Lời nói đầu
Hiện nay trên thị trờng Việt Nam xuất hiện rất nhiều cơ sở sản
xuất và buôn bán hàng giả. Điều đó đã làm nhiều nhà doanh nghiệp
phảI lo sợ .Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho nền
sản xuất nội địa phát triển chậm .
Nói đến hàng giả có lẽ không ai trong chúng ta là không biết
tới và thậm chí cũng đôi ba lần là nạn nhân của hàng giả. Hàng giả
vẫn ngang nhiên chen vai hích cánh cùng hàng thật ở mọi lúc, mọi
nơi, bất kỳ một thứ gì cũng có nguy cơ bị làm giả từ hàng tiêu
dùng, vật t cho đến thuốc chữa bệnh Hàng giả gây tác hại trực
tiếp cho con ngời nh ảnh hởng an toàn tính mạng, an toàn sức khoẻ,
và nguy hại hơn là làm mất uy tín của nhà sản xuất kinh doanh. Do
đó hàng giả vẫn đang là vấn đề bức xúc với các cơ quan nhà nớc,
nỗi lo của nhà sản xuất kinh doanh và sự bất bình của ngời tiêu
dùng.
Thực tế những hậu quả do nạn sản xuấtvà buôn bán hàng giả
trong các doanh nghiệp Việt Nam gây ra là hết sức nghiêm trọng do
đó đặt ra cho chúng ta một yêu cầu cấp bách là phải tìm ra những
biện pháp hữu hiệu nhất để diệt trừ tận gốc nạn sản xuất và buôn
bán hàng giả. Và đó cũng chính là lý do mà em nghiên cứu đề tài
này.
1
Chơng I
Cơ sở lý luận về hàng giả
1. Khái niệm hàng giả.
Để có những biện pháp chống sản xuất và buôn bán hàng giả
thì chúng ta phải hiểu hàng giả là gì ?
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đa ra nhiều quan điểm và cách
nói khác nhau về hàng giả . Nhng ở Việt Nam chúng ta chỉ có hai
kháI niệm về hàng giả sau đây là một trong hai kháI niệm đó .
Trong bộ luật hình sự của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đợc Quốc hội khoá VII thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày
27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 1/1/1986 quy định tội làm hàng giả,
buôn bán hàng giả tại điều 167. "Hàng giả là loại hàng có giá trị và
giá trị sử dụng không đúng với tên gọi của nó, không đúng với tiêu
chuẩn đã quy định của Nhà nớc trong việc sản xuất các loại hàng
hoá hoặc sử dụng trái phép nhãn hiệu của một cơ sở sản xuất khác".
Hiện nay ta thống nhất dùng loại khái niệm thứ 2 này trong các
văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và trong công tác chống
sản xuất và buôn bán hàng giả.
2. Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả
Bản chất của sản xuất và buôn bán hàng giả là hành vi cớp đoạt
giá trị vật chất và tinh thần của ngời khác, lừa dối ngời tiêu dùng để
thu lợi bất chính.
Sản xuất và buôn bán hàng giả là hành vi cớp đoạt giá trị vật
chất và giá trị tinh thần của ngời khác điều này đợc thể hiện rất rõ
2
đối với mọi loại hàng giả. Đã là hàng giả thì bao giờ chất lợng cũng
kém hơn so với hàng thật, thậm chí có những loại hàng giả có độc
tố ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ sinh mạng của ngời tiêu dùng.
Chính vì vậy số tiền mà ngời tiêu dùng bỏ ra và giá trị sử dụng công
dụng của hàng giả không tơng xứng với nhau.
Để cớp đoạt đợc giá trị vật chất và giá trị tinh thần của ngời
khác bọn sản xuất và buôn bán hàng giả dùng rất nhiều thủ đoạn để
lừa dối che mắt ngời tiêu dùng để thu lợi bất chính. Chúng chủ yếu
dựa vào sự thiếu hiểu biết của khách hàng để lừa dối .Hiện nay trên
thị trờng rất nhiều hàng giả nh xe đạp VIHA, diêm thống nhất,
thuốc lá Du lịch, Vinataba, xà phòng, xi măng, nớc mắm, thóc
giống, quần áo, bia, rợu, thuốc tân dợc giả.
- Nội giả ngoại nh các rợu Henessy, Johnie Walker, Remy
Mar-tin, phụ tùng xe máy, xe đạp, thuốc lá
- Giả sản phẩm của liên doanh với nớc ngoài nh mỳ chính, nớc
khoáng Lavie.
- Ngoại giả ngoại: nh mỳ chính Ajnomoto, máy điện thoại
Nokia, băng hình, đĩa CD
- Ngoại giả nội: nh thuốc bảo vệ thực vật do nớc ngoài sản
xuất, giả nhãn mác Việt Nam
Ngoài ra, ngời ta cũng có thể phân loại theo hình thức của hàng
giả: - Hàng giả sử dụng nhãn mác bao bì của hàng thật, loại hàng
giả này rất nguy hiểm với ngời tiêu dùng vì thờng là phải sử dụng
rồi mới biết là thật hay giả.
3
- Hàng giả nhái theo kiểu dáng của hàng thật. Loại hàng giả n
ày dễ nhận biết hơn nhng hiện nay lại phổ biến trên thị trờng do ng-
ời tiêu dùng không có những hiểu biết đầy đủ về hàng hoá định
mua.
II. Nguyên nhân của nạn hàng giả
Nguyên nhân hay động cơ của nạn sản xuất và buôn bán
hàng giả.
Nền kinh tế nớc ta đi vào xây dựng và phát triển trên cơ sở một
nền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu kéo dài, trình độ dân
trí nói chung còn thấp, nhất là tri thức về pháp luật. Đại bộ phận
dân c sống còn mang nặng lối suy nghĩ cá nhân hẹp hòi chỉ nhìn
thấy cái lợi thiển cận. Có khi chỉ vì cái lợi không đáng là bao mà họ
vẫn sẵn sàng làm hàng giả ảnh hởng đến tính mạng, sức khoẻ của
bao nhiêu ngời khác. Thêm vào đó là cơ chế thị trờng, nền kinh tế
chuyển hớng dựa trên cơ sở phát triển nhiều thành phần, chấp nhận
sự cạnh tranh. Đó là một nguyên nhân, một điều kiện cho tệ nạn
làm hàng giả phát triển
4
Chơng II
Thực trạng nạn sản xuất và buôn bán hàng
giả ở Việt Nam thời gian qua
I. Thực trạng nạn hàng giả ở Việt Nam
* Thực trạng sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam thời
gian qua.
Thời bao cấp, hàng giả hầu nh ít có đất phát triển bởi sản phẩm sản
xuất theo chỉ tiêu do các cơ quan sản xuất thuộc lĩnh vực quốc
doanh và khu vực tập thể đảm nhiệm. Cung không đủ cầu nên họ
không phải lo cải tiến mẫu mã, không cần thiết thị hiếu của khách
hàng, không phải lo tiếp thị thị trờng mà chỉ lo hoàn thành kế hoạch
trên giao. Ngời tiêu dùng hầu nh không có quyền lựa chọn, không
cần mặc cả về giá. Vì vậy hàng giả khó "chen chân".
Song từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng tạo điều kiện cho
sản xuất hàng hoá phát triển nhng cũng là những mảnh đất có đủ
"độ ẩm" "nhiệt độ" thích hợp cho hàng giả phát triển, từ những
mặt hàng cao cấp đắt tiền nh đá quý, vàng bạc, rợu ngoại, nớc hoa,
mỹ phẩm đến các mặt hàng chuyên dụng nh tân dợc, thuốc trừ
sâu, phân bón rồi đến các mặt hàng điện tử nh các thiết bị điện tử,
đĩa CD rồi đến các mặt hàng công nghiệp nh máy bơm nớc, các
phụ tùng ôtô, xe máy tiếp đến là các mặt hàng vật liệu xây dựng
(sắt, thép, xi măng ). Các mặt hàng may mặc, giầy dép và cả đến
các loại hàng thông dụng, rẻ tiền nh viên phấn, giấy vệ sinh Nh-
ng có lẽ nhiều nhất vẫn là mặt hàng thực phẩm, đồ uống.
5
Hiện nay trên thực tế hàng giả tồn tại ở khắp mọi nơi với hầu
hết các loại hàng hoá.
II. Thực tiễn đấu tranh chống hàng giả ở Việt Nam
1. Những biện pháp chủ yếu hiện nay.
Hàng giả không chỉ tác hại đến quyền lợi của ngời tiêu dùng,
đến sức khoẻ tính mạng của nhân dân mà còn ảnh hởng trực tiếp
đến sản xuất kinh doanh đến uy tín của những nhà sản xuất kinh
doanh. Bởi vậy công tác đấu tranh chống sản xuất, kinh doanh tiêu
thụ hàng giả phải là nhiệm vụ bức thiết của toàn xã hội.
a) Các biện pháp đấu tranh chống hàng giả của nhà nớc và các cơ
quan ban ngành chức năng.
* Thấy rõ mức độ nguy hại của loại tội phạm này, Nhà nớc ta
đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến hàng giả
và đặc biệt là những quy định về kiểm tra, xử lý, xử phạt tội làm
hàng giả. Cụ thể:
- Pháp lệnh về các hành vi phạm tội đầu cơ, buôn lậu, tàng trữ
hàng cấm, sản xuất buôn bán hàng giả. Ngày 30-6-1982 (4 hình
thức phá rối thị trờng).
- Điều 167, Bộ luật hình sự nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ngày 27/6/1985.
- Ngày 28/12/1989, Quốc hội nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã sửa đổi bổ sung điều 167 và đã nâng mức hình phạt tới
mức tối đa là tử hình.
6
- Nghị định số 140-HĐBT của Hội đồng Bộ trởng ngày
25/4/1991. Về việc kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả
.
- Pháp lệnh bảo vệ ngời tiêu dùng đợc Ban Thờng vụ quốc hội
thông qua ngày 27/4/1999.
- Chỉ thị số 31/1999/CT/TTg về đấu tranh chống sản xuất và
buôn bán hàng giả.
Qua một loạt các văn bản pháp luật trên ta có thể thấy rõ quan
điểm và ý chí quyết tâm ngăn chặn tệ nạn này của Nhà nớc ta.
Nói tóm lại, các ngành các địa phơng có 4 phơng pháp chống
hàng giả chủ yếu sau:
1,Lập và triển khai kế hoạch chống hàng giả trong địa bàn
mình quản lý.
2, Hớng dẫn ngời tiêu dùng và các hội quần chúng dới mọi
hình thức về sự nguy hại của tệ sản xuất, buôn bán hàng giả nhằm
tạo nên một phong trào quần chúng thờng xuyên chống tệ hàng giả.
3,Tập trung kiểm tra, xử lý các vụ sản xuất, buôn bán hàng giả
có tổ chức, có quy mô lớn, vào các mặt hàng quan trọng có liên
quan tới điều kiện vệ sinh, an toàn của ngời tiêu dùng và môi trờng.
Điều tra, trinh sát, phát hiện nhanh chóng kịp thời phải bố trí bắt
quả tang trên đờng vận chuyển đi tiêu thụ hoặc đang sản xuất. Phải
đa ra truy tố, xét xử nghiêm khắc và công khai các vụ điển hình về
sản xuất, buôn bán hàng giả để giáo dục chung.
4,Tổ chức các hòm th thu thập tố cáo của ngời tiêu dùng về
hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả.
7
b) Biện pháp chống hàng giả của các doanh nghiệp.
Sự tham gia tích cực của chính các nhà sản xuất kinh doanh là
một biện pháp rất cần thiết góp phần tích cực vào việc đấu tranh
chống sản xuất, kinh doanh hàng giả. Thực tiễn khẳng định rằng,
chỉ khi nào doanh nghiệp với t cách là ngời bị hại, chủ động sử
dụng công nghệ hiện đại và hợp tác toàn diện đầy đủ với các cơ
quan chức năng thì hàng giả, hàng kém chất lợng mới thực sự bị
đẩy lùi.
Hiện nay đi đôi với việc tăng cờng cải tiến mẫu mã, quy trình
công nghệ nâng cao chất lợng hàng hoá hạ giá thành. Các doanh
nghiệp luôn chú trọng đầu t thích đáng cho việc chống hàng giả.
Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã quan tâm đầu t chiều sâu; có
ý thức chủ động chống sản xuất và buôn bán hàng giả bằng nhiều
biện pháp nh dán tem chống hàng giả, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp, cải tiến mẫu mã nhãn hiệu hàng hoá, cung cấp thông
tin cho ngời tiêu dùng nhằm giúp họ phân biệt hàng thật - hàng giả,
phối hợp chặt chẽ và cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng
chống hàng giả.
Nhiều cuộc hội thảo trong nớc và quốc tế đã đợc tổ chức với sự
tham gia đông đảo của các quan chức doanh nghiệp, nhà quản lý,
nhà khoa học, báo giới trong nớc và quốc tế, nhằm trao đổi, cung
cấp cho nhau những kinh nghiệm và cùng nhau tìm ra những biện
pháp để chông sản xuất và buôn bán h
VD : Xà phòng giặt OMO cải tiến mẫu mã liên tục hay nh giầy
dép Bitis, nớc giải khát Lavie dùng các phơng tiện thông tin đại
8
chúng đặc biệt là Tivi để giúp ngời tiêu dùng phân biệt đợc hàng
thật, hàng giả
c) Biện pháp chống hàng giả của ngời tiêu dùng
Ngời tiêu dùng kiên quyết đấu tranh và tố cáo kịp thời nếu mua
phải hàng giả hoặc phát hiện ra nơi sản xuất, tiêu thụ hàng giả để
các cơ quan chức năng xử lý, tố cáo các hành vi gian dối về tiêu
chuẩn, đo lờng, chất lợng, nhãn hiệu hàng hoá giá cả và các hành vi
lừa dối khác của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ, gây thiệt hại cho mình và cộng đồng theo quy định của
pháp luật.
Một biện pháp khác để chống hàng giả của ngời tiêu dùng mà
tởng chừng nh hết sức đơn giản nhng hiệu quả lại rất lớn. Biện pháp
hữu hiệu đó là "không ham rẻ". Xuất phát từ thực tế là hàng giả th-
ờng rẻ hơn hàng thật do đó khi mua hàng nếu thấy hàng rẻ bất ngờ
thì hãy coi chừng kẻo lại mua phải hàng giả.
2. Kết quả đạt đợc trong công tác đấu tranh chống sản xuất
và buôn bán hàng giả.
Những năm gần đây đặc biệt là sau Nghị định 140 - HĐBT
ngày 25/4/1991 đợc ban hành, các lực lợng cảnh sát kinh tế
(CSKT), công an, lực lợng quản lý thị trờng (QLTT) đã thu đợc
những kết quả khả quan trong công tác chống hàng giả.
+Năm 1996: phát hiện xử lý 961 vụ
+Năm 1997: phát hiện xử lý 4500 vụ
+ Năm 1998: phát hiện xử lý 2000 vụ
9
Còn về phía các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh do đã
có ý thức chủ động chống sản xuất và buôn bán hàng giả, quan tâm
đầu t chiều sâu cho nên đã hạn chế đợc rất nhiều hiện tợng sản xuất
kinh doanh hàng giả. Chẳng hạn nh việc sản xuất bia chai Hà Nội,
Sài Gòn, 333 trớc kia chỉ có dán nhãn, đóng nút chai, việc làm
quá đơn giản nên bọn làm hàng giả chỉ cần 1 máy dập nút chai thủ
công là làm đợc bia giả. Sau đó ngành sản xuất bia đã cải tiến có
giấy kim loại phủ kín nắp và cổ chai, đã hạn chế gần nh cơ bản nạn
sản xuất bia chai gỉa
Trong công tác chống hàng giả, nhiều doanh nghiệp khẳng định:
chống hàng giả là trách nhiệm của chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng
đứng trên tuyến đầu nhng phải đợc các cơ quan chức năng và ngời
tiêu dùng hậu thuẫn.
3. Những tồn tại trong công tác đấu tranh chống sản xuất và
buôn bán hàng giả
Những hạn chế là nhiều ngời không nhận biết đợc hàng thật hàng
giả . Điển hình nh :
Nớc khoángLavie ngời tiêudùng thờng nhầm lẫn với các loại nớc
khoáng giả nh: Lavi, Levile, Levu, Laviole, Lavilla và cha có thói
quen khiếu nại khi mua hàng.
Một hạn chế cơ bản nữa là trớc thực trạng này, giải pháp của
các cơ quan chức năng lại vẫn đơn thuần là theo dõi, phát hiện, bắt
quả tang mới phạt hành chính và một số vụ lớn đã đợc đa ra truy tố
nhng với mức phạt còn nhẹ.
10
III. Kinh nghiệm về chống sản xuất và buôn bán hàng giả
của một số nớc trên thế giới
1. Những hình thức sản xuất và buôn bán hang giả ở một số
nớc Về hàng giả, trên thế giới cũng có hai hình thức (dạng) hàng
giả nh ở nớc ta:
- Hàng giả về nhãn: gồm các loại hàng hoá mang nhãn giả mạo
hoặc nhãn của một cơ sở sản xuất khác mà không đợc chủ nhân
đồng ý.
- Hàng giả về chất lợng: hàng hoá có mức chất lợng dới mức
chất lợng cho phép, hàng hoá có chất lợng không đúng với nguồn
gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi, công dụng của nó.
2. Một số biện pháp chống hàng giả trên thế giới
Về hàng giả
Hàng giả là một tệ nạn mang tính toàn cầu đe doạ không chỉ
với những nớc thuộc thế giới thứ ba mà còn tràn ngập cả các nớc
phát triển
Hàng giả không chỉ tiêu thụ trong nớc mà còn đợc xuất khẩu.
Hai hãng chế tạo xe hơi lớn của Pháp, chỉ riêng năm 1995 đã bị
thiệt hại hàng tỉ Franc. Theo tin từ Mỹ bọn buôn bán ma tuý đã
chuyển sang kinh doanh linh kiện giả của máy bay để thu lợi nhuận
cao, nhng những kẻ làm hàng giả đã chẳng đếm xỉa gì đến tính
mạng của hàng trăm hành khách.
Để triệt tiêu thảm hoạ này, các nớc tiên tiến phơng Tây đang
tăng cờng kiểm soát cuộc sản xuất trong nớc cũng nh hàng nhập
khẩu.
11
ở Pháp thuốc tây giả đợc những ngoại kiều c trú bất hợp pháp
mua bán và tiêm chích không qua đơn bác sĩ .
ở châu Phi ngành thuốc tây quả rất phát đạt, vì nhiều nớc
không đủ tiền nhập thuốc chính hiệu châu Âu.
Trong khi chờ phối hợp toàn cầu, từng quốc gia cần có kế
hoạch tiêu trừ hàng giả. Còn giáo dục cho mọi công dân biết rằng
hàng chính hiệu tuy có đắt nhng bảo đảm an toàn
12
CHƯƠNG III
Giải pháp chống sản xuất và buôn bán hàng giả
ở Việt Nam
I. Biện pháp chống hàng giả ở Việt Nam
Trong thực tiễn đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở n-
ớc ta, Nhà nớc đóng vai trò quan trọng và là nhân tố quyết định cho
việc tồn tại hay không nạn sản xuất và buôn bán hàng giả. Với một
loạt các văn bản pháp luật của mình, Nhà nớc đã thể hiện chính
kiến của mình là luôn luôn quyết tâm đấu tranh không khoan nhợng
với nạn sản xuất và buôn bán hàng giả cho dù cuộc chiến này là hết
sức cam go quyết liệt, lâu dài và tốn kém và điều đó đã đem lại
những kết quả khả quan. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy (bộc lộ)
những thiếu sót mà hậu quả của nó không phải là nhỏ, đặc biệt là
những thiếu sót trong pháp luật.
Để loại bỏ những thiếu sót đó thiết nghĩ Nhà nớc cần sớm hoàn
thiện hệ thống pháp luật, có những quy định mức xử lý, xử phạt lỗi
làm hàng giả nghiêm khắc hơn để ngời sản xuất, kinh doanh hàng
giả không còn dám nghĩ đến chuyện tái phạm, cần có thêm hình
phạt bổ sung cho án phạt về tội làm hàng giả nh cấm những ngời có
tiền án làm hàng giả làm những nghề có liên quan đến sản xuất,
kinh doanh loại hàng hoá mà họ đã phạm tội. Và cũng là để không
còn phải tái diễn cảnh lấy những điều luật đã hết hiệu lực thi hành
làm căn cứ pháp lý điều chỉnh những hành vi vi phạm đang xảy ra
trong thực tế.
13
Nhà nớc cũng cần phải nhận định rõ thẩm quyền của các Bộ,
ngành, các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra xử lý nạn sản
xuất và buôn bán hàng giả tránh tình trạng có nhiều cơ quan có
thẩm quyền kiểm tra, xử lý lại không có một nhạc trởng chỉ huy
dẫn dắt hay tình trạng trách nhiệm thuộc về tất cả "nghĩa là không
có ai" và tình trạng có quá nhiều văn bản hớng dẫn thi hành nên vô
hình chung "dẫm đạp" lên nhau trong một chừng mực nhất định đã
vô hiệu hoá lẫn nhau.
Các Bộ, ngành và các cơ quan chức năng cần phải phối hợp
chặt chẽ với nhau, thực hiện triệt để chỉ thị 31/1999/CT/TTg trong
công tác đấu tranh chống sản xuất kinh doanh hàng giả để tạo nên
sức mạnh tổng hợp, sự thống nhất và hợp lý để nhiệm vụ chống
hàng giả đạt đợc những kết quả nh mong muốn.
Ngoài ra Nhà nớc cũng cần phải tạo lập ra một thông tin tổng
hợp về chống hàng giả trên quy mô toàn quốc. Cần phối hợp chặt
chẽ hơn nữa, tăng cờng hơn nữa mối quan hệ hai chiều giữa Nhà n-
ớc với các doanh nghiệp và ngời tiêu dùng nhằm tạo ra thế bao vây
cô lập hàng giả từ mọi phía và từ đó công tác đấu tranh chống sản
xuất và buôn bán hàng giả mới có hiệu quả cao nhất.
Hội bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng phải vận động quần chúng tự
nguyện tham gia đấu tranh chống các hiện tợng tiêu cực, chống các
hiện tợng sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lợng, gây
thiệt hại cho ngời tiêu dùng, phổ biến rộng rãi "pháp lệnh bảo vệ
ngời tiêu dùng", phối hợp với chi cục Tiêu chuẩn - Đo lờng - Chất
lợng tổ chức các cuộc toạ đàm, hội thảo, tuyên truyền phổ biến cho
Hội viện và ngời tiêu dùng. Phối hợp với các cơ quan thông tin đại
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét