5
Trường hợp viêm xoang do răng số 5, 6, 7 hàm trên sẽ thấy bị áp-xe quanh răng, đau nhức theo
nhịp mạch đập. Lợi quanh đó bị viêm, mủ chảy từ xoang ra rất thối, chảy mủ mũi vàng đục
làm hoen bẩn khăn tay, có mùi hôi. Xì mạnh đôi khi thường gây đau và lẫn tia máu. Viêm
xoang cấp có thể tự khỏi nhưng cũng dễ chuyển thành viêm xoang mạn.
Về điều trị, bệnh nhân phải dùng thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm và phù nề tại chỗ. Ví dụ:
Đặt bấc có tẩm dung dịch tampon naphazolin, ephedrin vào khe giữa, xông menthol, khí dung.
Chỉ chọc rửa xoang hàm khi đã giảm viêm nhiễm (hết sốt, bạch cầu trong máu trở lại bình
thường).
TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Sức Khỏe & Đời Sống
Viêm mũi xoang dị ứng
Bệnh dị ứng, trong đó có viêm mũi xoang, là một trong những bệnh gây tốn kém nhất cả
về thời gian, chi phí điều trị lẫn hiệu suất lao động. Tỷ lệ mắc bệnh này tăng nhanh do
môi trường ngày càng ô nhiễm.
Viêm mũi xoang dị ứng xuất hiện khi tiếp xúc với các dị nguyên như bụi nhà, thực phẩm
(trứng, sữa, các loại hải sản ), thuốc, phấn hoa, sự thay đổi các yếu tố của môi trường (độ ẩm,
nhiệt độ), tinh thần căng thẳng, nội tiết tố, vi khuẩn, virus Bệnh biểu hiện bằng 2 hình thái:
viêm mũi dị ứng theo mùa hoặc viêm mũi dị ứng quanh năm.
Người bị viêm mũi dị ứng rất nhạy bén với các biến đổi trong mũi. Họ cảm thấy ngứa ngáy,
buồn buồn trong mũi rồi hắt hơi hàng tràng, sau đó chảy nước mũi trong như nước mưa và bắt
đầu ngạt tắc mũi. Bệnh nhân có cảm giác khó thở, nói giọng mũi và suy giảm khứu giác, có
khi mất khứu giác.
Việc chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào tiền sử dị ứng của bệnh nhân cũng như gia đình họ.
Ngoài ra, cần làm một số xét nghiệm như tìm tế bào ái toan trong dịch mũi, test thăm dò vùng
ngoài ra như test lẩy da, test nội bì
Về điều trị, chủ yếu là dự phòng bằng cách thay đổi môi trường sống nếu tìm được yếu tố dị
nguyên (phương pháp này thường khó thực hiện), giữ nhà cửa luôn thoáng mát, sạch sẽ. Nâng
cao sức đề kháng tự nhiên của cơ thể bằng các yếu tố vi khoáng chất, khí hậu liệu pháp, tắm
suối nước nóng, châm cứu, tập thể dục thường xuyên Có thể điều trị triệu chứng bằng thuốc
kháng histamin, corticoid toàn thân và tại chỗ
Hiện đã có phương pháp điều trị đặc hiệu, đó là giải mẫn cảm. Bệnh nhân được đưa dị nguyên
vào cơ thể với liều nhỏ và tăng dần để tạo kháng thể bao vây, thay đổi cách đáp ứng của cơ thể
với dị nguyên và vì thế làm mất triệu chứng dị ứng. Thời gian điều trị thường kéo dài từ 6
tháng đến 5 năm.
ThS Phạm Bích Đào, Sức Khỏe & Đời Sống
6
Viêm xoang
BS Nguyễn Thanh Sơn
Xoang là các hốc trong xương ở chung quanh mũi. Có bốn cặp xoang: xoang trán ở trán, xoang
bướm ở giữa đôi mắt, xoang sàng nằm sâu ở trong đầu phía sau mắt và xoang hàm nằm sau gò
má, dưới hốc mắt. Các xoang này có đường nhỏ ăn thông vào mũi. Không khí ra vào và các
chất nhầy trong xoang theo các ống này đổ ra mũi.
Nguyên nhân
Có thể là do vi trùng, siêu vi hoặc do vi nấm, thường thấy nhất là sau khi bị cảm cúm hoặc do
viêm mũi dị ứng kéo dài hoặc do tình trạng vẹo vách ngăn, có trường hợp viêm xoang là hậu
quả của sâu răng, nhiễm trùng răng hàm trên.
Triệu chứng
Người bệnh thường bị nghẹt mũi, nước mũi xanh đục, nước mũi có thể chảy ra trước hoặc ra
sau cổ họng gây ngứa họng và kích thích ho. Ngoài ra, thường bị nhức đầu âm ỉ, từng cơn,
hoặc chỉ có cảm giác nặng nề ở mặt. Người bệnh không tập trung suy nghĩ được. Ðôi khi ăn
không ngon, ngủ không yên giấc, ảnh hưởng đến sức khỏe.
Thời xưa, khi chưa có kháng sinh, viêm xoang có thể ăn lan vào hốc mắt hay ăn lan vào não
gây biến chứng nguy hiểm. Ngày nay, viêm xoang gây khó chịu cho người bệnh nhưng hiếm
khi có thể đe dọa tới sức khỏe, nếu bị tái phát nhiều lần hoặc không điều trị, viêm xoang trở
thành bệnh mãn tính, rất khó chữa trị. Người bệnh thường xuyên bị nghẹt mũi, chảy mũi, đau
nhức ở trên hoặc chung quanh mắt, có người không ngửi được mùi.
Ðiều trị
Giữ nhiệt độ trong nhà vừa phải, xông mũi bằng hơi nước nóng, uống nước nhiều để làm loãng
các chất tiết. Nếu viêm xoang do vi trùng, bác sĩ có thể cho bạn uống một đợt kháng sinh từ 10
- 14 ngày. Thuốc chống sổ mũi có thể giúp mủ và chất nhầy thoát ra, nhưng cũng phải cẩn thận
khi dùng vì có thể gây hại nhiều hơn lợi khi làm khô mũi quá mức và các chất không thoát ra
ngoài được.
Kèm theo điều trị bằng thuốc, có thể rửa xoang bằng phương pháp Proetz. Phương pháp này
rất hiệu quả, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu sau vài lần rửa. Nếu viêm xoang không bớt khi dùng
thuốc, có thể gây tê và chọc xoang để thoát các chất ứ đọng và phải mổ xoang trong trường
hợp vẹo vách ngăn.
Ngày nay, thiết bị nội soi xoang có thể biết được rõ ràng chỗ bị tắc nghẽn và có thể áp dụng kỹ
thuật cao cấp để phẫu thuật thay vì phải mổ theo kiểu cũ nên kết quả điều trị tốt hơn.
Viêm xoang do nấm
Tác giả : TS. TRẦN MINH TRƯỜNG (Trưởng khoa Tai Mũi Họng - BV. Chợ Rẫy) & Thạc sĩ
NGUYỄN H&#
7
Có nhiều tác nhân gây viêm xoang. Lâu nay chúng ta thường để ý đến các tác nhân
gây bệnh là vi trùng và siêu vi. Tuy nhiên còn có một tác nhân có thể gây viêm
xoang mà mọi người ít chú ý đến, đó là nấm.
Các loại nấm gây viêm xoang
Mỗi cơ quan thường có một loại nấm nào đó gây bệnh, riêng ở mũi xoang thường gặp nhất là
nấm Aspergillus. Nấm Aspergillus có hơn 300 chủng loại nhưng chỉ có khoảng 7 loại gây bệnh
cho người, đó là: Aspergillus fumigatus (90% gây bệnh cho xoang), flavus, glaucus,
versicolor, nidulans, niger Bào tử nấm được tìm thấy trong đất, trong không khí nhiều bụi
bặm và trong các chất hữu cơ, thực vật thối rữa Khi ta hít phải các bào tử này, chúng sẽ bám
vào những hốc mũi xoang chờ cơ hội gây bệnh.
Trường hợp bệnh nấm mũi xoang đầu tiên được Schubert báo cáo năm 1885. Từ năm 1965,
nhiều y văn đã đề cập về bệnh nấm mũi xoang. Năm 1972, Kecht đã tập hợp từ y văn thế giới
98 trường hợp bị bệnh nấm Aspergillus ở tai mũi họng (TMH). BV. Ðại học Y khoa Graz (Áo)
tổng kết từ năm 1976-1989 có 340 bệnh nhân bị nhiễm nấm mũi xoang. Viêm xoang hàm do
nấm chiếm khoảng 10% các trường hợp viêm xoang hàm nói chung. Trong khi đó nấm xoang
bướm phát hiện ít hơn. Tại khoa TMH BV. Chợ Rẫy, trong vòng 4 năm (1998-2002), chúng
tôi đã phát hiện được 20 trường hợp nấm xoang hàm và 12 trường hợp nấm xoang bướm.
Những yếu tố thuận lợi cho việc nhiễm nấm:
Vùng khí hậu nóng và ẩm ướt, nhiều bụi bặm: Trong 24 trường hợp nhiễm nấm phát hiện ở
Pháp, có đến 15 trường hợp ở các vùng gần sát Ðại Tây Dương, khí hậu ẩm hơn những vùng
khác. Ở Việt Nam, nhất là các tỉnh phía Nam, do khí hậu mưa và ẩm nhiều tháng trong năm
nên thích hợp cho nấm mốc phát triển.
Nghề nghiệp: Những người làm nghề nông hoặc tiếp xúc thường xuyên với ngũ cốc. Mc Guirt
quan sát thấy bệnh phần lớn xuất hiện ở những người làm nông nghiệp vùng Ðông nam Hoa
Kỳ; Còn trong 12 trường hợp chúng tôi nêu trên có đến 75% làm nghề nông.
Yếu tố tại chỗ: Nấm Aspegillus khi xâm nhập vào mũi xoang thường nằm im tại chỗ, chỉ gây
bệnh khi có những yếu tố thuận lợi. Ðó là những yếu tố làm giảm thông khí xoang và giảm sự
dẫn lưu của xoang như: tắc lỗ thông mũi xoang do viêm xoang mạn tính, polype mũi xoang, dị
vật trong mũi xoang.
- Yếu tố toàn thân: Người bệnh bị suy giảm miễn dịch (khi mắc các bệnh về máu, điều trị bằng
hóa chất, dùng thuốc ức chế miễn dịch, nhiễm HIV , bệnh tiểu đường, dùng thuốc corticoide
kéo dài, kháng sinh phổ rộng.
Biểu hiện lâm sàng
Giống như viêm xoang do những tác nhân khác, viêm xoang do nấm cũng cho những triệu
chứng tương tự. Tùy theo xoang bị bệnh mà có triệu chứng khác nhau.
8
Những triệu chứng thường gặp là nhức đầu, nghẹt mũi, chảy mũi trong hay đục. Trong viêm
xoang hàm thường nhức đầu vùng gò má, thái dương. Viêm xoang bướm nhức đầu thường khu
trú ở vùng đỉnh, vùng chẩm lệch về bên xoang bị bệnh. Ðôi khi khịt mũi, khạc đàm có lẫn ít
máu. Thời gian phát hiện bệnh thường kéo dài do không nghĩ đến viêm xoang do nấm.
Nấm có thể phát triển thành khối choán đầy trong xoang, phá hủy các thành xoang rồi xâm lấn
vào những cơ quan lân cận như hốc mắt, sọ não. Nấm xâm nhập vào hốc mắt sẽ làm mắt bệnh
nhân bị mờ dần và có thể bị mù vĩnh viễn. Nếu xâm nhập vào nội sọ sẽ gây viêm màng não,
viêm não; hoặc xâm nhập vào các dây thần kinh và mạch máu sẽ gây liệt các dây thần kinh và
gây chảy máu ồ ạt khiến bệnh nhân tử vong.
Xét nghiệm cận lâm sàng
X-quang thông thường có thể nghi ngờ khi thấy xoang mờ với những ổ lắng đọng calci. Tuy
nhiên, có đến 55% X-quang thông thường không phát hiện được hoặc nhầm với vài bệnh khác
của xoang.
CT-scan: Cho hình ảnh rõ hơn phim thường:
- Mật độ cản quang tăng ở giữa đám mờ, đôi khi dưới dạng một khối giả u.
- Hình ảnh đám vôi trong xoang.
- Hình ảnh hủy xương các thành xoang hoặc các vách xương dày lên.
Tuy nhiên để chẩn đoán xác định và định danh nấm phải nhờ đến các xét nghiệm khác như:
Giải phẫu bệnh lý: Khi mổ xoang nhìn thấy trong xoang những khối giống như dung nham núi
lửa màu nâu đen, dễ vỡ hoặc giống như bùn màu xanh đen nên nghi ngờ đến nấm. Nhìn dưới
kính hiển vi thấy những sợi nấm và những bào tử nấm thâm nhập trong các lớp của niêm mạc
xoang.
Xét nghiệm vi sinh: Khối nghi ngờ là nấm được nuôi cấy trong môi trường thích hợp cho
chúng sinh sôi nảy nở nhiều lên. Sau đó quan sát dưới kính hiển vi dựa vào hình thái của sợi
nấm cũng như kích thước, màu sắc của bào tử nấm để định danh nấm.
Huyết thanh chẩn đoán: Xét nghiệm máu có thể biết được bệnh nhân có bị nhiễm nấm hay
không. Có những thử nghiệm miễn dịch đặc hiệu cho nhiễm nấm Aspergillus như: Phản ứng
kết tủa với thạch, phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động, thử nghiệm ELISA, miễn dịch
huỳnh quang gián tiếp. Huyết thanh chẩn đoán thường âm tính trong những trường hợp bệnh
nấm mũi xoang ở giai đoạn chưa xâm lấn và dương tính cao ở giai đoạn xâm lấn.
Ðiều trị viêm xoang do nấm:
Như đã nêu trên, nấm chỉ gây bệnh ở mũi xoang khi gặp điều kiện thuận lợi, vì vậy phải giải
quyết những yếu tố đó như lấy dị vật trong mũi xoang, giải quyết những nguyên nhân gây bít
tắc xoang như cắt polyp, khối u hoặc những dị hình khác
9
Khối nấm trong xoang phải được lấy ra, bơm rửa sạch lòng xoang.
Thuốc kháng nấm được sử dụng tùy theo giai đoạn của bệnh và có khi phải phối hợp nhiều
loại; Tuy nhiên thuốc kháng nấm thường gây độc cho gan nên thường phải kiểm tra chức năng
gan trước khi dùng thuốc.
Ngày nay sự tiến bộ của chẩn đoán hình ảnh trong y khoa (CT-scan, MRI ), những phát triển
về kỹ thuật vi sinh và huyết thanh chẩn đoán đã giúp phát hiện và định danh nấm gây bệnh một
cách chính xác. Nhờ đó phẫu thuật nội soi trong tai mũi họng và việc tiếp cận với xoang trở
nên dễ dàng hơn, giúp quan sát được rõ ràng bệnh tích và tổn thương xoang. Tuy nhiên để lấy
ra những khối nấm lớn, đôi khi phải nhờ phẫu thuật kinh điển.
Ở nước ta, với khí hậu nóng ẩm và gần 80% dân số làm nghề nông, nấm xoang không phải là
một bệnh hiếm gặp. Nói chung viêm xoang do nấm có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện ở
giai đoạn chưa xâm lấn. Tiên lượng xấu nếu bệnh nhân đến khám trong giai đoạn xâm lấn và
có biến chứng nội sọ.
Xì mũi thế nào cho đúng?
Xì mũi là phản ứng tự nhiên của cơ thể để tống các chất ứ đọng, giúp lấy lại sự
thông thoáng. Động tác này tuy đơn giản nhưng đa phần các cháu nhỏ dưới 5
tuổi không biết cách thực hiện. Xì mũi không đúng cách rất nguy hiểm vì có thể
khiến trẻ bị viêm xoang, viêm khí phế quản.
Mũi luôn tiết ra dịch. Chất nhày từ các xoang chảy tới mũi cũng chứa dịch. Khi bị kích thích
bởi một số yếu tố (lạnh - ẩm, hơi khí, bụi ), mũi và xoang sẽ tiết ra nhiều dịch hơn và dịch này
cũng đặc hơn, gây ứ đọng trong mũi. Lúc này, trẻ thường không biết xịt ra mà lại hít mạnh vào.
Kết quả là các chất này sẽ từ mũi đi xuống họng hoặc đi ngược vào xoang, gây viêm xoang.
Khi bảo xì, trẻ thường bịt cả 2 lỗ mũi để xì. Như vậy, các chất ứ đọng cũng đi ngược vào trong
xoang hay xuống họng, gây viêm họng, viêm khí phế quản.
Cha mẹ và các cô giáo cần hướng dẫn cho trẻ từ 3-4 tuổi trở lên cách xì mũi đúng:
- Chỉ bịt một lỗ mũi, một bên để thoáng.
Không
nên
dùng
khăn
vải
trong
suốt
cả
ngày
vì dễ
gây tái
nhiễm.
10
- Hơi cúi đầu, ngậm mồm, thở mạnh ra.
- Đổi bên và làm lại như vậy, mỗi bên làm 2-3 lần cho sạch.
Khi trẻ bị ngạt hoặc tắc mũi, phải nhỏ thuốc co mạch trước, 1-2 phút sau mới thực hiện xì mũi.
Nếu không sẽ gây phản tác dụng như đã nêu. Ngoài ra, xì mũi quá mạnh còn có thể gây chảy
máu mũi.
Khi trẻ bị bệnh lây lan như sởi, cúm nên cho trẻ xì mũi ra khăn giấy dùng một lần. Đặt khăn ở
trước lỗ mũi để ngăn các chất xì bắn tung tóe, làm bệnh lan truyền.
TS Ngô Ngọc Liễn, Bác sĩ Gia đình
Dùng nước súc miệng thế nào cho đúng?
Trong điều trị viêm nhiễm vùng họng, miệng, ngoài việc dùng kháng sinh, bác sĩ thường
chỉ định dùng dung dịch súc miệng. Tuy nhiên, việc sử dụng không đúng sẽ có thể
gây hại. Chẳng hạn, nước muối quá mặn sẽ gây tổn thương cho tế bào.
Họng nằm ở ngã tư đường thở, thường xuyên tiếp xúc với môi trường thông qua mũi và miệng.
Họng được che phủ bởi lớp tế bào niêm mạc biểu mô cùng với các thụ cảm thần kinh nên rất
nhạy cảm với mùi vị. Do cấu tạo và vị trí, nó dễ nhiễm tạp khuẩn, nấm và chịu tác động của
các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, bụi bẩn và dẫn đến viêm.
Các dung dịch súc miệng thường dùng:
1. Nước muối: Một số người quan niệm nước muối nồng độ càng cao thì sát khuẩn càng tốt.
Thực ra, cơ thể luôn ở trạng thái pH trung tính nên nồng độ các dung dịch súc miệng có pH ở
dạng toan hoặc kiềm đều không phù hợp, rất dễ gây tổn thương các tế bào. Vì vậy, chúng ta
nên sử dụng dung dịch nước muối ở nồng độ tương đương nồng độ của cơ thể, vừa giúp bảo vệ
lớp tế bào niêm mạc họng vừa có tác dụng sát khuẩn. Nồng độ nước muối phù hợp là 0,9%
(tương đương nước canh). Nên dùng nước muối để vệ sinh răng miệng sau đánh răng buổi tối,
buổi sáng.
2. Dung dịch Betadin: Khi vào cơ thể, chất iod trong dung dịch này được giải phóng từ từ nên
tác dụng sát khuẩn, chống nấm, làm mất mùi hôi. Dung dịch betadin súc miệng chỉ có nồng độ
iốt 7%, thấp hơn dung dịch sát khuẩn ngoài da (10% iod) hoặc vệ sinh phụ nữ. Vì vậy, khi
dùng betadin súc miệng, cần lựa chọn đúng nồng độ và chỉ nên dùng trong các trường hợp
nhiễm nấm họng, bên cạnh việc sử dụng các thuốc diệt nấm đặc hiệu.
3. Dung dịch Givalex: Là một chế phẩm được chỉ định rộng rãi trong viêm họng, viêm quanh
răng, có tác dụng sát khuẩn rất tốt, chống phù nề. Khi sử dụng, nên pha loãng 1/10 với nước
ấm để tăng thêm hiệu quả vì trong thành phần của dung dịch còn có menton, nếu dùng với
nồng độ cao sẽ gây tổn thương niêm mạc họng.
11
4. Dung dịch Listerin: Thành phần chủ yếu là thymol nồng độ 0,064% và một số hương liệu;
có tác dụng sát khuẩn và chống phù nề nhẹ niêm mạc. Dung dịch này được chỉ định súc miệng
ngậm trong 30 giây, 2 lần/ngày.
5. Dung dịch T-B: Thành phần chủ yếu là axit boric nồng độ 0,3%, tinh dầu quế, tinh dầu bạc
hà; có tác dụng sát khuẩn nhẹ trong vệ sinh răng miệng.
Ngoài ra, thị trường còn có một số dung dịch khác được sản xuất dưới dạng phun mù (khí
dung) để hỗ trợ điều trị viêm họng như: angispray, locabiotal, hexaspray, filxonase Đối với
các chế phẩm này, cần sử dụng theo chỉ định với liều xịt cụ thể trong ngày theo đợt điều trị.
(Theo Sức Khoẻ & Đời Sống)
Dược thảo điều trị ho do viêm họng và viêm phế quản
Tác giả : GS. ÐOÀN THỊ NHU
Ho do viêm họng và viêm phế quản là những chứng bệnh thường gặp, nhất là trong
mùa thu - đông. Theo y học cổ truyền, bệnh được chia làm hai thể cấp tính và
mạn tính. Nguyên nhân do phong hàn, phong nhiệt và khí táo. Phong hàn, phong
nhiệt xâm nhập vào cơ thể sinh viêm, nhiễm khuẩn khí phế quản, gây ho đờm
nhiều; Khí táo là giảm tiết dịch niêm mạc đường hô hấp gây ho khan, viêm họng,
ngứa họng.
DƯỢC THẢO TRỊ HO DO VIÊM HỌNG, VIÊM PHẾ QUẢN
1. Cam thảo
Trong thử nghiệm trên động vật, cam thảo đã được chứng minh có các tác dụng giảm ho,
chống co thắt cơ trơn, chống viêm và chống dị ứng. Hoạt chất acid glycyrhizic ở cam thảo có
tác dụng ức chế sự phát triển của nhiều loài vi khuẩn gây bệnh.
Trong y học cổ truyền, cam thảo được dùng làm thuốc long đờm chữa ho khản tiếng, viêm
họng, viêm phế quản. Ngày uống 4-20g dưới dạng bột, thuốc hãm, nước sắc, thường phối hợp
với các vị khác.
2. Cát cánh
Trên thực nghiệm, rễ cát cánh biểu hiện các tác dụng long đờm và giảm ho. Thử nghiệm lâm
sàng trên bệnh nhân cho thấy nhóm hoạt chất saponin của cát cánh có tác dụng tiêu đờm rõ rệt.
Khi uống, saponin gây kích thích niêm mạc họng và phế quản dẫn đến phản ứng tăng tiết dịch
nhầy ở niêm mạc, làm cho đờm loãng dễ bị tống ra ngoài.
Rễ cát cánh được dùng chữa ho có đờm, viêm đau họng khản tiếng, viêm phế quản. Ngày uống
10-20g dạng thuốc sắc.
3. Dâu
12
Cao chiết từ lá, vỏ, rễ và thân cây dâu có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gram
dương và an thần nhẹ. Trong y học cổ truyền, vỏ rễ dâu chữa phế nhiệt, ho có đờm, ho gà trẻ
em, ngày uống 4-12g, có khi đến 20-40g, dùng dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Lá dâu chữa ho,
viêm họng, viêm phế quản. Ngày uống 4-12g, dạng thuốc sắc.
4. Gừng
Trên thực nghiệm, gừng có tác dụng chống co thắt cơ trơn, chống dị ứng, kháng histamin,
chống viêm và giảm ho. Hoạt chất cineol trong gừng có tác dụng diệt nhiều loại vi khuẩn gây
bệnh.
Gừng tươi được dùng chữa cảm mạo phong hàn, ngạt mũi, ho có đờm. Ngày dùng 4-8g dạng
thuốc sắc. Gừng khô, gừng sao chữa ho suyễn, viêm phế quản; Làm thuốc chống cảm lạnh,
chống nhiễm khuẩn trong các chứng ho và sổ mũi. Ngày uống 4-20g dạng thuốc sắc hoặc hoàn
tán, thường phối hợp với các vị khác.
5. Mạch môn
Rễ mạch môn có các tác dụng kháng khuẩn đối với phế cầu và tụ cầu vàng, chống viêm, ức
chế ho trong mô hình gây ho thực nghiệm trên động vật, đồng thời có tác dụng long đờm, làm
tăng tiết dịch nhầy ở niêm mạc khí phế quản. Mạch môn được dùng chữa ho khan, viêm họng.
Ngày uống 6-20g, dạng thuốc sắc.
6. Tía tô
Tinh dầu tía tô có tác dụng ức chế các vi khuẩn tụ cầu vàng, liên cầu tan máu, phế cầu. Hoạt
chất luteolin trong tía tô có tác dụng chống dị ứng. Tía tô được dùng làm thuốc long đờm, chữa
ho nhiều đờm. Ngày dùng 3-10g, sắc uống.
7. Tiền hồ
Tiền hồ có tác dụng kháng khuẩn đối với tụ cầu vàng và một số vi khuẩn khác. Ngoài ra còn có
tác dụng long đờm. Trong y học cổ truyền, tiền hồ được dùng làm thuốc long đờm, chữa ho,
đờm suyễn, viêm phế quản. Ngày uống 8-15g dạng thuốc sắc.
CÁC BÀI THUỐC
1. Chữa ho do lạnh:
Tía tô, bách bộ, mỗi vị 12g; Húng chanh, sả, mỗi vị 10g; Gừng, trần bì mỗi vị 8g; Bạch chỉ 6g.
Sắc uống ngày một thang.
2. Chữa ho có đờm:
a. Cam thảo 8g, cát cánh 4g. Sắc uống ngày một thang.
b. Cát cánh, kinh giới, bách bộ, mỗi vị 200g; Trần bì 100g, cam thảo 60g. Các vị tán nhỏ, trộn
đều, mỗi lần uống 1-3g, ngày 3 lần vào sau hai bữa ăn và trước khi đi ngủ.
13
3. Chữa ho viêm họng:
Vỏ trắng rễ dâu, bách bộ (bỏ lõi sao vàng), mạch môn, mỗi vị 10g; Vỏ quýt, xạ can, cam thảo
dây, mỗi vị 5g. Làm dạng thuốc phiến, mỗi phiến 3g, ngày ngậm 4-5 lần, mỗi lần 1 phiến.
4. Chữa trẻ em viêm họng, viêm phế quản:
Mạch môn, huyền sâm, thiên môn mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần.
5. Chữa viêm phế quản đờm không tiết ra được:
Tiền hồ, tang bạch bì, đào nhân, bối mẫu, mỗi vị 10g; Khoản đông hoa 8g, cát cánh 5g, cam
thảo 3g. Sắc uống ngày một thang.
6. Chữa viêm phế quản cấp tính:
a. Kim ngân, lá dâu, mỗi vị 12g; Bạc hà, cúc hoa, lá ngải cứu, mỗi vị 10g, xạ can 8g. Sắc uống
ngày một thang.
b. Tía tô 12g; Lá hẹ, kinh giới, mỗi vị 10g; Bạch chỉ, rễ chỉ thiên, mỗi vị 8g; Xuyên khung,
trần bì, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
c. Tiền hồ, hạnh nhân, tử uyển, mỗi vị 12g; Cát cánh 8g, cam thảo 4g. Tán bột làm viên, ngày
uống 15-20g, chia 3 lần.
d. Tiền hồ, hạnh nhân, tô diệp, mỗi vị 10g; Cát cánh 8g; Bán hạ chế, chỉ xác, phục linh, cam
thảo, mỗi vị 6g; Trần bì 4g, đại táo 4 quả, gừng 3 lát. Tán bột làm viên, ngày uống 15-20g,
chia làm 3 lần.
7. Chữa viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn tính:
Tiền hồ, lá dâu, cúc hoa, liên kiều, ngưu bàng tử, hạnh nhân, mỗi vị 12g; Cát cánh 8g, bạc hà
6g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
8. Chữa viêm phế quản mạn tính:
Vỏ rễ dâu, mạch môn, rau má, bách bộ, mỗi vị 10g; Trần bì, bán hạ chế, mỗi vị 6g. Sắc uống
ngày một thang.
Làm sao tr chứng hôi miệng?
14
Các nhà chế tạo kẹo ngậm và thuốc súc miệng đã thu được hàng triệu
USD mỗi năm nhưng thực ra, những sản phẩm này chỉ giúp giảm bớt
phần nào chứng hôi miệng. Chúng còn kém hiệu quả hơn phương
cách súc miệng nhiều lần bằng nước.
Một vài thức ăn, tình trạng bệnh lý và thói quen có thể gây hôi miệng. Trong nhiều trường hợp,
bạn có thể làm giảm đi chứng này bằng cách giữ vệ sinh răng miệng thật đúng cách. Nếu cách
tự chăm sóc không giải quyết vấn đề, bạn nên đến một nha sĩ để khám loại trừ một tình trạng
bệnh lý ở răng.
Các nguyên nhân gây ra triệu chứng phiền phức này bao gồm:
Thức ăn: Sự phân hủy các mẩu nhỏ thức ăn quanh răng có thể gây ra mùi hôi. Việc dùng loại
thức ăn có chất tinh dầu dễ bay hơi cũng thường là nguyên nhân, chẳng hạn như hành và tỏi.
Sau khi thức ăn được tiêu hóa, tinh dầu vào máu đi đến phổi, tạo ra mùi hôi mãi đến khi chúng
được thải trừ hết.
Các vấn đề ở răng: Giữ vệ sinh răng miệng kém hay bệnh nha chu đều là nguyên nhân gây hôi
miệng. Nếu bạn không đánh răng và súc miệng mỗi ngày, các mẩu nhỏ thức ăn ở trong miệng
sẽ tập trung vi khuẩn. Mảng bám răng xuất hiện, kích thích lợi gây viêm lợi và sâu răng. Thông
thường, các mảng có túi có thể được tạo thành giữa răng và lợi viêm, làm tình trạng xấu hơn
nữa. Răng giả không được làm sạch và lắp không khít cũng là nơi tạo mùi hôi bởi vi khuẩn và
thức ăn dính lại.
Khô miệng: Nước bọt giúp làm sạch và ẩm ướt miệng bạn. Miệng bị khô có thể khiến một số tế
bào chết tích tụ ở răng, lợi, lưỡi. Chúng bị phân hủy và tạo mùi. Khô miệng là hiện tượng tự
nhiên trong lúc ngủ, tạo ra hôi miệng vào buổi sáng. Nó trầm trọng hơn nếu bạn ngủ hay hở
miệng. Vài loại thuốc và việc hút thuốc lá có thể dẫn đến tình trạng khô miệng mạn tính, gây ra
thêm vài vấn đề với tuyến nước bọt của bạn.
Bệnh tật: Nhiễm trùng phổi mạn tính hay bệnh abcès phổi có thể làm hôi miệng nặng. Suy thận
gây ra mùi nước tiểu, còn suy gan gây mùi như cá tanh. Bệnh nhân tiểu đường không kiểm soát
cũng có mùi trái cây. Hôi miệng còn gặp ở những người bị viêm xoang, viêm họng, viêm
amygdale, trào ngược acid
Hầu hết mọi người có thể ngăn ngừa hay cải thiện chứng hôi miệng bằng cách vệ sinh
răng miệng:
- Đánh răng sau khi ăn. Xe chỉ răng 1 lần/ngày để lấy đi các mẩu thức ăn, mảng bám răng.
Nên sớm dạy cho
trẻ cách vệ sinh
răng miệng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét