cách đề xuất với lên kia những nội dung
chủ yếu của hợp đồng để bên đợc đề nghề xem xét, cân nhắc xem có thoả
thuận ký kết hợp đồng hay không. Nội dung chủ yếu của hợp đồng là
những vấn đề nhất thiết phải có đối với một loại hợp đồng định. Nếu bên
đợc đề nghị tỏ rõ sự đồng ý hoàn toàn về những vấn đề của bên đề nghị thì
gọi là chấp nhận để nghị và hợp đồng đợc coi là đã ký kết, quyền và nghĩa
vụ đợc thừa nhận là đã phát sinh. Trờng hợp pháp luật có quy định là hợp
đồng phải tuân theo một hình thức và thủ tục nhất định (ví dụ là văn bản
viết và phải có xác nhận của công chứng Nhà nớc) thì hợp đồng đợc coi là
đã ký kết khi những quy định đó đợc tuân thủ
Các chủ thể của hợp đồng phải tuân thủ những điều kiện nhất định
do pháp luật quy định, thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý quyền và nghĩa
vụ mới phát sinh. Đó là những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, bao
gồm:
- Ngời ký kết hợp đồng phải có năng lực hành vi
- Các chủ thể phải hoàn toàn tự nguyện
- Nội dung của hợp đồng phải hợp pháp
5
- Hình thức của hợp đồng không trái với quy định của pháp luật vi
phạm các điều khoản nói trên, hợp đồng sẽ không có giá trị pháp lý và có
thể bị coi là vô hiệu (có thể vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu từng phân). Hợp
đồng vô hiệu sẽ dẫn đến hậu quả nhất định đối với một hoặc cả 2 bên trong
quan hệ hợp đồng đó.
Khi ký kết hợp đồng, mỗi chủ thể đều nhằm vài những mục đích nhất
định. Mục đích đó chỉ có thể đạt đợc do việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Pháp luật đề ra các nguyên tắc thực hiệu hợp đồng, quy định các biện pháp
bảo đảm thực hiện hợp đồng, đặt ra các hình thức trách nhiệm áp dụng đối
với bên vi phạm hợp đồng.
Trong pháp luật nớc ta đang quy định gồm nhiều loại hợp đồng tồn
tại thuộc các lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau nh : hợp đồng dân sự, hợp
đồng kinh tế, hợp đồng mua bán ngoại thơng, hợp đồng liên doanh, hợp
đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng lao động
b. Sự ra đời của chế định hợp đồng kinh tế
Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nền kinh tế
nớc ta còn bao gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Ngoài khu vực
kinh tế quốc doanh, tập thể còn có kinh tế cá thể trong nông nghiệp, thủ
công nghiệp và thành phần kinh tế t bản t doanh cha đợc cải tạo. Hoạt
động kinh tế của các cơ quan Xí nghiệp Nhà nớc của các đơn vị kinh tế tập
thể tiến hành song song với hoạt động kinh tế của t nhân. Để thu hút mọi
hoạt động kinh tế đi theo hớng có lợi cho việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ,
từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mối quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa. Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Nghị định 735/TTg ngày
10/4/1957, kèm theo Nghị định này là bản Điều lệ tạm thời về hợp đồng
kinh doanh. Bản Điều lệ này bao gồm những quy định điều chỉnh các quan
hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế nh các đơn vị kinh tế quốc doanh, hợp
tác xã, công ty hợp doanh, t doanh, ngời Việt Nam hay ngoại kiều kinh
doanh trên đất Việt Nam.
Theo Điều lệ này, hợp đồng kinh doanh đợc thiết lập bằng cách hai
hay nhiều đơn vị kinh doanh tự nguyện cam kết với nhau thực hiện một
một số nhiệm vụ nhất định, trong một thời gian nhất định, nhằm phát triển
kinh doanh công thơng nghiệp, góp phần thực hiện kế họach Nhà nớc. Hợp
đồng kinh doanh đợc xây dựng trên nguyên tác các bên tự nguyện, cùng có
lợi và có lợi ích cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân. Điều lệ còn quy
định nếu trong quan hệ hợp đồng có 1 bên là t doanh, hợp đồng phải đợc
đăng ký tại cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền (cơ quan công thơng tỉnh hoặc
Uỷ ban hành chính huyện) thì mới có giá trị về mặt pháp lý
6
Việc thực hiện Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh, trong một
chừng mực nhất định, đã sử dụng đợc khả năng của các thành phần kinh tế
quốc dân theo hớng thống nhất của kế hoạch Nhà nớc, góp phần cải tạo
quan hệ sản xuất cũ, từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mới
Đến năm 1960, ở miền Bắc, chúng ta đã hoàn thành cơ bản công
cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, bớc vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã
hội, mở đầu bằng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1960 - 1965. Các quan hệ
kinh tế đã có sự thay đổi về cơ cấu chủ thể và về tính chất. Công tác kế
hoạch hoá và hạch toán kinh tế đòi hỏi phải có những quy định mới về
điều chỉnh các quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế. Vì vậy, Điều lệ
tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế đợc Nhà nớc ban hành kèm theo Nghị
định 04/TTg ngày 4/1/1960, đồng thời Nhà nớc cũng quyết định thành lập
Hội đồng trọng tài kinh tế để thực hiện chức năng quản lý công tác hợp
đồng kinh tế và giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế (Nghị định
20/TTg ngày 14/1/1960).
Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế đã quy định rõ các bên
tham gia quan hệ hợp đồng là các đơn vụ kinh tế cơ sở, các tổ chức xã hội
chủ nghĩa, việc ký kết hợp đồng là nhằm thực hiện chỉ tiêu kế hoạch của
Nhà nớc, khi hợp đồng kinh tế bị vi phạm, thẩm quyền giải quyết tranh
chấp thuộc Hội đồng trọng tài kinh tế
Trong quá trình thực hiện bản Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng
kinh tế, Nhà nớc đã ban hành nhiều văn bản quy định các điều lệ về từng
chủng loại hợp đồng chính trị ở nớc ta. Hợp đồng kinh tế đã thực sự trở
thành công cụ điều chỉnh và củng cố các quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Trớc yêu cầu của việc cải tiến quản lý kinh tế: xoá bỏ lối quản lý
hành chính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh doanh xã hội
chủ nghĩa, khắc phục cách quản lý thủ công phân tán theo lối sản xuất
nhỏ, xây dựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc
đẩy quá trình đa nền kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất xã
hội chủ nghĩa.
Ngày 10/3/1975, Nhà nớc ta đã ban hành bản Điều lệ về chế độ hợp
đồng kinh tế (ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội
đồng Chính phủ). Điều lệ này đã quy định tơng đối đầy đủ các vấn đề nh:
Vai trò của hợp đồng kinh tế, nguyên tắc ký kết, các nội dung ký kết và
thực hiện hợp đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm do vi
phạm chế độ hợp đồng kinh tế những quy định này đã trở thành căn cứ
pháp lý quan trọng đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải tiến quản lý kinh tế,
góp phần đa các quan hệ hợp đồng kinh tế trở thành nề nếp, ở giai đoạn
7
này với sự phát triển cao độ của cơ chế tập trung quan liên bao cấp, hợp
đồng kinh tế đã trở thành một công cụ pháp lý chủ yếu của Nhà n ớc để
quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá xã hội chủ nghĩa. Nghĩa là hợp đồng
kinh tế đợc coi là một công cụ hữu hiện trong xây dựng, thực hiện và đánh
dấu việc hoàn thành hay không hoàn thành kế hoạch
Nói một cách khác, Nhà nớc ta đã đặt một cái dấu bằng giữa hợp đồng
kinh tế và kế hoạch. Ký kết hợp đồng kinh tế là xây dựng kế hoạch, thực
hiện hợp đồng kinh tế là thực hiện kế hoạch vi phạm hợp đồng kinh tế là vi
phạm hợp đồng kế hoạch Do đó, việc ký kết hợp đồng kinh tế đợc Nghị
định 54/CP quy định là một nghĩa vụ, là kỷ luật Nhà nớc. Nhà nớc quy định
tỷ mỉ, chặt chẽ gần nh toàn bộ nội dung của hợp đồng kinh tế buộc các bên
phải tuân thủ nghiêm chỉnh. Về mặt lý luận, ai cũng biết rằng, một trong
những đặc điểm của hợp đồng kinh tế buộc các bên phải tuân thủ nghiêm
chỉnh. Về mặt lý luận, ai cũng biết rằng, một trong những đặc điểm của hợp
đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ là ở chỗ, trong
quan hệ hợp đồng kinh tế có sự thống nhất của 2 yếu tố: yếu tố trao đổi tài
sản (quan hệ ngang) và yếu tố tổ chức kế hoạch (quan hệ quản lý). Nhng
phải nói rằng, do Nhà nớc ta đã nhấn mạnh quá mức yếu tố tổ chức - kế
hoạch trong quan hệ hợp đồng kinh tế nên đã làm cho hợp đồng bị biến
dạng và đã trở thành công cụ chủ yếu để Nhà n ớc thực hiện sự can thiệp vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Để thực hiện nội dung đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cần xoá bỏ
hoàn toàn cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp xác định rõ phạm vi
quản lý Nhà nớc về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh, xác lập và mở
rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho các đơn vị kinh tế cơ sở, bảo
đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý trong các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị
kinh tế, không phân biệt thành phần kinh tế.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, các
quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế mang một nội dung mới.
Bản Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định
54/CP ngày 10/3/1975 không còn phù hợp nữa. Vì vậy, Nhà nớc đã ban
hành Pháp lện hợp đồng kinh tế ở nớc ta, nó đã thể chế hoá đợc những t t-
ởng lớn về đổi mới quản lý kinh tế của Đảng, trả lại giá trị đích thực của
hợp đồng kinh tế với t cách là sự thống nhất ý chí của các bên, Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế và các văn bản pháp lý cụ thể hoá pháp lệnh đã tạo thành
hệ thống các quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh
các quan hệ hợp đồng kinh tế trong cơ chế kinh tế mới hiện nay.
8
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng kinh tế
a. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Trong khoa học pháp lý, khái niệm hợp đồng kinh tế đợc hiểu theo 2
nghĩa:
Theo nghĩa khách quan: Hợp đồng kinh tế là tổng hợp những quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị
kinh tế (còn gọi là chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế hay pháp luật về hợp
đồng kinh tế ) .
Là một chế định đặc thù của pháp luật về kinh doanh, chế độ hợp
đồng kinh tế quy định: Các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế, điều kiện
chủ thể hợp đồng kinh tế, thủ tục và trình tự ký kết hợp đồng kinh tế, các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc và nội dung thực
hiện hợp đồng kinh tế, các điều kiện và giải quyết hậu quả cho việc thay
đổi, huỷ bỏ, đình chỉ hợp đồng kinh tế, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
kinh tế.v.v
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, khi cơ cấu kinh tế thay đổi thì
các quan hệ kinh tế thay đổi theo. Vì vậy, chế độ hợp đồng kinh tế của Nhà
nớc ta luôn luôn đặt trớc những yêu cầu thay đổi và đã thay đổi phù hợp với
những bớc phát triển của các quan hệ kinh tế
Theo nghĩa chủ quan: Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn
bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản
xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa kỹ thuật
và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của
mình (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989
Nh vậy, thực chất hợp đồng kinh tế là mối quan hệ kinh tế giữa các
chủ thể ký kết, đó là mối quan hệ ý chí đợc lập một cách tự nguyện, bình
đẳng thông qua hình thức bằng văn bản. Nhng khác hẳn với hợp đồng dân
sự, hợp đồng kinh tế có những đặc điểm riêng sau đây:
b. Đặc điểm hợp đồng kinh tế
- Về nội dung: Hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm phục vụ hoạt động
kinh doanh. Đó là nội dung thực hiện các công việc sản xuất, trao đổi hàng
hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và các thoả thuận
9
khác do các chủ thể tiến hành trong một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình tái sản xuất, từ khi đầu t vốn đến khi tiêu thụ sản phẩm hoặc hoàn
thành dịch vụ nhằm sinh lợi hợp pháp.
Kinh doanh là chức năng, nhiệm vụ, là mục tiêu của các đơn vị kinh
tế. Vì vậy, mục đích là kinh doanh luôn đợc thể hiện hàng đầu trong các
hợp đồng mà các chủ thể kinh doanh ký kết, nhằm xây dựng và thực hiện kế
hoạch của mình. Khác với hợp đồng kinh tế, nội dung của hợp đồng dân sự
lại chủ yếu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của các
chủ thể ký kết.
- Về chủ thể hợp đồng, theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì
hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, hay pháp nhân
với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và phải ký
kết trong phạm vi nghề nghiệp kinh doanh đã đăng ký. Ngoài ra, Pháp lệnh
còn quy định những ngời làm công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ
kinh tế gia đình, hộ nông dân, ng dân cá thể, các tổ chức và cá nhân nớc
ngoài ở Việt Nam cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ
ký kết hợp đồng với một pháp nhân.
Trên thực tế hiện nay và xu hớng trong nền kinh tế thị trờng chủ thể
chủ yếu của hợp đồng kinh tế là các doanh nghiệp. Đối với hợp đồng dân
sự, mọi pháp nhân và cá nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đều
có thể là chủ thể của hợp đồng ,.
- Về hình thức, hợp đồng kinh tế phải đợc ký kết bằng văn bản. Đó là
bản hợp đồng hay các tài liệu giao dịch mang tính văn bản có chữ ký của
các bên xác nhận nội dung trao đổi, thoả thuận nh công văn, đơn chào hàng,
đơn đặt hàng, giấy chấp nhận
Ký kết hợp đồng kinh tế bằng văn bản là một quy định bắt buộc mà
các chủ thể của hợp đồng phải tuân theo. Văn bản này là sự ghi nhận rõ
ràng về quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thoả thuận với nhau, là cơ sở pháp
lý để các bên tiến hành thực hiện các điều đã cam kết, để các cơ quan Nhà
nớc có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của mối quan hệ kinh tế và giải
quyết các tranh chấp, xử lý các vi phạm nếu hợp đồng dân sự phải ký kết
bằng văn bản hoặc thoả thuận miệng tuỳ theo nội dung của từng quan hệ
hợp đồng và ý chí của các bên ký kết.
Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ảnh mối quan hệ
giữa kế hoạch với thị trờng. Hợp đồng kinh tế đợc ký kết dựa trên định hớng
kế hoạch của Nhà nớc, nhằm các việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của
các đơn vị kinh tế. Trong đó có những hợp đồng kinh tế mà việc ký kết và
10
thực hiện nó phải hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của
Nhà nớc. Trong cơ chế quản lý theo phơng pháp kế hoạch hoá tập trung thì
tính kế hoạch là đặc tính số một của hợp đồng kinh tế. Mặc dù trong giai
đoạn hiện nay, Nhà nớc ta đã có những thay đổi lớn trong công tác kế hoạch
hóa, nhng tính kế hoạch của hợp đồng kinh tế vẫn tồn tại: Hợp đồng kinh
tế giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch,
vừa là công cụ pháp lý bảo đảm việc thực hiện kế hoạch.
Những đặc điểm của hợp đồng kinh tế giúp ta phân biệt hợp đồng kinh
tế và các loại hợp đồng khác nh hợp đồng dân sự, hợp đồng ngoại thơng,
hợp đồng lao động.v.v
Hợp đồng kinh tế có thể phân loại theo 2 cách .
Dựa vào tính chất của hợp đồng kinh tế, có thể chia hợp đồng kinh tế
thành hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh và hợp đồng kinh tế không
theo chỉ tiêu Pháp lệnh.
Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là hợp đồng kinh tế đợc ký
căn cứ vào chỉ tiêu Pháp lệnh của Nhà nớc giao. Ký kết và thực hiện hợp
đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh là kỷ luật của Nhà nớc, là nghĩa vụ của
các đơn vị kinh tế đợc Nhà nớc giao chỉ tiêu Pháp lệnh. Trong nền kinh tế
thị trờng, số lợng hợp đồng kinh tế thuộc loại này rất hạn chế .
Hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu Pháp lệnh là loại hợp đồng đợc
ký kết theo nguyên tắc tự nguyện nhằm xây dựng và thực hiện kế hoạch của
các chủ thể. Các chế độ ký kết, thực hiện hợp đồng của loại hợp đồng này
đợc nghiên cứu trong các mục tiếp theo của chơng này.
Căn cứ vào nội dung cụ thể của các quan hệ kinh tế, trong hợp đồng
có thể chia hợp đồng kinh tế thành các loại sau đây :
- Hợp đồng mua bán hàng hoá
- Hợp đồng vận chuyển
- Hợp đồng xây dựng cơ bản
- Hợp đồng gia công
- Hợp đồng dịch vụ
- Hợp đồng nghiên cứu khoa học, triển khai kỹ thuật
- Các loại hợp đồng khác.
1.1.3. Vai trò của hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế
11
a. Hợp đồng kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung
Cuối năm 1959, do kết quả của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa
nền kinh tế quốc dân, kết cấu thành phần kinh tế của n ớc ta có sự thay đổi
căn bản. Hoạt động kinh doanh trong thời kỳ này chủ yếu tập trung vào hai
loại thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể. Việc xây dựng và phát
triển nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung vào hai thành phần
kinh tế là quốc doanh và tập thể . Việc xây dựng và phát triển nền kinh tế
theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các
đơn vị nhằm một mục tiêu chung là thực hiện kế hoạch Nhà nớc. Chế độ
hợp đồng kinh doanh với các quy định về chủ thể, nguyên tắc và mục đích
nh trên không những phù hợp với cơ chế quản lý mới là mà còn cản trở sự
vận hành của cơ chế đó. Trong điều kiện đó, Chính phủ đã ban hành bản
Điều lệ tạm thời về chế độ hoạt động kinh tế (kèm theo Nghị định số
4/TTg ngày 4/1/1960 của Thủ tớng Chính phủ) thay thế Điều lệ về chế độ
hợp đồng kinh doanh năm 1956 nhằm mục đích tăng cờng quan hệ kinh tế
và trách nhiệm giữa các Xí nghiệp quốc doanh và cơ quan Nhà nớc (kể cả
quân đội) trong việc thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà n ớc và những nguyên
tắc của chế độ hạch toán kinh tế (Điều 1). Theo điều lệ này, cơ sở để ký
kết hợp đồng kinh tế là chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc, các bên chỉ đợc ký kết
hợp đồng kinh tế trong phạm vi chỉ tiêu kế hoạch do Nhà n ớc giao; Hợp
đồng kinh tế chỉ đợc điều chỉnh hoặc huỷ bỏ khi Nhà nớc điều chỉnh hoặc
huỷ bỏ chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc. Điều lệ hợp đồng kinh tế quy định việc
ký kết hợp đồng kinh tế là một kỷ luật bắt buộc trong quan hệ kinh tế giữa
các đơn vị kinh tế. Những quy định trên đây cho thấy thực chất của hợp
đồng kinh tế trong thời kỳ này là một hình thức pháp lý để các đơn vị kinh
tế cụ thể hoá chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc nhằm thực hiện các chỉ tiêu kế
hoạch đó, còn tính chất hợp đồng, tính chất tự nguyện thể hiện ý chí thì
rất ít đợc quan tâm đến. Hợp đồng kinh tế trong thời kỳ này đã trở thành
công cụ quan trọng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa theo
cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao.
Vào những năm đầu của thập kỷ bảy mơi, hoà theo xu thế cải cách
kinh tế của hệ thống xã hội chủ nghĩa, Đảng ta chủ trơng tiến hành cải tiến
một bớc cơ chế quản lý kinh tế theo phơng hớng của Hội nghị lần thứ 19
Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khoá III) đã vạch ra là Xoá bỏ lối quản
lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý theo phơng thức kinh doanh xã
hội chủ nghĩa. Trớc yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, Chính phủ đã
ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế (kèm theo Nghị định số
54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ) thay thế điều lệ tạm thời
về hợp đồng kinh tế năm 1960.
12
Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế quy định mục đích của hợp đồng
kinh tế không phải chỉ để thực hiện kế hoạch mà còn là công cụ pháp lý để
giúp đỡ các bên chuẩn bị kế hoạch, xây dựng kế hoạch một cách vững
chắc (Điều 1) chủ thể của hợp đồng kinh tế là các Xí nghiệp quốc doanh
các tổ chức từ hợp doanh, các cơ quan Nhà nớc, đơn vị quân đội, tổ chức,
xã hội , hợp tác xã, các tổ sản xuất tiểu công nghiệp và thủ công. Căn cứ
để ký kết hợp đồng kinh tế không chỉ là chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nớc mà
còn là số kiểm tra, phơng hớng, nhiệm vụ kế hoạch, các bên có thể ký kết
các hợp đồng kinh tế ngoài chỉ tiêu kế hoạch với điều kiện không làm ảnh
hởng đến việc thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu kế hoạch pháp
lệnh. Mặt khác, ký kết hợp đồng kinh tế vẫn là một kỷ luật của Nhà n ớc
đối với các đơn vị kinh tế, trong mọi hoạt động kinh tế có liên quan với
nhau đều bắt buộc phải ký kết hợp đồng kinh tế .
Những quy định chủ yếu về hợp đồng kinh tế theo Điều lệ về chế độ
hợp đồng kinh tế trên đây cho thấy chế độ hợp đồng kinh tế trong thời kỳ
này đã có những đổi mới nhất định mà thể hiện rõ nhất là yếu tố tài sản
trong hợp đồng rõ nét hơn, yếu tố tổ chức - kế hoạch có giảm bớt.
Tháng 11/1986, Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản
Việt Nam xác định nội dung đờng lối đổi mới quản lý kinh tế - xã hội,
trong đó có đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - theo hớng xoá bỏ tập trung,
quan liêu, bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã
hội chủ nghĩa. Cơ chế quản lý kinh tế mới đã đòi hỏi phải rà soát lại tất cả
cảc chính sách, chế độ quản lý kinh tế trong đó có chế độ hợp đồng kinh
tế. Trong điều kiện đó, Hội đồng Nhà nớc đã thông qua Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế ngày 25/9/1989 thay thế Nghị định 54/CP về chế độ hợp
đồng kinh tế. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời là một bớc phát triển mới
của pháp luật về hợp đồng kinh tế của Nhà nớc ta, thể chế hoá đờng lối đổi
mới của Đảng trong quản lý kinh tế. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế cùng với
Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/1/1990, Quyết định số 18-HĐBT ngày
16/1/1990 của Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) đã tạo thành hệ thống
quy phạm pháp luật điều chỉnh pháp luật, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
kinh tế trong cơ chế quản lý kinh tế mới.
b. Hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trờng.
Với tính chất là một chế định pháp luật, chế độ hợp đồng có vai trò
hết sức quan trọng trong quản lý nền kinh tế quốc dân, là công cụ pháp lý
quan trọng của Nhà nớc trong xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội
13
chủ nghĩa. Hợp đồng kinh tế góp phần quan trọng kế hoạch hoá nền kinh
tế quốc dân, củng cố chế độ hạch toán kinh tế, làm cho lợi ích của các đơn
vị kinh tế phù hợp với lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân, gắn liền
công tác quản lý của Nhà nớc với sự tự chịu trách nhiệm của các đơn vị
kinh tế, tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các thành phần kinh tế,
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên ký kết, giúp đỡ các bên của Nhà n-
ớc và của đơn vị mình với hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với tính chất là một loại quan hệ kinh tế trong kinh doanh, hợp đồng
kinh tế có vai trò quan trọng không thể thiếu đợc đối với các chủ thể kinh
doanh.
- Hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của
mỗi đơn vị kinh tế, là cầu nối giữa kế hoạch sản xuất kinh doanh với quan
hệ thị trờng.
Thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế, các chủ thể kinh doanh xác
định đợc căn cứ để xây dựng kế hoạch của mình. Kế hoạch ấy chỉ trở thành
phơng pháp hiện thực khi nó đợc bảo đảm bằng những cam kết hợp đồng.
Ngợc lại, hợp đồng kinh tế cụ thể hoá, chi tiết hoá nội dung kế
hoạch sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, các chỉ tiêu Pháp lệnh
của Nhà nớc thành những quyền và nghĩa vụ cụ thể đó chính là việc thực
hiện từng phần kế hoạch .
Mặt khác, hợp đồng kinh tế với nội dung là quan hệ hàng hoá tiền tệ,
luôn luôn phản ánh mối quan hệ thị trờng vừa là căn cứ, vừa là đối tợng
của kế hoạch.
- Hợp đồng kinh tế góp phần quan trọng vào việc củng cố hạch toán
kinh tế .
Hạch toán kinh tế là phơng pháp kinh doanh dựa trên cơ sở tiền tệ
làm thớc đo những hao phí và kết quả hoạt động kinh tế bởi vì trong quan
hệ đó tiền tệ phản ánh giá trị của hàng hoá, tức là lợng lao động đã kết
tinh trong hàng hoá và đợc thể hiện thông qua giá cả của hàng hoá đó.
Thông qua giá cả của hàng hoá mà đánh giá đợc kết quả của lao động, tính
toán đợc những chi phí bỏ ra và kết quả thu về trong hoạt động kinh tế.
Xuất phát từ lợi ích kinh tế, các đơn vị kinh tế tiến hành xác lập với nhau
những quan hệ hợp đồng kinh tế mà nội dung của nó chính là các quan hệ
hàng hoá, tiền tệ làm cơ sở cho hạch toán kinh tế.
Thông qua việc ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế, các tổ chức
kinh tế thực hiện quyền chủ động sản xuất kinh doanh của mình. Quyền
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét