Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.5. Nguồn nhân lực.
45
2.6. Môi trờng pháp lí của Nhà nớc hiện nay.
47
2.7. Tình hình và xu thế phát triển vận tải biển của các nớc trong khu vực và
trên thế giới.
48
2.7.1. Về độ tàu.
48
2.7.2. Về cảng biển.
51
2.7.3. Về dịch vụ hàng hải.
53
Chơng III. Một số phơng hớng, giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của vận tải biển Việt
Nam giai đoạn 2005-2010.
57
I. Cơ sở thực tiễn xác định phơng hớng và đề xuất giải pháp.
57
I.1. Căn cứ vào định hớng phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2005-2010.
57
I.2. Căn cứ vào dự báo nhu cầu vận tải biển đến năm 2010-2020.
58
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
I.3. Căn cứ vào quy hoạch của vận tải biển Việt Nam.
62
I.4. Căn cứ vào định hớng phát triển vận tải biển.
62
II. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
vận tải biển Việt Nam giai đoạn 2005-2010.
67
II.1. Phát triển cơ sở hạ tầng.
67
II.2. Phát triển đội tàu và ngành công nghiệp đóng tàu.
68
II.3. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo tiêu chuẩn quốc tế.
69
II.4. Xây dựng lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế về dịch vụ hàng hải.
71
II.5. Hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật.
71
Kết luận.
72
Danh mục tài liệu tham khảo.
73
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời Mở Đầu
Đất nớc ta đang bớc vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế sự hội nhập kinh tế thế giới và khu
vực đã và đang đặt ra nhiều cơ hội nhng cũng không ít thách thức cho các doanh
nghiệp nhất là khi các doanh nghiệp của nớc ta vẫn còn rất yếu về năng lực cạnh
tranh nếu không muốn nói là không có khả năng cạnh tranh ngay tại sân nhà.
Ngành vận tải biển của nớc ta cũng đang ở trong tình trạng nh vậy mặc dù
ngành này đã và đang có những bớc phát triển nhanh chóng, đóng góp đáng kể
vào ngân sách Nhà nớc nhng trong thời gian tới cũng gặp không ít khó khăn vì
cạnh tranh ngày càng gay gắt của các doanh nghiệp nớc ngoài khi họ tham gia
định tuyến ở nớc ta. Khi tham gia vào quá trình tự do hoá thơng mại trong lĩnh
vực vận tải biển nghĩa là chúng ta sẽ buộc phải có những điều chỉnh về chính
sách đối với việc dành hàng vận chuyển cũng nh sự lựa chọn của khách hàng đối
với các doanh nghiệp có uy tín và có chi phí về giá thành hạ. Do đó việc nâng
cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động dịch vụ vận tải là yêu cầu cấp bách hiện
nay của ngành để chủ động hội nhập, vừa đứng vững trên thị trờng trong nớc vừa
nhanh chóng vơn ra thị trờng khu vực và thế giới.
Để thực hiện đợc mục tiêu đó trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới
thì vấn đề nghiên cứu giải pháp phù hợp và có hiệu quả nhằm nâng cao chất l-
ợng dịch vụ trong vận tải biển là hết sức cần thiết. Nên em đã quyết định trọn đề
tài Phơng hớng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành vận
tải biển Việt Nam trong thời gian tới làm báo cáo thực tập chuyên đề.
Trong nghiên cứu của mình em chia ra làm 3 phần nh sau:
Ch ơng I . Cơ sở lí luận về cạnh tranh của ngành vận tải biển.
Ch ơng II . Phân tích, đánh giá thực trạng về năng lực cạnh tranh trong
ngành vận tải biển Việt Nam.
Ch ơng III . Một số phơng hớng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của vận tải biển Việt Nam giai đoạn 2005-2010.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo thạc sĩ Bùi Đức Tuân là giáo viên hớng
dẫn, cô Bình nghiên cứu viên chính, các cán bộ trong vụ kết cấu hạ tầng, anh
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Việt Hồng cán bộ Vụ kết cấu hạ tầng và đô thị đã giúp đỡ em tận tình
để em có thể hoàn thành đợc bản báo cáo nghiên cứu của mình.
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chơng I. Cơ sở lý luận về cạnh tranh của ngành vận tải
biển việt nam.
I. Các Lý Luận Về Cạnh Tranh Và Năng Lực Cạnh Tranh.
1. Các lý luận về cạnh tranh.
1.1. Lí luận cạnh tranh cổ điển.
Chủ nghĩa tự do kinh tế cổ điển ra đời ở Anh vào thế kỷ XVIII mà nhân
vật đại biểu kiệt xuất của nó là Adam Smith và David Ricardo họ đều là ngời
Anh. Những cống hiến về học thuật của họ có ảnh hởng to lớn trong lịch sử phát
triển của lý luận kinh tế nói chung.
Trong tác phẩm Nghiên cứu tính chất và nguồn gốc của cải của quốc
dân hay còn gọi là Quốc phú luận "trích dẫn sách bàn về năng lực cạnh tranh
toàn cầu" xuất bản năm 1776 với t tởng tự do kinh tế trong đó có chủ trơng tự do
cạnh tranh. Ông cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp
nhàng, có lợi cho xã hội. Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng
lên chủ yếu diễn ra thông qua thì trờng và giá cả, do đó cạnh tranh có quan hệ
chặt chẽ với cơ chế thị trờng. Theo Smith, nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân
chèn ép nhau, thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của
mình một cách chính xác, cạnh tranh và thi đua thờng tạo ra sự cố gắng lớn
nhất. Ngợc lại, chỉ có mục đích lớn lao nhng lại không có động cơ thúc đẩy thực
hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra đợc bất kì sự cố lớn nào. Từ đó
cho thấy, cạnh tranh có thể khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con ngời, từ đó thúc
đẩy của cải tăng lên. Theo Ông cạnh tranh có thể điều tiết quan hệ cung cầu ở
mức độ cân bằng của xã hội vì trong cạnh tranh tức là có nhiều ngời cùng tham
gia nên chẳng những họ phải thờng xuyên theo dõi, chú ý sự biến động ngẫu
nhiên của tình hình cầu, mà còn phải thờng xuyên theo dõi, chú ý tình hình cạnh
tranh hoặc sự biến động còn lớn hơn nhiều, thờng xuyên hơn nhiều của tình hình
cung tuỳ theo sự biến động của tình hình cầu, rồi dùng mánh lới khôn khéo và
năng lực phán đoán chính xác làm cho số lợng các loại hàng hoá có thể thích
ứng với tình hình thay đổi của cung cầu và của cạnh tranh. Cạnh tranh còn
kích thích nhiệt tình lao động, kích thích ngời lao động nắm vững thành thạo
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kĩ xảo, nâng cao năng lực Càng tự do cạnh tranh một cách phổ biến thì công
việc ấy càng có lợi cho xã hội. Smith chỉ ra rằng, cạnh tranh phát huy tác dụng
trong hoạt động kinh tế, chính thị trờng là môi trờng của nó. Ông coi tự do cạnh
tranh là điều kiện để phát huy tính chủ động và tính tích cực của mỗi thành viên
xã hội.
Trong lý luận cạnh tranh của mình ông còn nhấn mạnh đến lợi thế so
sánh : Nớc nào sản xuất cái gì giỏi nhất, nớc nào nên phát triển công nghiệp, n-
ớc nào nên phát triển nông nghiệp, điều không chỉ do điều kiện lịch sử mà còn
do điều kiện tự nhiên của mỗi nớc, nh môi trờng địa lý, thổ nhỡng, khí hậu
quyết định do đó khi xem xét năng lực cạnh tranh của một quốc gia, một ngành
thì yếu tố về lợi thế so sánh cũng hết sức quan trọng.
1.2. Lí luận cạnh tranh hiện đại.
Lí luận cạnh tranh hoàn hảo.
Kinh tế học cổ điển mới là lý luận kinh tế có ảnh hởmg rộng rãi và giữ
địa vị quan trọng trong kinh tế học phơng tây cuối thế kỷ XIX, còn đợc gọi là lý
luận của trờng phái cổ điển mới mà đại diện tiêu biểu là A.Marshall (1842-
1924) và L.Walras (1834- 1910). Họ cũng ra sức đề cao nguyên tắc tự do cạnh
tranh, ở nửa cuối thế kỷ XIX họ đã xây lý luận cạnh tranh của họ trên cơ sở
tổng kết sự phát triển lý luận nhằm vạch ra nguyên lý cơ bản về sự vận động
của chế độ t bản chủ nghĩa để chỉ đạo cạnh tranh, kết quả là họ đã cho ra đời t t-
ởng về thể chế kinh tế cạnh tranh hoàn hảo lấy thị trờng tự do hoặc chế độ trao
đổi làm cốt lõi, lý luận này chú ý đầy đủ tới vấn đề hiệu quả phân phối hoặc sử
dụng một cách tối u tài nguyên kinh tế.
Trong mọi thể chế kinh tế, dẫu tính chất xã hội là nh thế nào chăng nữa,
một trong những vấn đề quan trọng là phân phối một cách có hiệu quả tài
nguyên hiện có để các doanh nghiệp muốn có hiệu quả và lợi nhuận tối đa thì
phải phải bố chí sản xuất theo nguyên tắc giá thành cận biên gắn với lợi ích cận
biên.
Nó còn là mô hình hớng về ngời tiêu dùng. Vì nó thúc đẩy cá doanh
nghiệp điều chỉnh quy mô sản xuất tới điểm thấp nhất của chi phí bình quân, tới
giới hạn sản xuất tối u. Điều đó không những làm cho giá cả giảm xuống, mà
còn sử dụng tài nguyên một cách có hiệu quả nhất. Tuy mô hình kinh tế cạnh
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tranh hoàn hảo rất có ích về mặt phân tích kinh tế nhng về mặt phơng pháp phân
tích nó vẫn còn một số hạn chế nhất định nh không thể giải thích đợc chủ nghĩa
t bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, hoặc
không làm rõ đợc vấn đề nảy sinh và mở rộng sức chi phối thị trờng
Lí luận cạnh tranh của tr ờng phái á o.
Ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XIX với đặc trng là dựa vào phơng
pháp phân tích tâm lý chủ quan để giải thích hiện tợng và quá trình kinh tế- xã
hội nên còn gọi là trờng phái lợi ích cận biên hay trờng phái tâm lý mà đại
diện tiêu biểu là J.Schumpeter (1883- 1950) "trích dẫn sách bàn về năng lực
cạnh tranh toản cầu". Lí luận này đợc xem xét trong trạng thái cạnh tranh động
lấy sáng tạo là yếu tố quyết định, sự nhạy cảm đối với cơ may trên thị trờng là
việc cực kỳ quan trọng vì thế mà trờng phái áo hết sức nhấn mạnh vai trò của
nhà doanh nghiệp Schumpeter chủ trơng dành cho nhà doanh nghiệp một chân
trời rộng mở để họ phát huy vai trò của họ, không nên lãng phí sức sống sáng
tạo (của họ) vào việc vật lộn với luật lệ và sự quản lý ngu xuẩn. Điều đó có
nghĩa là phải để cho các nhà các nhà doanh nghiệp có cơ hội thi thố tài năng
trong một môi trờng cạnh tranh. Động lực đằng sau hoạt động sáng tạo của nhà
doanh nghiệp là động cơ lợi nhuận có tác dụng quyết định đối với sự nhạy cảm
và sáng tạo trong hoạt động thơng mại. Trong lý luận của trờng phái này còn
nhấn mạnh đến vai trò của tri thức, tri thức là nhân tố then chốt, họ còn có
lòng tin sâu sắc vào nền kinh tế thị trờng tự do, họ cho rằng, hầu nh không một
nhà doanh nghiệp nào đang thống lĩnh một thị trờng nào đó có thể duy trì mãi đ-
ợc vị trí ấy không ngừng huỷ bỏ kết cấu cũ, không ngừng sáng tạo kết cấu
mới, đó là quá trình huỷ diệt có tính chất sáng tạo. Việc đầu t vào một loại sản
phẩm, một thị trờng, hay một đoạn thị trờng nhất định thì doanh nghiệp phải
có tầm nhìn chiến lợc, phải tích luỹ đợc tiềm năng thực sự, phải lấy khách hàng
làm trung tâm Trong sản xuất kinh doanh phải thờng xuyên đẩy mạnh việc cải
tiến sản phẩm để làm thế nào vừa giảm chi phí sản xuất tức là có thể hạ đợc giá
thành sản phẩm hoặc tăng lợi nhuận cho công ty vừa nâng cao năng lực cạnh
tranh đối với các đối thủ trong ngành.
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khi đề cập đến các phơng pháp cạnh tranh thì theo Schumpeter, có nhiều
phơng pháp cạnh tranh, ngoài cạnh tranh giá cả, cạnh tranh chất lợng và
cạnh tranh tiêu thụ nh thờng nói, còn có cạnh tranh sản phẩm mới, cạnh tranh
kỹ thuật mới, cạnh tranh nguồn cung mới, cạnh tranh loại hình tổ chức mới.
Sản phẩm mới cũng phải cạnh tranh với sản phẩm cũ, các loại hình cạnh
tranh này không đánh vào lợi nhuận và sản lợng của doanh nghiệp hiện có mà
đánh vào nền tảng của những doanh nghiệp ấy, nó có nguy hại tới sự sống còn
của họ.
Lí luận lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter.
Michael Porter là một trong những nhân vật có uy tín về sách lợc cạnh
tranh và sức cạnh tranh quốc tế trên thế giới ngày nay. Riêng về mảng lý luận
cạnh tranh ông đã có những tác phẩm nổi tiếng mà đã đợc coi nh kinh thánh
sống mà một nhà kinh doanh không thể không đọc nh sách lợc cạnh tranh
(1980), lợi thế cạnh tranh (1985), lợi thế cạnh tranh quốc gia (1990) và dẫn
chứng về sách lợc cạnh tranh (1992). Lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của Porter
tập chung vào hai mặt là quản lý chiến lợc doanh nghiệp và tổ chức ngành. Do
vậy trong tác phẩm sách lợc cạnh tranh ông chỉ ra ba chiến lợc về dẫn đầu vê
giá thành, chiến lợc về sự khác biệt, chiến lợc tập chung mục tiêu. Trong tác
phẩm lợi thế cạnh tranh ông đề ra lý luận về chuỗi giá trị (giá trị liên), cho
rằng nguồn gốc then chốt của lợi thế cạnh tranh là sự khác nhau về chuỗi gía trị.
Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter đã vận dụng lý luận về lợi
thế cạnh tranh trong nớc của ông vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đề ra Lí
luận hình viên kim cơng(1), ông cho rằng của cải nhiều hay ít là do năng suất
quyết định. Năng suất sản xuất phụ thuộc vào môi trờng cạnh tranh của mỗi nớc,
môi trờng cạnh tranh sinh ra trong một khuôn khổ nào đó khuôn khổ ấy về kết
cấu mà nói giống nh một viên kim cơng có bốn cạnh. Theo lý luận này, thông
tin, nhân tố kích thích, sức ép cạnh tranh và doanh nghiệp chủ chốt, thể chế,
công trình hạ tầng, năng lực quan sát, kỹ năng của con ngời đều có tác dụng trụ
cột trong việc nâng cao năng suất sản xuất của một quốc gia và một lĩnh vực nào
đó. Việc nâng cao năng suất một cách bền vững đòi hỏi bản thân nền kinh tế của
mỗi nớc phải đợc nâng cấp không ngừng. Cũng có nghĩa là, các doanh nghiệp
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của mỗi nớc phải kiên trì nâng cao năng suất sản xuất ngành bằng cách nâng cao
chất lợng của sản phẩm, làm nổi bật nét đặc sắc của sản phẩm, cải tiến kĩ thuật
sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Porter cũng đã tổng hợp phơng pháp nghiên cứu trong quá khứ, xây dựng
mô hình lý luận gồm bốn nhân tố giữ vai trò mấu chốt đối với sự thành công
trong cạnh tranh của một ngành nhất định, một nớc nhất định. Theo mô hình
này, việc kết hợp yếu tố sản xuất, nhu cầu trong nớc, cạnh tranh trong nớc với
doanh nghiệp chủ chốt là nhân tố then chốt quyết định sự thành công của một n-
ớc trong thơng mại quốc tế, ông cũng chú ý tới ảnh hởng của sáng tạo tri thức,
sáng tạo kỹ thuật và kinh tế quy mô đối với thơng mại, chất lợng của yếu tố sản
xuất và thang bậc của thị trờng nhu cầu hàng hoá, ông phân tích sự khác biệt
giữa lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh ông cho rằng một nớc có ngành lợi thế
so sánh thì thờng dễ hình thành lợi thế cạnh tranh mạnh tức là lợi thế so sánh có
thể trở thành nhân tố nội tại của lợi thế cạnh tranh nó thúc đẩy năng lực cạnh
tranh quốc tế ngày càng tăng lên do đó nếu một ngành nào đó khong có lợi thế
so sánh thì thờng khó hình thành và bảo vệ lợi thế cạnh tranh quốc tế. Lợi thế
cạnh tranh thờng diễn ra giữa các ngành giống nhau của các nớc hoặc trong
cùng một quốc gia về năng suất, nó cùng với lợi thế so sánh quyết định vị thế
quốc tế và xu thế thay đổi của các ngành tại các nớc nên để đạt đợc sự phồn
thịnh về kinh tế thì phải tạo ra môi trờng doanh nghiệp và thể chế đồng bộ để có
thể sử dụng một cách có hiệu quả các yếu tố sản xuất.
Ông đề cập đến rất nhiều vấn đề nh mô hình năm lực lợng cạnh tranh trong
ngành bao gồm cạnh tranh giữa các lực lợng cạnh tranh trong ngành, sức ép từ
phía nhà cung cấp, sức ép từ phía khách hàng, sự gia nhập của các đối thủ tiềm
ẩn, cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, việc phân tích mô hình này có ý nghĩa
rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, có đa ra những cơ hội,
thách thức, điểm mạnh, điểm yếu thông qua ma trận SWOT đồng thời đề ra giải
pháp về chiến lợc cho doanh nghiệp. Ông cũng cho rằng, sức mạnh của doanh
nghiệp trong mỗi nớc đợc quyết định bởi mức độ d thừa các yếu tố sản xuất tiên
tiến trong nớc, tính chất nhu cầu trong nớc, sự hiện diện của các ngành có liên
quan ở bản địa và mức độ cạnh tranh của các ngành ấy.
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong tình hình phát triển kinh tế và xu thế quốc tế hoá thì cạnh tranh ở bất
kỳ ngành nào, ở bất kỳ nớc nào cũng có hình thức và đặc điểm riêng, có các giai
đoạn phát triển với những đặc trng khác nhau. Có bốn giai đoạn nh sau: Giai
đoạn chạy đua các yếu tố sản xuất, giai đoạn chạy đua đầu t, giai đoạn chạy
đua sáng tạo và giai đoạn chạy đua của cải. Trong bốn giai đoạn này, giai đoạn
đầu là thời kì tăng trởng sức cạnh tranh quốc tế của ngành, giai đoạn bốn là thời
kì sức cạnh tranh quốc tế giảm.
2. Năng lực cạnh tranh và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh.
2.1. Cách tiếp cận về năng lực cạnh tranh.
Một doanh nghiệp kinh doanh, một ngành hay một quốc gia đợc gọi là
có năng lực cạnh tranh khi nó có thể đứng vững cùng các nhà doanh nghiệp
khác hay các quốc gia khác trong những điều kiện tơng đồng khách quan nh
môi trờng chính trị, pháp luật, hay thể chế kinh tế. Thông thờng khi xem xét
năng lực cạnh tranh thì ngời ta thờng xét ở góc độ giá của sản phẩm cũng nh
tiềm năng sản xuất của hàng hoá hay một dịch vụ ở một mức cao ngang bằng
hoặc thấp hơn mức của thị trờng. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp
của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về cạnh tranh
nh sau: cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và
vùng lãnh thổ trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện
cạnh tranh quốc tế. Theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của tổng thống Mỹ
cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dới điều kiện thị trờng tự
do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng đợc các đòi
hỏi của thị trờng quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực tế
của nhân dân nớc đó. Trong một báo cáo về cạnh tranh toàn cầu thì cạnh
tranh đối với một quốc gia đợc định nghĩa là khả năng của nớc đó đạt đợc
những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đợc tỉ lệ tăng
trởng kinh tế cao, đợc xác định bằng thay đổi tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
trên đầu ngời theo thời gian . (1)
Khi nghiên cứu cạnh tranh, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một số thuật
nh sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Trong thực tế cá
Nguyễn MinhTuyến Lớp Kinh tế phát triển 43B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét