Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ nhất:
Về mặt kết cấu nền kinh tế thị trờng gồm các bộ phận
cơ bản sau đây:
- Bộ phận thứ nhất bao gồm các doanh nghiệp, công ty, những
đơn vị kinh tế độc lập có t cách pháp nhân, có quyền tự chủ trong sản
xuất kinh doanh, bình đẳng với nhau về mặt pháp lý, nhng lệ thuộc với
nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội, tức là có sự tồn tại
của các tổ chức, các đơn vị kinh tế với t cách là các chủ thể của nền
kinh tế hàng hoá, các quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trờng không chỉ có hình thức kinh tế t
nhân thuần tuý , mà đồng thời còn có nhiều hình thức kinh tế khác:
kinh tế tập thể, kinh tế nhà nớc
Nhng dù thuộc thành phần kinh tế
nào thì các đơn vị, các tổ chức kinh tế cũng đều độc lập với nhau, có
quyền tự chủ trong SXKD và giữa các đơn vị , các tổ chức kinh tế này
có mối liên hệ trao đổi với nhau để thoả mãn nhu cầu của mình. Đây là
điều kiện để có nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trờng.
- Bộ phận thứ hai cấu thành nền kinh tế thị trờng chính là hệ
thống thị trờng, các quan hệ thị trờng, môi trờng kinh tế cho sự tồn tại
và vận động của các chủ thể SXKD. Trong nền kinh tế thị trờng có cả
một hệ thống thị trờng gồm: Thị trờng hàng hoá t liệu tiêu dùng, t liệu
sản xuất, thị trờng sức lao động, thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn, thị tr-
ờng chứng khoán
Đó là hệ thống thị trờng thống nhất, không bị chia
cắt theo địa giới hành chính, hơn nữa về một số mặt, một số lĩnh vực
nó còn mở rộng gắn liền với thị trờng thế giới.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Bộ phận nữa của nền kinh tế thị trờng là kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội của đất nớc. Đây là bộ phận vừa là điều kiện vừa là biểu hiện
của sự phát triển của nền kinh tế thị trờng. Đó chính là hệ thống giao
thông vận tải, mạng lới thơng mại, du lịch, mạng thông tin liên lạc, hệ
thống ngân hàng, các công ty tài chính, bảo hiểm và các tổ chức t
vấn
- Bộ phận cuối cùng cấu thành nền kinh tế thị trờng là những vấn
đề hết sức quan trọng và không thể thiếu đợc đó chính là hệ thống thể
chế pháp luật tạo nên môi trờng pháp lý hớng dẫn và điều chỉnh các
hành vi của các chủ thể kinh tế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các
chủ thể kinh tế nh: quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, quyền
chuyển nhợng tài sản, quyền sở hữu tài sản
Thứ hai:
Ngoài những đặc trng riêng về mặt kết cấu, nền kinh tế
thị trờng còn có những đặc trng về hình thức của các quan hệ kinh tế,
đó là tính phổ biến, tính bao trùm của các quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Cùng việc biến t liệu sản xuất, t liệu tiêu dùng, sức lao động,
tiền tệ và các dịch vụ thành hàng hoá, thì hầu nh mọi quan hệ kinh tế
trong nền kinh tế thị trờng đều mang hình thức quan hệ tiền tệ. Trong
nền kinh tế thị trờng tồn tại một hệ thống các quan hệ và quy luật kinh
tế chi phối hoạt động của các chủ thể cũng nh của toàn bộ nền kinh tế,
trong đó nổi bật là các quan hệ và quy luật: cung cầu, cạnh tranh, quy
luật giá trị và giá trị thặng d, quy luật tích tụ t bản
Các quan hệ và
quy luật này là những yếu tố trực tiếp điều tiết hành vi của chủ thể
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
kinh tế. Các doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu và điều kiện của thị tr-
ờng để xây dựng và lựa chọn phơng án kinh doanh, họ lấy việc giành
thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trờng, tối đa hoá lợi nhuận làm mục tiêu
của việc sản xuất kinh doanh.
Thị trờng điều tiết hoạt động của mọi chủ thể kinh tế và do đó
cũng là yếu tố trực tiếp điều tiết hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.
Đó chính là cơ chế vận động của nền kinh tế thị trờng, hay cơ chế thị
trờng. Cơ chế thị trờng là cơ chế điều tiết tự phát, điều tiết bằng
Bàn
tay vô hình".
Ưu thế của điều tiết thị trờng bằng bàn tay vô hình là nó phát
huy tối đa mọi nguồn lực của xã hội, nó kích thích sự sáng tạo của
mọi chủ thể kinh tế, nhạy bén linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu đa
dạng, phong phú và luôn biến đổi của thị trờng.
Cơ chế thị trờng với sự điều tiết của bàn tay vô hình là cơ chế
chọn lọc tự nhiên, đào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả
tạo ra sức mạnh cho cả hệ thống doanh nghiệp phát triển.
Cơ chế thị trờng là một cơ chế kích thích và điều tiết có hiệu
quả, nhng cơ chế thị trờng không phải là vạn năng, hoàn hảo, không có
khuyết tật. Trong khi kích thích tới mức cao độ tính năng động, sáng
tạo vì mục tiêu lợi nhuận, cơ chế thị trờng cũng kích thích đầu cơ, làm
cho quan hệ cung cầu, giá cả thị trờng không phải bao giờ cũng phản
ánh đúng nhu cầu của xã hội. Trong khi kích thích sản xuất ở những
khâu, những bộ phận riêng biệt nó đã phá vỡ sự cân đối chung, những
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
điều kiện sản xuất bình thờng của nền kinh tế, gây nên những hậu quả
cho nền kinh tế nh khủng hoảng, thất nghiệp, ô nhiễm môi trờng, mất
cân bằng xã hội, làm suy thoái đạo đức con ngời
và nhiều hậu quả
khác về kinh tế xã hội.
Khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trờng đảm bảo cho
nền kinh tế phát triển ổn định, có hiệu quả, bảo vệ ngời lao động, bảo
vệ môi trờng sinh thái, hạn chế những phân cực của xã hội
chính là
những yêu cầu, là cơ sở khách quan của chức năng quản lý kinh tế của
Nhà nớc.
Nghiên cứu đặc điểm về kết cấu, quan hệ kinh tế và cơ chế vận
động của nền kinh tế thị trờng, Nhà nớc thông qua hệ thống pháp luật
và hệ thống chính sách vĩ mô u tiên, lựa chọn những mô hình kinh tế,
những loại hình doanh nghiệp phát triển phù hợp với kinh tế thị trờng,
phát huy tối đa những u thế của chúng để thúc đẩy nền kinh tế phát
triển một cách vững chắc đồng thời có các biện pháp ngăn ngừa, khắc
phục những khuyết tật, những hậu quả mà kinh tế thị trờng mang lại.
2. Xu hớng vận động của DNNN trong nền kinh tế thị trờng.
2.1: Khái niệm, vai trò và đặc điểm của DNNN
.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế đợc thành lập và hoạt động
sản xuất kinh doanh theo pháp luật với mục đích là lợi nhuận.
Có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau tuỳ theo tiêu thức
phân loại và mục đích nghiên cứu. Xét theo góc độ sở hữu thì các
doanh nghiệp đợc chia thành:
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nớc.
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu t nhân.
- Doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể.
Trong nền kinh tế thị trờng dới sự tác động của các quy luật và
các quan hệ thị trờng, để có thể tồn tại và phát triển đợc thì các doanh
nghiệp dù ở loại hình nào cũng phải phát huy tối đa tính năng động
sáng tạo của mình để đáp ứng và thoả mãn một cách nhanh nhậy và
đầy đủ nhất các nhu cầu hết sức phong phú, đa dạng và luôn thay đổi
của thị trờng.
DNNN với t cách là một tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn,
thành lập và tổ chức quản lý hoạt động SXKD theo những mục tiêu
kinh tế xã hội của Nhà nớc đề ra. Sự ra đời và tồn tại của các DNNN ở
mỗi nớc trên thế giới đều do những nguyên nhân kinh tế, xã hội khách
quan chi phối, do vậy vai trò của DNNN đối với các nớc cũng khác
nhau. Tuy vậy chúng đều trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ
cấu của nền kinh tế mỗi nớc, thể hiện:
-
Thứ nhất
: DNNN là thực lực kinh tế quan trọng, là công cụ hữu
hiệu trong tay Nhà nớc để Nhà nớc thực hiện chức năng điều chỉnh cho
nền kinh tế. Nh ta đã biết nền kinh tế thị trờng do sự tác động của bàn
tay vô hình nó đã mang lại cho nền kinh tế nhiều khuyết tật, các doanh
nghiệp cạnh tranh không bình đẳng, lợi ích của các doanh nghiệp
không phải lúc nào cũng phù hợp với lợi ích của xã hội. Do vậy nếu
không đợc điều chỉnh sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp sẽ tự
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phát vận động và phát triển theo từng xu hớng riêng, vì lợi ích cá
nhân, điều này sẽ làm cho nền kinh tế phát triển theo hớng mất cân
đối dễ dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế.
Để điều chỉnh nền kinh tế, Nhà nớc dùng hệ thống các chính
sách pháp luật tạo hành lang và tạo ra sự kích thích, điều tiết quan
trọng nhằm vừa phát huy thế mạnh vốn có, vừa đảm bảo hành lang
pháp lý cần thiết hớng vào mục tiêu chung. Đó là hớng quan trọng
nhất, song chỉ riêng điều đó cha đủ, Nhà nớc cần phải có một thực lực
kinh tế, một sức mạnh nằm ngay trong đời sống kinh tế xã hội, thông
qua điều hành trực tiếp các DNNN mà tác động gián tiếp vào các
doanh nghiệp khác phát triển theo quỹ đạo của mình từ đó góp phần
làm cho nền kinh tế ổn định và tăng trởng.
Thứ hai
: DNNN là công cụ quan trọng để Nhà nớc thực hiện các
chức năng quản lý xã hội của mình, thể hiện:
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp luôn hớng tới mục
tiêu là kinh doanh mang lại lợi nhuận tối đa, do vậy họ thờng đầu t
vào những ngành, những lĩnh vực mà có thể đạt đợc mục tiêu của họ.
Còn các ngành, các lĩnh vực khó khăn mang lại lợi nhuận ít hoặc
không có lợi nhuận thì họ không đầu t, song chính các ngành, lĩnh vực
này nếu đợc đầu t thì nó rất có ý nghĩa hoặc có hiệu quả lớn về mặt xã
hội và không thể thiếu đợc khi xã hội ngày càng phát triển. Do vậy, để
thực hiện chức năng xã hội của mình Nhà nớc buộc phải đầu t vào các
lĩnh vực trên, đó là các DNNN công ích, sản xuất và cung ứng các
dịch vụ công cộng hoặc phục vụ quốc phòng an ninh.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ ba
: Thông qua các DNNN mà Nhà nớc tác động trực tiếp đến
sự phân bố các nguồn lực. Do kinh tế thị trờng chạy theo lợi nhuận và
tự do cạnh tranh, mặt khác các nguồn lực kinh tế của đất nớc phân bố
không đều, vì vậy không phát huy đợc tổng thể các nguồn lực kinh tế.
Nhà nớc thông qua các DNNN mà điều chỉnh và tác động trực tiếp đến
việc phân bố này trong xã hội, đảm bảo phát huy tối đa các nguồn lực
của đất nớc.
ở
Việt Nam, ngoài những vai trò trên, DNNN giữ một vai trò
đặc biệt quan trọng, DNNN là nhân tố cơ bản mang đầy đủ bản chất
của nền kinh tế quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. DNNN giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế quốc dân, nó làm nền móng, làm nòng cốt cho
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng DNNN có những nét đặc trng khác
hẳn với các DNNN trong nền kinh tế tập trung bao cấp, đó là:
- DNNN là một tổ chức kinh tế có đầy đủ t cách pháp nhân, có
quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ về tài chính. Nhà nớc không can thiệp
trực tiếp và tuyệt đối bằng hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nớc, mà
Nhà nớc quản lý các doanh nghiệp thông qua hệ thống chính sách và
pháp luật. Các DNNN chịu trách nhiệm trớc Nhà nớc về việc bảo toàn
và phát triển vốn Nhà nớc giao, đảm bảo các chỉ tiêu về thu nộp ngân
sách Nhà nớc, Nhà nớc xoá bỏ bao cấp đối với DNNN.
- Hoạt động trong nền kinh tế thị trờng, do đó các DNNN chịu sự
chi phối hoàn toàn bởi các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thị trờng. DNNN đợc quyền tự huy động vốn và đầu t vốn, cạnh tranh
bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau và có thể bị phá sản theo luật phá sản nếu kinh doanh thua lỗ kéo
dài.
2.2: Xu hớng vận động của DNNN.
Nh trên chúng ta đã nghiên cứu, DNNN có vai trò rất quan trọng
trong nền kinh tế của mỗi nớc, tuy vậy thực tế cho thấy các DNNN
làm ăn ngày càng kém hiệu quả, ngay cả trong điều kiện đợc Nhà Nớc
u đãi song các DNNN vẫn làm ăn kém hiệu quả hơn doanh nghiệp t
nhân. Điều này cho thấy nếu các nớc vẫn duy trì nhiều DNNN thì sẽ
dẫn đến tình trạng nền kinh tế kém hiệu quả, ngân sách Nhà Nớc phải
trợ cấp cho DNNN lớn và có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế Nhà N-
ớc.
Có thể đa ra các nguyên nhân dẫn đến sự hoạt động không hiệu
quả của các DNNN, xét trên quan hệ quản lý đối với chúng:
Thứ nhất
: DNNN luôn đợc sự bảo vệ, trợ cấp của Nhà Nớc,
không phải chịu sức ép kinh tế cao vì vậy DNNN không tìm biện pháp
để nâng cao hiệu quả, không có sự gắn bó, rằng buộc lợi ích vật chất
của cán bộ quản lý và công nhân với hiệu quả hoạt động của DNNN.
Thứ hai
: Các DNNN thờng hoạt động trong sự kiểm soát quá chặt
chẽ và sự áp đặt cứng nhắc về nhiều mặt của Nhà Nớc. Điều đó làm
giảm đi tính chủ động, năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Một số DNNN khác hoạt động sản xuất kinh
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
doanh mang tính chất và vị trí độc quyền không có môi trờng cạnh
tranh làm mất động lực quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Thứ ba
: Các cán bộ quản lý của DNNN do sự bổ nhiệm, sắp xếp
của cấp trên nên thờng thiếu những ngời cán bộ quản lý điều hành sản
xuất kinh doanh có trình độ và năng lực thực sự.
Thứ t:
Các DNNN thờng phải đảm nhiệm nhiều trách nhiệm xã
hội, thậm chí là những gánh nặng xã hội.
Tình trạng kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả của các DNNN diễn
ra ở hầu hết các nớc trên thế giới. Xuất phát từ thực trạng đó, trong
khoảng giữa thập niên 80, trên thế giới đã có xu hớng khá phổ biến là
từ bỏ các DNNN. Hơn 60 nớc đã tuyên bố
từ bỏ
DNNN:
ở
Pháp 200
DNNN, ở Hà Lan 75 DNNN, ở Thuỵ Điển 75 DNNN
ở
Việt Nam việc giải bài toán DNNN đang ngày càng bộc lộ
những yếu điểm của nó, thì Nhà nớc đã chỉ đạo việc sắp xếp và chuyển
đổi DNNN để tăng cờng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.
Trong đó CPH là biện pháp khá phổ biến.
ở
các nớc khác nhau cách giải quyết vấn đề này là khác nhau.
Trên thế giới việc giải
bài toán
DNNN thực tế đã diễn ra theo 3 h-
ớng sau đây:
Thứ nhất:
Bán tài sản của các DNNN nhằm thu về cho ngân sách
của chính phủ một khoản thu đáng kể. Chẳng hạn ở Anh năm 1987 thu
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
về 3,75 tỷ bảng Anh nhờ bán tài sản của các DNNN.
ở
Pháp, Italia
cũng đã thu về hàng chục tỷ USD do bán các tài sản của các DNNN.
Thứ hai:
á
p dụng những những biện pháp chủ yếu nhằm cải tiến
quản lý các DNNN. Đó là những biện pháp nhằm đặt giám đốc DN vào
các tình huống, điều kiện giống nh giám đốc các Doanh nghiệp t nhân,
giao cho họ mục tiêu thơng mại, thực hiện chế độ tự chủ rộng rãi, gắn
thu nhập với kết quả hoạt động tài chính doanh nghiệp , tách các mục
tiêu xã hội khỏi các mục tiêu thơng mại, ít nhất là trên phơng diện tài
chính, tức là Nhà Nớc bù đắp những thiệt hại do DN phải đảm nhiệm,
những nhiệm vụ xã hội do yêu cầu của Chính Phủ.
Thứ ba:
Giảm tỷ trọng các DNNN, Nhà Nớc chỉ giữ những
ngành, những lĩnh vực thiết yếu để thực hiện có hiệu quả các chức
năng của mình. Các DNNN còn lại thì đợc t nhân hoá hay cổ phần hoá.
II: Sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN.
1. Công ty cổ phần và những u điểm của nó.
1.1: Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần
Công ty cổ phần ra đời trên cơ sở nền sản xuất xã hội hoá cao,
đặc biệt là xã hội hoá về vốn. Do đó việc nghiên cứu lịch sử hình
thành công ty cổ phần là rất cần thiết cho sự hình thành và phát triển
hình thái công ty cổ phần. Lịch sử hình thành công ty cổ phần trên thế
giới chia thành 3 hình thái, bắt đầu từ hình thái sơ khai cho đến hình
thái chung vốn đến hình thái công ty cổ phần.
+ Hình thái kinh doanh một chủ:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét