LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng Thương mại Nhà nước đang đứng trước thực trạng nợ tồn đọng lớn, vốn tự có quá
thấp so với nhu cầu thực tiễn và so với các ngân hàng trên thế giới, tình trạng này đang làm hạn
chế khả năng huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng.
Vấn đề cổ phần hoá ngân hàng Thương mại Nhà nước đặt ra trong giai đoạn này là phù hợp với
tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng để hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc cổ phần hoá
một ngân hàng Thương mại Nhà nước không đơn thuần như việc cổ phần hóa một doanh nghiệp
nhà nước, nhưng cũng không phải là vấn đề quá khó khăn không thể không thực hiện được. Do
đó, quan trọng hiện nay là xác định được mục tiêu cổ phần hóa, xác định những điều kiện cần và
đủ để giải quyết những vấn đề trong quá trình cổ phần hóa và phải đảm bảo được một ngân hàng
sau khi cổ phần hóa phải đáp ứng được các chuẩn mực Hội nhập kinh tế quốc tế, đủ năng lực cạnh
tranh được với các ngân hàng trong nước và trên thế giới.
Hoạt động ngân hàng, trong đó ngân hàng Thương mại Nhà nước với vai trò chủ đạo trong những
năm qua đã có sự đóng góp rất lớn vào sự thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đã triển
khai thực hiện chính sách tiền tệ một cách tích cực, cơ bản ổn định được giá trị và sức mua của
đồng tiền, kìm chế lạm phát, tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia và góp phần tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế, chưa
phát huy hết chức năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả để làm cho kinh tế nhà nước thực sự
đóng vai trò chủ đạo.
Việc cổ phần hóa ngân hàng là một khâu trong quá trình đổi mới hoạt động ngân hàng, củng cố và
cơ cấu lại các ngân hàng Thương mại theo hướng tiếp tục phát huy thành tựu, khắc phục những
tồn tại nhằm nâng cao năng lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực tổ chức kinh doanh đáp
ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới trong những năm tới.
Do yêu cầu của CNH-HĐH đất nước cần phải có một khối lượng vốn, vì vậy cần phải có ngân
hàng Thương mại đủ tiềm lực tài chính để thực hiện phân phối và sử dụng vốn một cách hiệu quả.
Chính vì vậy, đặt ra vấn đề cổ phần hóa ngân hàng Thương mại Nhà nước là rất cần thiết.
Quá trình thực hiện Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và chuẩn bị hội nhập vào thị trường tài chính
quốc tế với việc tự do hóa tài chính đã làm cho môi trường cạnh tranh gay gắt hơn, đầy rủi ro hơn.
Bối cảnh này đã đặt ra cho ngành ngân hàng cần thiết phải cổ phần hóa ngân hàng Thương mại
Nhà nước. Với những yêu cầu hết sức cần thiết và bức xúc như đã nêu trên, đòi hỏi trong hoạt
động của ngân hàng Việt Nam phải có một ngân hàng với quy mô lớn, năng lực tài chính mạnh
trong khi các ngân hàng Thương mại Nhà nước cũng như các ngân hàng Thương mại cổ phần
không thể đáp ứng được thì vấn đề cổ phần hóa ngân hàng Thương mại Nhà nước là một yêu cầu
cần thiết khách quan.
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước. Sau 15 năm thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về quá trình này. Nhiều vấn đề lý luận và tư duy
kinh tế đang đặt ra cần giải quyết để nâng cao hiệu quả của quá trình cổ phần hóa trong thời gian
tới.
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một trong những vấn đề đang được đẩy mạnh ở nước
ta, nhưng việc thực hiện một cách có hiệu quả không đơn giản. Vì vậy, sau 15 năm thực hiện cổ
phần hóa, rất cần có sự nhìn lại thực trạng, đánh giá triển vọng và các giải pháp nâng cao hiệu quả
quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong những năm tới.
1. Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 15 năm qua:
Tính chung, tính đến hết tháng 12 năm 2007, trong cả nước đã sắp xếp, cổ phần hóa được trên
3.800 doanh nghiệp nhà nước. Chiếm trên 70% doanh nghiệp cần được sắp xếp lại và chiếm 25%
vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Tuy số vốn Nhà nước đã cổ phần hóa còn khá khiêm tốn,
nhưng số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa nói trên đã tạo một khối lượng hàng hóa rất lớn cho thị
trường chứng khoản giao dịch chính thức. Cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoản thành
Trang 1
phố Hồ Chí Minh và trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, cũng như cung cấp một khối lượng
rất lớn cổ phếu giao dịch trên thị trường phi tập trung, tức thị trường OTC.
Từ số liệu trong các báo cáo, bước đầu có thể phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp ở
một số khía cạnh sau:
Đối tượng cổ phần hóa: Nói đến đối tượng cổ phần hóa là nói đến việc lựa chọn doanh nghiệp nhà
nước nào để thực hiện cổ phần hóa. So với quy định ban đầu, chúng ta đã bổ sung đối tượng cổ
phần hóa là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các tổng công ty nhà nước. Tuy vậy cho đến nay,
77% số doanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ có quy mô vốn dưới 10 tỉ đồng. Riêng đối với loại
doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước không giữ tỷ lệ nào trong vốn điều lệ thì đều là doanh
nghiệp nhỏ có vốn nhà nước dưới 1 tỉ đồng và kinh doanh kém hiệu quả. Loại doanh nghiệp nhỏ
này chiếm gần 30% số doanh nghiệp mà Nhà nước thực hiện cổ phần hóa.
Sự lựa chọn các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa như vậy đã làm chậm tiến độ thực hiện chủ
trương cổ phần hóa; các doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được rõ những ưu thế của doanh
nghiệp đã cổ phần hóa với những doanh nghiệp chưa cổ phần hóa, chưa thực hiện được các mục
tiêu cổ phần hóa đề ra.
Cơ cấu vốn điều lệ: Tỷ lệ cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh nghiệp đã cổ phần hóa như sau:
nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp; dưới 50% số vốn ở 37% số doanh
nghiệp và không giữ lại tỷ lệ % vốn nào ở gần 30% số doanh nghiệp.
Xem xét cụ thể hơn có thể thấy: số vốn nhà nước đã được cổ phần hóa chỉ mới chiếm 12%, và
ngay trong số vốn này, Nhà nước vẫn nắm khoảng 40%, vì thế số vốn mà Nhà nước cổ phần hóa
được bán ra ngoài mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3,6%).
Với cơ cấu vốn nhà nước đã cổ phần hóa như trên có thể thấy bức tranh cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước ở nước ta hiện nay và hiểu rõ hơn khái niệm cổ phần “chi phối” của nhà nước.
Cơ cấu cổ đông: Cổ đông trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa là cán bộ, công nhân viên nắm
29,6% cổ phần; cổ đông là người ngoài doanh nghiệp nắm 24,1% cổ phần; cổ đông là Nhà nước
nắm 46,3% cổ phần.
Nét đáng chú ý về cơ cấu cổ đông là các nhà đầu tư chiến lược trong nước khó mua được lượng
cổ phần đủ lớn để có thể tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, còn nhà đầu tư nước ngoài có
tiềm năng về vốn, công nghệ, có năng lực quản lý kinh doanh cũng chỉ được mua số lượng cổ
phần hạn chế. Điều này làm cho các doanh nghiệp đã cổ phần hóa rất khó hoạt động có hiệu quả,
nhất là trước sức ép cạnh tranh ở cấp độ quốc tế, khi nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO).
Phân tích một số bài viết nghiên cứu về quá trình cổ phần hóa trên báo chí, chẳng hạn bài “Cổ
phần hóa - quỹ đạo nào để bảo toàn, phát triển thị trường vốn?” đăng trên báo Tài chính; qua
những thông tin từ Ban Chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp, có thể nhận thấy việc đánh giá về hiệu quả
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có những ý kiến không giống nhau. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, sau khi cổ phần hóa, có tới 90% doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, góp phần tăng
ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm
dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm. Chỉ có 10% số doanh
nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động kém hiệu quả vì trước khi cổ phần hóa các doanh nghiệp này đã
hoạt động rất kém, nội bộ mất đoàn kết, không thống nhất; mặt khác còn do sự can thiệp không
đúng của chính quyền địa phương…
Thứ hai, theo kết quả nghiên cứu, đến thời điểm này chưa có doanh nghiệp nhà nước nào sau khi
cổ phần hóa biến thành tư nhân hóa. Tuy nhiên, trong đánh giá của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh
tế và Ngân sách của Quốc hội Đặng Văn Thanh - người tham gia đoàn giám sát của Quốc hội -
bên cạnh việc công nhận một số kết quả do cổ phần hóa mang lại, cũng đã chỉ rõ: có tình trạng,
một số doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đang dần chuyển hóa thành doanh nghiệp tư
nhân do một số cổ đông đã bán, chuyển nhượng số cổ phần của mình, hoặc làm trung gian thu
gom cổ phần cho tư nhân ngoài doanh nghiệp nắm giữ, có trường hợp đã nắm hơn 50% tổng giá
trị cổ phần danh nghĩa để trở thành chủ nhân đích thực của doanh nghiệp. Theo ông Thanh, đây là
Trang 2
điều trái với chủ trương cổ phần hóa của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên \, đã lkà kinh tế thị trường
thì chúng ta phải chấp nhận quy luật cung - cầu.
2. Những vấn đề đặt ra của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Thực trạng quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta nói trên đang đặt ra nhiều vấn
đề cả về mặt lý luận, tư duy kinh tế lẫn thực tiễn quản lý, tổ chức hoạt động doanh nghiệp.
a. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật
chung ở các nước, bởi:
Các doanh nghiệp mà Việt Nam thực hiện cổ phần hóa được hình thành trong quá trình thực hiện
công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây. Điều này khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ
phần hóa ở các nước phát triển: là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá
tầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu.
Các doanh nghiệp mà nước ta thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâu năm trong cơ chế bao cấp và
kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơ chế thị trường, khác với các doanh nghiệp thực
hiện cổ phần hóa ở các nước là đã tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, cạnh tranh.
Các doanh nghiệp mà nước ta tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổ chức và hoạt động theo yêu
cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là tổ
chức và hoạt động vì lợi nhuận tối đa của bản thân và tuân theo quy luật thị trường.
Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa ở nước ta là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém
hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với lý do thực hiện cổ phần hóa
doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập
trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong
cạnh tranh.
b. Từ những sự khác biệt đó cho thấy:
Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta là một trong những giải pháp quan
trọng nhằm giải quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các
doanh nghiệp nhà nước, đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế. Tình hình đó không giống với yêu cầu có tính quy luật là cổ phần hóa doanh
nghiệp là một bước tiến của quá trình xã hội hóa, tuân theo quy luật khách quan: quan hệ sản xuất
phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đối tượng cổ phần hóa ở nước ta khác hẳn với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa trong nền
kinh tế thị trường phát triển cao. Ở nước ta, một bộ phận doanh nghiệp nhà nước sau khi được cổ
phần hóa vẫn chưa thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu cả về tài chính, tổ chức bộ máy và cơ chế
quản lý, tức là, chưa hẳn là một tổ chức hoạt động tuân theo quy luật khách quan của kinh tế thị
trường.
Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở nước ta, trên thực tế, vẫn dựa trên tư duy cũ. Vì vậy, từ
khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức quản lý sau khi doanh nghiệp đã cổ phần hóa
đều tồn tại nhiều vấn đề. Việc giải quyết vấn đề tài chính trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn
nhiều bất cập như:
Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất thoát và lãng phí tài sản
nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa. Việc xác định giá trị doanh nghiệp trải qua hai giai
đoạn khác nhau. Trong giai đoạn chưa có Nghị định 187: việc xác định giá trị doanh nghiệp do
một Hội đồng hoặc doanh nghiệp tự đảm nhận. Điều đó dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp
giá trị doanh nghiệp, do đó, phần lớn cổ phần rơi vào tay một nhóm người. Trong giai đoạn sau
khi có Nghị định 187: sự thất thoát tài sản nhà nước đã được hạn chế, nhưng lại nảy sinh tình
trạng liên kết, gian lận trong đấu thầu.
Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gây nhiều khó khăn. Tính đến ngày 31-12-2005, dư nợ cho vay
đối với các công ty cổ phần vào khoảng 51.603 tỉ đồng. Đặc biệt, việc xử lý nợ xấu đã mất rất
nhiều thời gian do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính.
Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trị có độ tin
cậy thấp. Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp
Trang 3
chưa được quy định rõ, chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần.
Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sát thực tế, còn rườm rà,
phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa. Bình quân thời gian để thực hiện cổ phần hóa một
doanh nghiệp mất 437 ngày, tổng công ty mất 554 ngày. Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh
nghiệp vẫn hoạt động như cũ; quản lý nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trong các
doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ doanh nghiệp; bộ máy quản lý cũ trong
nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ đến 80%.
Thực tiễn 15 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở nước ta cho thấy: chúng ta còn chậm trễ
trong việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế khi chuyển sang kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng.
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước do chế độ công hữu hóa xã hội chủ nghĩa trước đây để lại đang
là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường. Những vấn đề này đang trở thành
một thách thức đối với công tác lý luận, đổi mới tư duy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế
quốc dân.
3. Những việc cần làm để nâng cao hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước:
Sau 20 năm chuyển đổi nền kinh tế, nước ta đã đạt được một số thành tựu về tăng trưởng kinh tế,
nhưng hiệu quả, chất lượng tăng trưởng còn chưa cao. Trên nền chung đó lại diễn ra quá trình cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, triển vọng của quá trình cổ phần hóa sẽ như thế nào có
quan hệ chặt chẽ với chất lượng đổi mới nền kinh tế từ nay trở về sau.
Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ có hiệu quả khi đồng thời tạo được các điều
kiện sau đây:
Thứ nhất, điều chỉnh phương hướng đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn này, khai thác những lợi thế của đất nước và các nguồn đầu tư bên ngoài để đưa đến
một mô hình kinh tế hợp lý.
Theo dõi quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, giáo sư Đa-vít Đa-pi (David Dapice đại học Ha-
vớt) nêu rõ: thực tế mỗi năm Chính phủ Việt Nam đầu tư khoảng 30% GDP, nhưng chỉ tăng
trưởng 7%-8%. Nếu biết đầu tư đúng thì tăng trưởng phải đạt ở mức 9%-10% như Trung Quốc.
Theo cách tính toán trên, do đầu tư không phù hợp, chúng ta đã làm tổn thất 2% GDP của đất
nước (khoảng 1 tỉ USD mỗi năm). Vì thế, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải dựa
trên quan điểm tiết kiệm ngân sách, đầu tư khôn ngoan, chứ không phải chỉ là giải pháp cho
những yếu kém trong kinh tế nhà nước. Trên thế giới, đã có những nước sử dụng rất hiệu quả
ngân sách nhà nước. Ví dụ, Đài Loan vào thập kỷ 1960-1970 chỉ có mức thu nhập bình quân đầu
người như Việt Nam hiện nay, nhưng họ đã đạt được tăng trưởng kinh tế ở mức 11% trong suốt
10 năm liền, tuy lượng đầu tư chỉ chiếm 25% ngân sách.
Thứ hai, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước phải hướng tới sự thu hút và tập trung các nguồn
vốn xã hội vào phát triển kinh tế, tạo ra hình ảnh nhân dân xây dựng và làm chủ nền kinh tế. Khi
điều này được thực hiện thì các khâu của quy trình cổ phần hóa sẽ thay đổi, từ việc định giá doanh
nghiệp, cơ cấu vốn điều lệ doanh nghiệp cổ phần, cơ cấu cổ đông, tổ chức bộ máy, đến những vấn
đề nhân sự khác… sẽ không như hiện nay, mà sẽ bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn
trước, có lợi cho người lao động, nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế.
Thứ ba, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải tính tới những yêu cầu đặt ra khi Việt Nam đã
trở thành thành viên chính thức của WTO để sau khi cổ phần hóa thì các doanh nghiệp có thể tồn
tại và phát triển. Tác động của việc gia nhập WTO tốt hay xấu đối với doanh nghiệp đã cổ phần
hóa hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm và định hướng quy trình cổ phần hóa. Ở đây xin nêu lên
hai vấn đề quan trọng:
Cần xác định rõ: ai là chủ sở hữu thực tế của công ty cổ phần và chủ sở hữu phải gắn liền với
trách nhiệm đối với công ty như thế nào?. Trong vấn đề này có một nội dung phải làm rõ: ai đại
diện chủ sở hữu số vốn nhà nước trong công ty cổ phần nhằm chấm dứt quan hệ sở hữu nhà nước
chung chung và không có trách nhiệm, kéo dài nhiều năm nay.
Cần vận dụng: “Quy chế quản trị công ty” nhằm tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, lành mạnh.
Trang 4
Yêu cầu này chỉ thực hiện được khi có sự lựa chọn những giám đốc phù hợp với quy chế quản trị
công ty, nhất là phải sớm đào tạo và bố trí các giám đốc tài chính của công ty (có vai trò và phạm
vi hoàn toàn khác với kế toán trưởng trong doanh nghiệp kiểu cũ).
PHẦN II: QUÁ TRÌNH VÀ CÁC BƯỚC ĐỂ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
NHÀ NƯỚC:
1. Quá trình cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước:
Quá trình cổ phần hóa Ngân hàng thương mại Nhà nước được xác định sẽ trải qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nâng vốn điều lệ.
Nâng cao năng lực tài chính dường như là bắt buộc đối với tất cả các Ngân hàng thương mại hiện
nay. Vào năm 2006, Vietcombank là Ngân hàng đầu tiên phát hành trái phiếu tăng vốn, với tổng
giá trị xấp xỉ 1.400 tỷ đồng để bổ sung vốn cấp 2, giúp tăng vốn tự có của Ngân hàng. Đầu năm
2007, BIDV là Ngân hàng tiếp theo phát hành 2.200 tỷ đồng trái phiếu tăng vốn và tháng 10/2007
vừa qua, Agribank cũng phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu đợt một để bổ sung vốn tự có của
Ngân hàng này.
Sở dĩ các Ngân hàng thương mại nhà nước phải thực hiện điều này bởi hệ số an toàn vốn CAR
(vốn tự có/tổng tài sản rủi ro) còn thấp, chưa đạt mức 8% theo thông lệ quốc tế. Hiện mới chỉ có
Vietcombank đạt được chỉ tiêu này, các Ngân hàng còn lại hầu hết ở mức 5-6%. “Yêu cầu của
Ngân hàng nhà nước là các Ngân hàng thương mại Nhà nước là phải lành mạnh hóa tài chính
trước khi cổ phần hóa”, Oâng Lê Xuân Nghĩa nói.
Tuy nhiên, việc phát hành cổ phiếu ưu đãi lại vướng quy định chỉ có Doanh nghiệp cổ phần mới
được phát hành cổ phiếu. Mà mục tiêu chính của việc cổ phần hóa của các Ngân hàng thương mại
Nhà nước là nhằm tăng vốn điều lệ chứ không phải huy động vốn. Vì vậy, để cổ phần hóa được,
theo Oâng Thúy – Nguyên Thống đốc Ngân hàng nhà nước đồng thời với quá trình xúc tiến đề án
phát hành cổ phiếu ưu đãi, Ngân hàng thương mại Nhà nước sẽ phải tìm được một đối tác chiến
lược tham gia quản trị điều hành theo đúng chuẩn mực quốc tế.
Giai đoạn 2: Tiến hành cổ phần hóa.
Để vấn đề cổ phần hóa thực sự có thể hoàn tất thì vấn đề lớn nhất là phải định giá Ngân hàng
thương mại nhà nước cần cổ phần hóa là bao nhiêu. Muốn vậy, phải thuê tổ chức tư vấn quốc tế
có kỹ năng kinh nghiệm.
Các phương pháp xác định giá trị Doanh nghiệp: phương pháp tài sản, phương pháp dòng tiền
chiết khấu và các phương pháp khác.
Phương pháp tài sản:
Giá trị thực tế của Ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa là giá trị toàn bộ tài sản hiện có
của Ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm cổ phần hóa có tính đến khả năng sinh lời của
Ngân hàng thương mại nhà nước mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được.
Giá trị thực tế vốn nhà nước tại Ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa là giá trị thực tế của
Ngân hàng thương mại nhà nước sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả, số dư Quỹ khen thưởng,
Quỹ phúc lợi và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có).
Khi cổ phần hóa toàn bộ tập đoàn, tổng Ngân hàng thương mại nhà nước thì giá trị vốn nhà nước
là giá trị thực tế vốn nhà nước được xác định tại tập đoàn, tổng Ngân hàng thương mại nhà nước.
Trường hợp cổ phần hóa Ngân hàng mẹ trong tổ hợp Ngân hàng mẹ – Ngân hàng con thì giá trị
vốn nhà nước được xác định tại tập đoàn, Ngân hàng mẹ.
Đối với các Tổ chức tài chính, Tín dụng khi xác định giá trị Doanh nghiệp theo phương pháp tài
sản được sử dụng kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để xác định tài sản vốn bằng tiền, các khoản
công nợ nhưng phải thực hiện kiểm kê, đánh giá đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn
và giá trị sử dụng đất theo chế độ Nhà nước quy định.
Phương pháp dòng tiền chiết khấu:
Giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại Ngân hàng thương mại nhà nước được xác định theo phương
pháp dòng tiền chiết khấu dựa trên khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại trong tương lai.
Trang 5
Trường hợp xác định giá trị Ngân hàng thương mại nhà nước của toàn Ngân hàng thương mại nhà
nước theo phương pháp này thì khả năng sinh lời của Tổng Ngân hàng nhà nước theo quy chế
quản lý tài chính của Ngân hàng nhà nước.
Trường hợp Ngân hàng thương mại nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp khác thì lợi nhuận đó
do việc đầu tư vốn vào Doanh nghiệp mang lại cũng là căn cứ để xác định giá trị Ngân hàng
thương mại nhà nước.
Giá trị thực tế của Ngân hàng thương mại nhà nước bao gồm giá trị thực tế phần vốn nhà nước, nợ
phải trả, số dư bằng tiền Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi và số dư kinh phí sự nghiệp (nếu có).
Trường hợp Ngân hàng thương mại nhà nước lựa chọn hình thức giao đất, thuê đất trả tiền một
lần thì phải tính bổ sung giá trị quyền sử dụng đất, tiền thuê đất vào giá trị Ngân hàng thương mại
nhà nước theo quy định tại Điều 30 Nghị định của Chính phủ số 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng
06 năm 2007 về chuyển Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành Công ty cổ phần.
2. Các bước để cổ phần hóa:
Để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, các Ngân hàng thương mại Nhà nước phải khẩn trương tiến
hành những bước bài bản, vững chắc có tính chất chiến lược:
Kiểm toán hoạt động theo chuẩn mực quốc tế.
Thực tế: Tháng 2/2007, Vietinbank đã ký hợp đồng với công ty kiểm toán hàng đầu thế giới Ernst
& Young để tiến hành kiểm toán hoạt động tài chính của Ngân hàng Công thương Việt Nam theo
tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời Công ty kiểm toán sẽ giúp Vietinbank đánh giá toàn diện danh mục
cho vay, đầu tư và hoạt động kiểm tra, kiểm soát của Vietinbank.
Thẩm định giá trị tài sản Ngân hàng.
Thực tế:
Định giá Vietcombank có 2 luồng ý kiến:
+ Một là (nghiêng về đánh giá số liệu tài chính):
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của STB và ACB đều tốt hơn VCB, từ đó mà P/E của 2
Ngân hàng này hấp dẫn hơn VCB (nếu giả sử cổ phiếu VCB là 150.000đ/CP).
Tốc độ tăng trưởng về tín dụng, dịch vụ, lợi nhuận hơn VCB.
STB. ACB năng động trong điều hành, linh hoạt ra sản phẩm mới hơn VCB.
Luồng ý kiến này, chủ yếu dựa trên sự phân tích kỹ thuật, trên những thông tin được đăng trên
bản cáo bạch.
Từ đó mà suy ra: Giá cổ phiếu VCB sẽ không thể cao hơn ACB được.
Nhưng những người theo quan điểm này, lại rất khó trả lời một câu hỏi “phổ thông” là: Nếu bạn
đang có cổ phiếu ACB và bạn được quyền trao đổi ngang giá với cổ phiếu VCB thì bạn Có đổi
hay không?
+ Hai là (xem xét các yếu tố tài chính kết hợp với việc đánh giá thêm nhiều yếu tố phi tài chính
khác ):
Chẳng hạn, trong giới Ngân hàng tại Việt Nam hiện nay, khi phân tích và đánh giá Doanh nghiệp,
người ta thường phân tích dựa trên 2 khía cạnh cơ bản:
1. Phân tích các yếu tố tài chính (có rất nhiều chỉ tiên phân tích nhưng chung quy lại cũng như đã
nói ở phần một).
2. Phân tích các yếu tố phi tài chính: phần chìm của Ngân hàng thương mại.
• Ví dụ: Đánh giá độ tin cậy và uy tín của Ngân hàng với khách hàng như thế nào? Điều này
các nhà đầu tư có nên quan tâm và nếu quan tâm thì có nên lượng hóa nó không?
• Hiện nay Vietcombank là trung tâm thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng của trên 100 Ngân
hàng trong và ngoài nước. Vietcombank là Ngân hàng thương mại quốc doanh được quản lý tốt
nhất và thị phần tiền gửi ở Việt Nam chiếm 20% và cho vay chiếm 15%. Dịch vụ thanh toán quốc
tế và thanh toán xuất nhập khẩu dẫn đầu với thị phần 30%. Tổng số lượng phát hành thẻ chiếm
40% số thẻ đang lưu hành, dẫn đầu về mảng thẻ tín dụng Chính vì vậy mà hiện nay
Vietcombank là đối tượng thu hút hầu hết các tổ chức đầu tư tài chính trong và ngoài nước.
Cuối cùng Credit Suisse - nhà tư vấn tài chính của Vietcombank đã chọn các phương pháp tổng
Trang 6
hợp để xác định giá trị của Vietcombank.
Phương pháp chiết khấu dòng thu nhập:
Đơn vị tính: triệu đồng, riêng P: đồng
Chỉ tiêu theo kế hoạch 2007 2008 2009 2010 Bình quân
Tổng tài sản 200,914,606 245,375,194 296,666,962 357,063,860
Vốn chủ sở hữu 15,000,000 19,040,301 23,696,028 27,424,221
Lợi nhuận sau thuế 1,853,954 2,598,498 3,347,878 4,290,362
ROE 0.12 0.14 0.14 0.16
Trích lập quỹ 296,633 415,760 535,660 686,458
DIV 0 1,039,399 1,339,151 1,716,145
Lợi nhuận giữ lại để tăng vốn 1,557,321 1,143,339 1,473,067 1,887,759
Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để tăng vốn 84,0% 44,0% 44,0% 44,0%
G =b*ROE 10,4% 6,0% 6,2% 6,9% 7,4%
R =Rf+(Rm-Rf) =
Rf +Rp =9,4% + 2% 11,4%
P09 = DIV2010/(R-G) 106,507,095
P07 =P09/(1+R)DIV09/(1+R)DIV08(1+R) 90,854,201
P=(P07/1500000000)*1000000 60,569
Trong đó:
G : tỷ lệ tăng trưởng cổ tức hàng năm
r : tỷ suất lợi nhuận mong đợi khi đầu tư vào Vietcombank
Rf : tỷ suất lợi nhuận khi đầu tư vào chứng khoán phi rủi ro = 9,4%
Rm: tỷ suất lợi nhuận bình quân của thị trường
Rp : phần bù rủi ro nhận được khi đầu tư vào cổ phiếu Vietcombank
: tỷ lệ rủi ro khi đầu tư vào Vietcombank so với tỷ lệ rủi ro của thị trường
P07, P09: giá trị vốn hóa thị trường của Vietcombank tại năm 2007, 2009
DIV08, DIV09, DIV2010: cổ tức nhận được ở năm 2008, 2009, 2010
P : giá cổ phiếu Vietcombank
Phương pháp 2: Giá trị sổ sách P/BV
ACB STB Bình quân VCB
Vốn điều lệ 2,630,056 4,448,814 15,000,000
Vốn chủ sở hữu 6,469,248 6,776,019 44,250,000
BV 24,597 15,231 29,500
P 170,000 70,000 169,731
P/BV 6,91 4,6 5,75
Tổng hợp:
Giá CP VCB = (60,569 + 169,731)/2 = 115,150VND
- Ngân hàng Công thương đã chính thức ký hợp đồng với Công ty thẩm định giá – Bộ tài chính để
tiến hành rà soát và thẩm định giá trị tài sản của Ngân hàng.
Nhưng thông thường trên thế giới phổ biến phương pháp định giá Ngân hàng so sánh ngang dựa
trên P/B. Lý do căn bản sử dụng phương pháp ngày là Khả năng sinh lời của Ngân hàng phụ
thuộc nhiều vào vốn chủ sở hữu.
Lựa chọn tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới tham gia đấu thầu tư vấn, nhằm xác định giá trị
Doanh nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hóa, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, bán cổ phiếu
phát hành lần đầu.
Thực tế:
- Vietcombank đã lựa chọn 2 nhà đầu tư chiến lược là tập đoàn tài chính Normura và General
Trang 7
Electric.
- Vietinbank đã hoàn thành việc lựa chọn 7 nhà tư vấn cổ phần hóa là các tập đoàn tài chính hàng
đầu thế giới: Lehman Brothers, Merrilllynch, JP Morgan, USB, Morgan Stanley, Macquarie,
Daiwa Security SMBC để đưa vào danh sách rút gọn và tổ chức đấu thầu nhằm lựa chọn nhà tư
vấn quốc tế tốt nhất để thực hiện các bước cổ phần hóa Ngân hàng Công thương: định giá doanh
nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hóa, lựa chọn đối tác chiến lược và IPO trong nước, quốc tế.
Đối với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, theo phương án đã được phê duyệt, tiêu chí đặt ra phải
là các tổ chức tài chính có quy mô và năng lực tài chính tầm cỡ quốc tế hoặc khu vực; có kinh
nghiệm đầu tư thành công tại khu vực; có chiến lược và văn hóa kinh doanh phù hợp; có chuyên
môn, có kinh nghiệm và chuyên nghiệp trong cùng lĩnh vực hoạt động và đảm bảo không có xung
đột về lợi ích với chiến lược phát triển của Vietcombank sau cổ phần hóa.
Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược là cần thiết trong tiến trình cổ phần hóa vì chỉ có những nhà
đầu tư này mới có thể giúp các Ngân hàng thương mại nhà nước khắc phục được hai trong ba
điểm yếu lớn nhất là trình độ công nghệ và trình độ quản lý. Nếu không có họ, chắc chắn mục tiêu
cuối cùng của tiến trình cổ phần hóa các Ngân hàng sẽ khó mà đạt được.
Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là mục tiêu của các nhà đầu tư chiến lược là gì?
Thực hiện ngay các giải pháp lành mạnh hóa tài chính, nâng cao năng lực quản lý, phân loại tín
dụng và trích lập dự phòng rủi ro theo thông lệ quốc tế.
Tiến hành cơ cấu lại nợ, phát hành trái phiếu tăng vốn của Vietcombank, BIDV đã chủ động thực
hiện các biện pháp nhằm cơ cấu lại, tiến hành các nghiệp vụ kỹ thuật nhằm thực hiện các bước
minh bạch hóa, phát hành 2 lần trái phiếu tăng vốn.
Tóm lại, cổ phần hóa Ngân hàng thương mại nhà nước chỉ thực sự thành công khi giải quyết được
3 vấn đề:
Thứ nhất: cổ phần hóa Ngân hàng thương mại nhà nước phải thực sự tạo ra sự đổi mới trong quản
trị điều hành Ngân hàng để nâng cao hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng. Cổ
phần hóa Ngân hàng thương mại nhà nướcchỉ thực sự thành công khi việc cổ phần hóa gắn liền
với sự tích cực tham gia quản trị, giám sát của các cổ đông.
Thứ hai: việc định giá Ngân hàng thương mại khi thực hiện cổ phần hóa phải phản ánh đúng giá
trị hiện tại và tương lai của Ngân hàng.
Thứ ba: cổ phần hóa Ngân hàng thương mại phải không làm bất ổn nền kinh tế và tạo lòng tin cho
các nhà đầu tư.
PHẦN III: TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
SAU KHI CỔ PHẦN HÓA VIETCOMBANK:
1. Tác động tích cực:
Nó làm tiền đề cho sự thành công của việc cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước. Qua
việc cổ phần hóa Vietcombank, Chính phủ có thể rút ra những bài học kinh nghiệm để làm tốt hơn
khi cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh còn lại nói riêng cũng như những doanh
nghiệp nhà nước lớn còn lại.
Cổ phần hóa thành công Vietcombank sẽ tạo cho thị trường chứng khoán một khối lượng hàng
hóa đáng kể, là hàng hóa có chất lượng cao, có thể thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài có
tầm cỡ nhưng chưa quan tâm đến thị trường chứng khoán Việt Nam. Trước đây, thị trường chứng
khoán Việt Nam với quy mô nhỏ và ít hàng hóa có chất lượng nên không thu hút được các nhà
đầun tư lớn từ nước ngoài.
Tăng lượng cung hàng hóa cho thị trường cũng góp phần làm giảm nhiệt cho thị trường chứng
khoán. Đồng thời, giúp cho thị trường tăng trưởng ổn định và bền vững.
Nhà đầu tư có thêm hàng hóa để lựa chọn trong danh mục đầu tư của mình.
Sau khi cổ phần hóa Vietcombank, hầu hết các loại cổ phiếu đã trở về với giá trị thực của nó, tạo
điều kiện cho nhà đầu tư có nhiều cơ hội để tiếp cận được với thị trường chứng khoản.
Đấu giá cổ phần của Vietcombank là đợt đấu giá lớn và quy mô nhất từ trước đến nay. Sở giao
Trang 8
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã chấp thuận cho 62 công ty chứng khoán làm đại lý
nhận lệnh cho Vietcombank, nhiều gấp 4 – 5 lần so với thường lệ.
IPO Vietcombank sẽ tác động lớn đến thị trường. Cán cân cung/cầu 97.5000.000/122.217.200 cổ
phiếu là một tỷ lệ quá lý tưởng và cuộc đấu giá đã thành công. Một ngân hàng thương mại thuộc
hàng lớn nhất Việt Nam phát hành và niêm yết cổ phiếu sẽ có tác động rất lớn đến thị trường.
Trên lĩnh vực chưa niêm yết, Vietcombank sẽ tác động đến giá cổ phiếu OTC và thị trường OTC.
Đặc biệt, giá Vietcombank IPO thành công sẽ là mức giá chuẩn để xác định lại giá trị cổ phiếu
OTC của các ngân hàng, ổn định lại cổ phiếu ngân hàng và thị trường OTC. Với giá đấu giá cao
nhất là 191.000 đồng là một kết quả rất khả quan.
Tạo ra một mặt bằng giá mới cho ngành tài chính – ngân hàng: Lâu nay, thị trường đi tìm kiếm
một chuẩn mực để qua đó xác định giá trị cổ phiếu, nhưng chưa tìm ra, chưa có. Có thể nói, hôm
nay Vietcombank sẽ đảm nhận sứ mệnh này, sẽ làm lại, tạo ra chuẩn mực cho thị trường, mà giai
đoạn này là thị trường OTC, đặc biệt là cổ phiếu ngành ngân hàng. Hơn nữa, khi Vietcombank
niêm yết sẽ có tác động lớn đến chỉ số VN-Index, với vai trò dẫn dắt thị trường. Có lẽ đây là sự
kiện được trông chờ nhất vào năm 2008 trên thị trường tài chính Việt Nam.
Cổ phiếu Ngân hàng lên hương: Ngay sau khi có tin giá khởi điểm của Vietcombank trong khoảng
90.000 – 120.000 đồng, giá một số cổ phiếu ngân hàng cả trên thị trường chính thức lẫn OTC đã
nhích lên trong các phiên giao dịch sau đó. Nhà đầu tư đổ xô mua cổ phiếu STB của Ngân hàng
Sài Gòn Thương tín và cổ phiếu ACB của Ngân hàng Á Châu. Hiệu ứng ngay lập tức lan sang chợ
OTC. Các công ty chứng khoán cho biết lượng giao dịch cổ phiếu ngân hàng đã có dấu hiệu cải
thiện rõ nét. Tuy nhiên, IPO của Vietcombank có thể chỉ tác động ngắn hạn tới giá cổ phiếu ngân
hàng. Sau IPO này, đặc biệt là tới thời điểm phải nộp tiền mua VCB, giá sẽ lại giảm xuống.
Thị trường hưng phấn trở lại vì Vietcombank, nhà đầu tư hứng khởi hơn: những thông tin không
chính thức về kết quả đăng ký đấu giá Vietcombank đã tạo ra những tác động đến thị
trường.Thông tin về việc đấu giá Vietcombank chắc chắn sẽ ở mức thấp tạo một tâm lý khá hưng
phấn đối với nhiều nhà đấu tư.
2. Tác động tiêu cực:
Do việc cổ phần hóa Vietcombank tiến hành trong một thời gian khá dài, trên thị trường xuất hiện
nhiều luồng thông tin không chính thức về giá cổ phiếu Vietcombank, làm nhà đầu tư hoang
mang. Vì thế hầu hết nhà đầu tư đều ở trong trạng thái phòng thủ để bảo toàn vốn dẫn đến thị
trường chứng khoán bị điều chỉnh giảm khá sâu vào 03 tháng cuối năm 2007. Điều đó ảnh hưởng
nghiêm trọng đến việc tiến hành cổ phần hóa cũng như là niêm yết của doanh nghiệp.
Giá đấu giá bình quân của Vietcombank là 107.860 đồng là quá thấp so với mong đợi của nhà đầu
tư, làm cho nhà đầu tư giảm đi sự phấn khích và kỳ vọng về sư lên giá của chứng khoán mà mình
đang nắm giữ, Do đó, họ quyết định bán bớt chứng khoán trong danh mục đầu tư của mình nhằm
tránh rủi ro. Điều đó làm cho lượng cầu chứng khoán trong ngắn hạn trong ngắn hạn giảm còn
lượng cung thì tăng vọt, dẫn đến thị trường điều chỉnh sâu thêm.
Với số lượng trên 95 triệu cổ phiếu Vietcombank tương ứng với khoản 10.000 tỷ đồng là một con
số không nhỏ, nó tạo thêm sự chênh lệch trong cán cân cung cầu vốn.
Thị trường điều chỉnh sâu, điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước, cũng như là việc niêm yết của các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa.
IPO chậm ảnh hưởng đến trái chủ của Vietcombank: Các trái chủ của Vietcombank trong danh
sách chốt ngày 25/12/2007 sẽ được mua ưu đãi cổ phiếu. Từ thời điểm này đến khi Vietcombank
công bố kết thúc thời hạn chuyển đổi, trái chủ không được chuyển nhượng trái phiếu cũng như
quyền ưu đãi mua cổ phiếu. Giá chuyển đổi sẽ là mức đấu thành công bình quân của cuộc đấu giá.
Trái chủ có thể bị ảnh hưởng nhỏ do ngày chốt danh sách trái chủ là ngày 25/12/2007, song
Vietcombank cần một tháng để xác định giá bình quân thực tế và đến ngày 25/01/2008 trái phiếu
mới được chuyển đổi. Lãnh đạo Ngân hàng Ngoại thương khẳng định, việc này do IPO chậm so
với kế hoạch, chứ ngân hàng không chủ ý sắp xếp làm ảnh hưởng đến trái chủ. Nếu các trái chủ
Vietcombank chuyển đổi nhận cổ phiếu chậm, thời gian hưởng cổ tức có thể bị ảnh hưởng và cổ
Trang 9
đông sẽ tiếp tục hưởng lãi suất trái phiếu thay vì cổ tức. Hơn nữa, trong trường hợp cổ phiếu
Vietcombank hút hàng sau IPO, những trái chủ nhận cổ phiếu chậm có thể mất đi cơ hội giao
dịch.
Vỡ mộng IPO Vietcombank đối với tổ chức công đoàn: theo quy định của Chính phủ (tại nghị
định 109/2007/NĐ-CP về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần)
có quy định về việc công đoàn được mua 3% vốn điều lệ, đây là mong mỏi của người lao động,
các công đoàn doanh nghiệp. Nếu mua được số cổ phần này, không chỉ công đàon có thêm nguồn
thu để nâng cao đồi sống người lao động, mà cùng với khối lượng cổ phần người lao động được
nắm giữ, công đàn có cơ hội tham gia hội đồng quản trị, đưa ra những quyết sách có ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền lợi người lao động. Thế nhưng, khi đi vào thực tế thì công đoàn chợt nhận ra
họ chẳng có nhiều tiền như thế để mua cổ phiếu. Tổ chức công đoàn được sử dụng nguồn quỹ hợp
pháp của mình (không huy động, vay vốn) để mua cổ phần, nhưng không quá 3% vốn điều lệ. Số
cổ phần này tổ chức công đoàn không được chuyển nhượng, giá mua bằng 60% mức giá trúng
thầu bình quân. Lấy mức giá trúng thầu trung bình của Vietcombank là 100.000 đồng/cổ phiếu, thì
số tiền mà tổ chức công đàon này chuẩn bị để mua là 3% x 15.000 tỷ đồng x 100.000 đồng x 60%
= 2.700 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhìn lại quỹ công đoàn thì số thu không đủ chi hoạt động thường
xuyên của tổ chức công đoàn. Một số chi phí, tổ chức công đoàn phải xin hỗ trợ từ chuyên môn.
Bởi vậy, mặc dù rất mong ngoáng, lấy ý kiến từ người lao động đế ngày Vietcombank IPO, song
trong đợt phát hành này, công đoàn cũng đành … ngồi xem. Đây cũng là xu thế tất yếu đối với
các tổ chức công đàn của Ngân hàng Công Thương, Ngân hàng Đầu tư …
3. Một số đề xuất hạn chế tác động tiêu cực:
Doanh nghiệp cần có những công bố chính thức để đính chính những thông tin sai lệch làm nhiễn
loạn thông tin, gây hoang mang cho nhà đầu tư.
Doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa thì phải công bố thông tin rộng rãi về kế hoạch cổ
phần hóa.
Ủy ban chứng khoán nhà nước cần có kế hoạch sắp xếp việc lên sàn của các doanh nghiệp, tránh
việc ồ ạt lên sàn theo phong trào những tháng cuối năm, dẫn đến việc bội thực của thị trường.
Điều tiết IPO theo hướng có lợi cho ngân hàng: sau Vietcombank, ba ngân hàng quốc doanh khác
cũng đang lên lịch chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO). Thị trường suy thoái một phần
nguyên nhân là sự tăng hàng một cách ồ ạt (các doanh nghiệp đua nhau phát hành cổ phiếu tăng
vốn, thêm nhiều doanh nghiệp lên sàn, các tổng công ty nhà nước cũng lên lịch IPO). Các ngân
hàng chuẩn bị IPO: Ngân hàng Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển và Ngân
hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long chọn thời điểm IPO thích hợp. Đó là lúc thị
trường thuận lợi, nhằm đem lại lợi ích cao hơn cho Chính phủ và bản thân ngân hàng.
KẾT LUẬN
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Qua quá
trình cổ phần hóa, người lao động mới được làm chủ doanh nghiệp, gắn kết quyền sở hữu tài sản
và quyền sử dụng tài sản. Có như vậy, hiệu quả sử dụng vốn, tài sản nhà nước mới được nâng cao.
Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là vấn đề tương đối phức tạp và mất nhiều thời
gian. Bởi lẽ, đây là doanh nghiệp nhà nước được xếp hạng đặc biệt, là doanh nghiệp có quy mô
vốn rất lớn, hoạt động của các ngân hành thương mại nhà nước tác động rất lớn đến sự phát triển
chung của nền kinh tế. Do đó, trước khi tiến hành cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước
cần phải xác định chính xác vốn của Nhà nước, xác định giá trị thương hiệu của ngân hàng và
cuối cùng là xác định giá khởi điểm để tiến hành IPO cổ phiếu trên thị trường. Đồng thời, việc
xác định thời điểm tiến hành IPO cũng rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại quốc
doanh.
Trong thời gian qua, chúng ta đã thực hiện thành công IPO Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Sau IPO Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chịu những tác
động nhất định, bao gồm các tác động tích cực và tác động tiêu cực như đã trình bày ở trên. Vấn
Trang 10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét