phát kiến ra trái phiếu quốc gia v các loại trái khoán, giấy ghi nợ rất phong
phú. Thị trờng chứng khoán Pari non trẻ hơn, ra đời năm 1801. Sau
London, nó l chợ lớn nhất châu Âu, một lục địa sang đầu thế kỷ 21 đã có
hơn 30 thị trờng quốc gia, 12 hệ thống buôn bán v 20 hệ thống thi hnh lệnh,
triển khai quy trình thanh toán bù trừ. Theo thời gian các thị trờng biến hình
liên tục.
Nếu trong thời kỳ đầu, thị trờng chứng khoán chỉ xuất hiện ở các nớc có
nền kinh tế tự do phát triển nh H Lan, Anh, Đức, Hoa Kỳ thì hiện nay mô
hình thị trờng ny đã lan rộng v trở thnh hiện tợng phổ biến của các quốc
gia có nền kinh tế thị trờng. Mặc dầu vậy, để phù hợp với trình độ phát triển
nền kinh tế, thực lực nền kinh tế m mức độ phức tạp, đa dạng cũng nh mức độ
sôi động của thị trờng chứng khoán tại các quốc gia khác nhau. Sự khác biệt ấy
không chỉ dừng lại giữa các quốc gia, ngay ở những khu vực phát triển kinh tế
khác nhau trong một quốc gia, mức độ lu hoạt vốn của các bộ phận thị trờng
(mang tính địa phơng) cũng khác nhau rõ rệt. Cùng với xu hớng ton cầu hoá
nền kinh tế, hoạt động của thị trờng chứng khoán các quốc gia ngy cng trở
nên gần nhau hơn, thông qua các liên kết giao dịch, nhu cầu kinh doanh, đầu t
của tất cả các đối tợng.
ở Việt Nam nếu không tính đến những năm chuẩn bị thì thời điểm khai
trơng chính thức trung tâm giao dịch chứng khoán Thnh phố Hòo Chí Minh
l vo tháng 6 năm 2000. Phiên giao dịch đ
u tiền diễn ra ngy 20-7-2000.
b) Phân loại thị trờng chứng khoán
+ Xét theo tiêu chí lu thông chứng khoán có thể phân ra thị trờng sơ cấp
v thị trờng thứ cấp.
Tại thị trờng sơ cấp, các chứng khoán lần đầu tiên đợc bán cho các nh
đầu t nên còn đợc gọi l thị trờng phát hnh. Điều đó cũng có nghĩa, thông
qua thị trờng sơ cấp, những nguồn đầu t mới thực sự đợc chuyển cho nh
phát hnh.
4
Thị trờng thứ cấp diễn ra các giao dịch chứng khoán cha đợc thanh
toá. Bộ phận thị trờng ny không lm tăng nguồn vốn mới cho nền kinh tế,
nhng có thể hoạt động liên tục, tạo ra khẳ năng thanh khoản cho chứng khoán
đã phát hnh. Thị trờng thứ cấp phục vụ cho hai mục đích chính: thúc đẩy
sự tạo vốn cho các doanh nghiệp, chính phủ v tạo ra các công cụ đầu t có khả
năng sinh lời cho các nh đầu t. Thông qua thị trờng thứ cấp, các bên tham
gia đều mong muốn đạt tới hiệu ích kinh tế của mình. Hai bộ phận thị trờng sơ
cấp cũng nh thứ cấp có mối quan hệ nội tại, mật thiết: thị trờng sơ cấp l sơ
sở, tiền đề; thị trờng thứ cấp l động lực. Nếu không có thị trờng sơ cấp thì
không có chứng khoán để vận hnh thị trờng thứ cấp; ngợc lại nếu không có
thị trờng thứ cấp sẽ khó khăn trong việc phát hnh vì chứng khoán hầu nh
không có khả năng thanh khoản vì cha đến hạn thanh toán.
+ Xét theo phơng thức tổ chức v giao dịch, thị trờng chứng khoán bao
gồm thị trờng tập trung v không tập trung.
Thị trờng chứng khoán tập trung diễn ra các hoạt động mua hoặc bán
chứng khoán, hoặc tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán, đợc tồn
tại dới hình thức phổ biến l Sở Giao dịch chứng khoán hạc các sn giao dịch
chứng khoán.
Thị trờng không tập trung diễn ra hoạt động giao dịch chứng khoán
không có đủ điều kiện giao dịch tại thị trờng tập trung, có thể tiến hnh thông
qua những hình thức đa dạng khác nhau nh hệ thống giao dịch nối mạng hoặc
l giao dịch chứng khoán riêng lẻ.
Thị trờng chứng khoán tập trung có giá trị nh bộ mặt thị trờng
chứng khoán quốc gia, các bộ phận thị trờng khác thể hiện sự đa dạng của các
giao dịch có thể lựa chọn. Hng hoá của thị trờng tập trung cũng l những hng
hoá có thể đánh giá có chất lợng hơn so với hng hoá của thị trờng khác, do
tính có tổ chức của nó; điều đó cũng có nghĩa sự an ton hay rủi ro, cơ hội kiếm
lời l khác nhau trong các giao dịch trên thị trờng.
5
3.
Những điều kiện xã hội để hình thnh thị trờng chứng khoán v vai
trò của nó
a) Điều kiện xã hội
Nếu chỉ xem xét thị trờng chứng khoán với những biểu hiện đơn giản
nhất l có giao dịch mua bán chứng khoán thì đó l cách nhìn không đầy đủ.
Thực tế đã chỉ ra rằng, thị trờng chứng khoán bao giờ cũng có những biểu hiện
bề nổi, mang tính bộ mặt, đó l các giao dịch tại thị trờng chứng khoán tập
trung, các giao dịch nội bộ cha phản ánh đầy đủ tính chất của thị trờng chứng
khoán . Nhng để thị trờng tập trung có thể vận hnh ổn định v bình thờng
đợc, cần phải hội đủ những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.
Thứ nhất, nền kinh tế của quốc gia có thị trờng phải phát triển đến mức
độ nhất định. Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của chứng khoán, đó l nhu cầu về
vốn giữa ngời cần vốn v ngời có vốn. Mặc dù vậy, nguồn vốn có thể cung v
nguồn vốn cần thiết cho nền kinh tế phải đạt đến giới hạn nhất định. Nếu không
đạt đến các giới hạn đó, các nh kinh doanh (v kể cả các nh đầu t) sẽ không
lựa chọn vốn qua thị trờng chứng khoán m sẽ lựa chọn vốn qua thị trờng
khác đơn giản v an ton hơn (nh thị trờng tín dụng, thị trờng ngoại hội, thị
trờng bất động sản). Trong thực tế, đánh giá về tốc độ phát triển nền kinh tế
đợc xem xét ở những khía cạnh cụ thể khác nhau. Trớc hết, thông qua các chỉ
sổ phát triển kinh tế (GDP, GNP); cơ cấu ngnh, miền. Chỉ số ny phải phản
ánh đợc đó l nền kinh tế phát triển thực (tức phải xem xét trong mối t
ơng
quan với chỉ số giá cả). Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để ra đời thị trờng
chứng khoán ở các nớc đang phát triển, vấn đề hoạch định nền kinh tế v xem
xét tình hình phát triển kinh tế l rất cần thiết cho sự ổn định thị trờng. Thực tế
đã cho thấy, đối với thị trờng các nớc đang phát triển, vấn đề hoạch định nền
kinh tế v xem xét tình hình phát triển kinh tế l rất cần thiết cho sự ổn định thị
trờng. Thực tế đã cho thấy rằng, đối với thị trờng các nớc đang phát triển, sự
biến động về phát triển kinh tế sẽ ảnh hởng tức thì đến giao dịch tại thị trờng
v không loại trừ trờng hợp lm vỡ thị trờng.
6
Liên quan đến yêu cầu kinh tế, sự tham gia của các tổ chức kinh tế vo thị
trờng l hết sức quan trọng. Các tổ chức kinh tế đợc xem l những nh đầu t
có tổ chức v nhiều tiềm năng hơn l nh đầu t riêng lẻ, l đối tợng có nhu cầu
vốn thờng xuyên. Sự tham gia của họ vo thị trờng sẽ lm cho nguồn vốn giao
dịch tăng, đây chính l yếu tố kích ứng mức sôi động của thị trờng mặt khác, tổ
chức kinh tế cũng đồng thời l ngời có khả năng sử dụng vốn với hiệu suất cao
nhất, l nh kinh doanh lnh nghề. Vì vậy, cần phải có những biện pháp phù
hợp tạo điều kiện cho họ có cơ hội tham gia thị trờng. Các tổ chức kinh tế đợc
xem xét ở đây có thể l doanh nghiệp thông thờng, các tổ chức ti chính Quy
mô vốn, năng lực thực tế của các tổ chức kinh tế quyết định sức thanh khoản v
lnh mạnh của thị trờng
Thứ hai, phải có sự ổn định chính trị xã hội. Thị trờng chứng khoán có
độ nhạy cảm cao đối với bất kỳ sự biến đổi hay bất ổn định no về chính trị, xã
hội. Sự ổn định chính trị- xã hội l tiền đề cho sự ổn định đầu t; ngời đứng đầu
bộ máy nh nớc có thể ảnh hởng tới luồng chu chuyển vốn giữa các ngnh v
khu vực kinh tế . Thực tế đời sống chính trị của Hoa Kỳ, Nhật Bản, khu vực
Trung Cận Động, trong những năm qua cho chúng ta rất nhiều bi học về ổn
định chính trị v vai trò của ngời đứng đầu tổ chức bộ máy nh nớc đối với thị
trờng chứng khoán. Sự ổn định không chỉ dừng lại trong phạm vi lãnh thổ quốc
gia m còn l sự ổn định về chính trị của quốc gia đó trên trờng quốc tế. Sự can
thiệp của Tổng Thống Bush v ngnh thép Hoa Kỳ không chỉ gây ra mối quan
ngại trong giao dịch thơng mại quốc tế với các quốc gia có xuất khẩu thép vo
thị trờng Mỹ m còn ảnh hởng rõ nét tời giá chứng khoán ngnh thép Hoa Kỳ.
Thị trờng chứng khoán ở các quốc gia hình thnh từ nhu cầu nội tại. Nếu
dùng ngôn ngữ triết học, có thể nói, nó hình thnh theo con đờng tiến hoá dần
v có nhu cầu hợp lại với nhau, dần hon thiện.
Đối với Việt Nam, thị trờng chứng khoán đợc hình thnh phụ thuộc rất
nhiều yếu tố từ bên ngoi. Mặc dù có một số yết tố nội tại trong đó, song nó
không hon ton mang yếu tố hình thnh tự thân. Đây cũng l yếu tố chi phối tới
7
pháp luật thị trờng chứng khoán Việt Nam v cũng phán ánh vai trò của pháp
luật đối với thị trờng chứng khoán nớc ta.
b) Vai trò của TTCK
Chứng khoán v thị trờng chứng khoán tồn tại nh một tất yếu khách
quan của nền kinh tế thị trờng v giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền
kinh tế.
Thứ nhất, xuất phát từ nguồn gốc ra đời của chứng khoán v thị trờng
chứng khoán, có thể khẳng định, thị trờng chứng khoán l công cụ quan trọng
trong việc huy động vốn trung v di hạn.
Với chi phí thấp, khả năng chủ động trong việc lựa chọn đối tợng, lợng
vốn cần thiết cũng nh hình thức huy động vốn, thị trờng chứng khoán có vai
trò rất lớn trong việc trợ giúp cho các doanh nghiệp thu hút, huy động vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh một cách dễ dng. Thực tiễn hoạt động của thị
trờng chứng khoán các quốc gia đã chỉ ra rằng, thị trờng chứng khoán tạo ra
sự cạnh tranh với các bộ phận thị trờng truyền thống m đại diện l thị trờng
tín dụng. Nếu nh trớc đây các tổ chức tín dụng l chỗ dựa tiềm tng về vốn
cho các doanh nghiệp, từ nguồn vốn nhỏ nhất trong thời gian di nhất theo nhu
cầu, thì đến nay khi nền kinh tế phát triển, thị trờng chứng khoán đã mở ra cơ
hội huy động vốn mới cho các doanh nghiệp. Nội dung, hình thức huy động vốn
của doanh nghiệp thông qua thị trờng chứng khoán rất đa dạng, không đơn
thuần l nguồn vốn vay; bản thân các nguồn vốn kèm theo cam kết của doanh
nghiệp phát hnh cũng thể hiện nhu cầu v tính cạnh tranh to lớn.
Không chỉ đóng vai trò l
công cụ huy động vốn, thị trờng chứng khoán
còn l môi trờng đầu t thuận lợi của công chúng. Thị trờng chứng khoán l
môi trờng đầu t lnh mạnh với cơ hội lựa chọn phong phú. Những nguồn tiền
tiết kiệm của dân c đợc sử dụng với hiệu suất cao nhất thông qua việc lựa chọn
các loại chứng khoán với mức độ an ton v lu hoạt khác nhau khiến cho các
nh đầu t có thể lựa chọn hình thức đầu t phù hợp với khả năng v sở thích
của mình. Cũng chính vì sự lựa chọn đó m bản thân các nh phát hnh cũng
8
đợc tính đến trong quyết định của nh đầu t. Có thể nói, thị trờng chứng
khoán l một trong những cơ sở đánh giá giá trị của doanh nghiệp v của nền
kinh tế một cách tổng hợp (kể cả giá trị hữu hình v giá trị vô hình) thông qua
các chỉ số giá chứng khoán trên thị trờng l kết quả của quá trình cạnh tranh,
đảm bảo cho hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp nói riêng v của cá nhân
nền kinh tế nói chung đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, cũng cần lu ý rằng,
việc đánh giá nền kinh tế thông qua thị trờng chỉ thực sự phát huy hiệu quả đối
với những thị trờng phát triển, hoạt động ổn định. Đối với những thị trờng
mới hình thnh, mức độ giao dịch còn nhỏ, các giao dịch vốn truyền thống vẫn
còn phổ biến thì vai trò ny của thị trờng chứng khoán cha thực sự phát huy,
Việt Nam cũng không l ngoại lệ.
Thứ hai, trờng chứng khoán còn l công cụ thực hiện chính sách ti chính
tiền tệ quốc gia v các chính sách vĩ mô khác.
Thị trờng chứng khoán phản ánh các giá cả chứng khoán của các doanh
nghiệp v các ngnh kinh tế. Mức độ giao động giá chứng khoán cho thấy dấu
hiệu tiệu cực. Chính vì vậy, có thể nói rằng thị trờng chứng khoán l phong vũ
biểu của nền kinh tế v l một công cụ hữu hiệu để Chính phủ điều hnh việc
thực hienẹ các chính sách vĩ mô. Thông qua thị trờng chứng khoán, Chính phủ
thực hiện cân đối lại ngân sách nh nớc bằng việc phát hnh các loại trái
phiếu Chính phủ. Đây chính l
nội dung quan trọng nhằm thực hiện chính sách
ti chính quốc gia. Việc thực hiện tốt chính sách ti chính quốc gia tạo căn cứ
chắc chắn cho việc ổn định giá trị đồng tiền, l nội dung cơ bản v quan trọng
nhất của chính sách tiền tệ quốc gia. Chính vì thế, thị trờng chứng khoán tạo
môi trờng thuận lợi cho Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Đối
với các quốc gia nền kinh tế thì thị trờng chứng khoán còn l nhân tố thúc đẩy
tiến trình đa hình thức sở hữu nền kinh tế. Quá trình cổ phần hoá các doanh
nghiêp nh nớc ở Trung Quốc trong giai đoạn 1993 đến nay đã chỉ ra rằng, thị
trờng chứng khoán giúp Chính phủ thực hiện tốt công cuộc cải tổ nền kinh tế.
9
Thứ ba, thị trờng chứng khoán đóng vai trò tạo khả năng thanh khoản
cho các chứng khoán.
Nh đầu t có thể chuyển đổi chứng khoán của họ thnh tiền mặt hoặc các
loại chứng khoán m họ mong muốn khác tại thị trờng. Chính tính thanh
khoan của chứng khoán giúp cho thị trờng sôi động, đồng thời cũng l một
trong những yếu tố quyết định mức hấp dẫn của chứng khoán đối với ngời đầu
t. Vì vậy, bản thân tính thanh khoản v hoạt động của thị trờng có mối quan
hệ nội tại, bảo đảm cho thị trờng chứng khoán hoạt động an ton, hiệu quả.
Bất kỳ quốc gia no có thị trờng chứng khoán đều phải tính toán sự ảnh
hởng của đầu t nớc ngoi đối với nền kinh tế trong nớc. Có thể nói, thị
trờng chứng khoán thu hút đầu t nớc ngoi với độ nhậy lớn. Đối với những
hình thức đầu t ti chính thông qua thị trờng có vai trò quan trọng đối với
quốc gia đang phát triển. Vì vậy, nếu thị trờng có tính ổn định, môi trờng đầu
t thuận lợi, cơ hội nhận vốn đầu t nớc ngoi sẽ lớn hơn. Điều ny lại đợc
phản ánh trong tính thanh khoản của chứng khoán v những giới hạn đầu t
chứng khoán đối với nh đầu t nớc ngoi (kể car nh đầu t có tổ chức v đầu
t cá thể). Đối với việc thu hút đầu t trực tiếp cũng tạo ra môi trờng cạnh
tranh lnh mạnh giữa doanh nghiệp chứng khoán trong nớc v doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoi. Kinh nghiệm của nh kinh doanh chứng khoán nớc
ngoi l những bi học không thể định giá cho các nh kinh doanh chứng khoán
non trẻ của quốc gia mới có thị trờng. Tuy nhiên, đi đôi với việc xem xét những
mặt tích cực của chính sách thu hút đầu t nớc ngoi, bản thân nó cũng có thể
ảnh hởng xấu tới nền kinh tế trong nớc nếu có sự lệ thuộc quá lớn vo nguồn
vốn nớc ngoi. Vì vậy, đối với những thị trờng mới mở, Chính phủ thờng có
những hạn chế đối với đầu t nớc ngoi (kể cả đầu t trực tiếp hay đầu t gián
tiếp).
Thứ t, thị trờng chứng khoán Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với
quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nh nớc.
10
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nh nớc đã tạo điều kiện hết sức
quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển của thị trờng sơ cấp cũng nh hình
thnh thị trờng thứ cấp ở Việt Nam. Việc phát hnh cổ phiếu của các doanh
nghiệp đợc cổ phần hoá lm sôi động hơn thị trờng phát hnh, chuyển hoá
phần vốn tiết kiệm trong dân chúng thnh vốn kinh doanh. Việc niêm yết cổ
phiếu trên thị trờng tập trung lm tăng thêm v sôi động thêm lợng hng hoá
tại thị trờng thứ cấp. Thực tế cho thấy, các cổ phiếu niêm yết tại thị trờng tập
trung hiện nay đều l cổ phiếu của các công ty cổ phần hình thnh từ con đờng
cổ phần hoá. Ngợc lại, thị trờng chứng khoán cũng có ảnh hởng không nhỏ
đến quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nh nớc, từ giai đoạn cổ phần hoá đến
giai đoạn niêm yết chứng khoán v khi có nhu cầu phát hnh chứng khoán để
tăng vốn doanh nghiệp.
Thứ năm (cuối cùng), ta sẽ phân tích các yếu tố tác động qua lại của thị
trờng chứng khoán trong thị trờng ti chính.
Hệ thống pháp luật phản ánh chính sách tiền tệ quốc gia, gây ảnh hởng
trực tiếp đến cơ cấu tiền của ton xã hội. Chính sách lãi suất của Chính phủ lm
thay đổi cơ cấu tiền trong lu thông, lm ảnh hởng trực tiếp đến luồng tiền v
mức độ giao dịch của các nh đầu t trên thị trờng chứng khoán. Lãi suất cơ
bản của ngân hng trung ơng (Ngân hng Nh nớc đối với Việt Nam) có ảnh
hởng trực tiếp đến lãi suất thị trờng tín dụng (bao gồm cả lãi suất tiền gửi, lãi
suất cho vay, lãi suất tái chiết khấu), đồng thời, kích ứng mức độ sôi động thị
trờng chứng khoán (thông qua biến động các chỉ số giá chứng khoán). Những
biến động về lãi suất nh vậy sẽ ảnh hởng tới nguồn cung cấp vốn cho các nh
kinh doanh trong mở rộng đầu t v hình thnh vốn, lm cho nguồn vốn đợc
đa vo đầu t có chi phí thấp nhất, các bộ phận thị trờng ti chính có mức độ
tự cạnh tranh cao nhất. Ngoi ra, thị trờng ngoại hối cũng nh cán cân thơng
mại cũng ảnh hởng trực tiếp đến giao dịch trên thị trờng chứng khoán. Đối với
đồng nội tệ có sức mua ổn định, chỉ số giá chứng khoán có mức độ cân bằng
tơng đối so với thị trờng nớc ngoi sẽ không xảy ra tình trạng luồng tiền
11
đợc chuyển ra đầu t nớc khác. Sức mua đối ngoại của đồng tiền ổn định cũng
tạo cho nh đầu t chứng khoán an tâm, không có sự chuyển dịch đầu t từ bộ
phận thị trờng ny sang bộ phận thị trờng khác, xa lánh thị trờng chứng
khoán (chẳng hạn từ thị trờng chng skhoán chuyển sang thị trờng ngoại hối,
thị trờng bất động sản). Những yếu tố kinh tế nh tốc độ tăng trởn, chính
sách đầu t của Nh nớc, thay đổi cơ cấu tổ chức hoặc ngời đứng đầu bộ máy
nh nớc, tác động của các tổ chức tiền tệ quốc tế đều có thể lm biến động thị
trờng chứng khoán. Từ những phân tích trên, điều dễ nhận thấy l thị trờng
chứng khoán rất nhạy cảm với các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội; việc ổn định
v phát triển các yếu tố đó chính l cơ sở quan trọng để thị trờng chứng khoán
ổn định v phát triển.
Vì thế, Đảng v Nh nớc ta chủ trơng: Thúc đẩy sự hình thnh, phát
triển v từng bớc hon thiện các loại thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, đặc biệt quan tâm các thị trờng quan trọng nhng hiện nay cha có hoặc
còn sơ khai nh: thị trờng lao động, thị trờng chứng khoán, thị trờng bất
động sản, thị trờng khoa học v công nghệ; trong đó xây dựng v phát triển
thị trờng chứng khoán một hình thức chủ yếu trong việc huy động vốn trung,
di hạn nhằm phát triển nhanh chóng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa ở nớc ta.
Do đó, thị trờng chứng khoán, nói cách khác, l thị trờng vốn trung, di
hạn trực tiếp; nơi giao dịch, mua bán có tổ chức các chứng khoán trung, di hạn,
do các công ty, doanh nghiệp v chính phủ phát hnh để huy động vốn của công
chúng, phục vụ cho đầu t phát triển nền kinh tế quốc dân.
4.
Chủ thể của thị trờng
Trong thị trờng chứng khoán, dù ở giai đoạn phát triển no v ở bộ phận
no của thị trờng thì cũng tồn tại hai loại chủ thể chủ yếu l nh phát hnh v
nh đầu t chứng khoán.
+ Nh phát hnh l tất cả chủ thể huy động vốn bằng cách bán chứng
khoán cho ngời đầu t. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, pháp luật mỗi nớc quy định
12
rõ những đối tợng no l nh phát hnh. ở thị trờng, thờng l các doanh
nghiệp (bao hm cả các tổ chức tín dụng) v Chính phủ (bao gồm cả chính
quyền trung ơng v chính quyền địa phơng).
+ Nh đầu t chứng khoán những chủ thể có nhu cầu đầu t bằng cách
mua các loại chứng khoán trên thị trờng chứng khoán. Loại chủ thể đầu t ny
rất đa dạng v đông đảo, mục đích của các nh đầu cũng không giống nhau.
Thờng thì, ngời ta chia nh đầu t thnh hai nhóm cơ bản: nh đầu t có tổ
chức v nh đầu t cá thể. Nh đầu t có tổ chức có thể chỉ chiếm số lợng nhỏ
so với nh đầu t cá thể nhng đối tợng ny lại có tiềm năng lớn, khả năng
phân tích đánh giá chứng khoán tốt. Nh đầu t các thể chiếm tỷ trọng đông đảo
về số lợng nhng lại l đối tợng thờng đợc quan tâm của nh quản lý với
mục đích bảo về quyền lợi cho họ.
Để tạo ra tính thanh khoản của chứng khoán, hiệu suất sử dụng vốn của
nền kinh tế, các giao dịch thứ cấp đợc rất nhiều nh kinh doanh quan tâm v
coi đây l nghiệp vụ kinh doanh chính của mình. Hnh vi kinh doanh chứng
khoán cũng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận nh hnh vi kinh doanh khác,
nhng do đặc điểm của chứng khoán rất phức tạp v rủi ro lớn mang tính dây
truyền, nên chủ thể thực hiện kinh doanh chứng khoán thờng phải đạt những
tiêu chuẩn nhất định, cho dù mỗi quốc gia có thể cho phép tổ chức v cá nhân
cùng kinh doanh hoặc chỉ cho phép tổ chức v cá nhân cùng kinh doanh hoặc
chỉ cho phép tổ chức kinh doanh. Chủ thể kinh doanh chứng khoán thờng tồn
tại dới hình thức công ty chứng khoán hoặc những hình thức cá biệt khác.
Ngoi những chủ thể chủ yếu trên còn có thể có một số đối tợng khác nh
các ngân hng thơng mại (tham gia với t cách l trung gian thanh toán), các
đại lý phát hnh chứng khoán.
II. Thực trạng thị trờng chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vo hoạt
động
1. ý nghĩa của chỉ số giá trên thị trờng chứng khoán Việt Nam
(VN- Index)
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét