Khoá luận tốt nghiệp
tháng 3 sau mùa cho quả, vào tháng 7 khi ma nhiều chỉ có khoảng 5% số cành
mới mọc còn đa số ra chồi mới vào tháng 11.[7]
Nh vậy có thể thấy điều là loài cây sinh trởng và phát triển tốt đặc biệt
là khi gặp điều kiện thuận lợi.
Theo Ohler J.G. điều có nguồn gốc phát sinh từ vùng xích đạo và các
vùng trồng điều nằm giữa khoảng từ 15 vĩ độ Nam đến 15 vĩ độ Bắc. Ông đánh
giá vai trò của các yếu tố sinh thái với sinh trởng và phát triển của điều qua một
số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Về nhiệt độ
Khi mọc tự nhiên ở vùng ven biển nhiệt đới, điều có thể chịu đợc nhiệt
độ cao nhất tới 40
0
C. Tuy nhiên nhiệt độ bình quân hàng tháng thích hợp nhất
với cây điều là 27
0
C. Điều là loại cây rất nhạy cảm với nhiệt độ thấp và sơng
giá. ở miền nam nớc ta nhiệt độ trung bình tháng khá cao lại không có mùa
đông nh ở miền bắc nên rất thích hợp để trồng điều. Ngay ở KonTum là khu
vực có địa hình và vĩ độ cao của Bắc Tây Nguyên cũng không có tháng nào
nhiệt độ trung bình tối xuống thấp hơn 18
0
C.[6]
- Về lợng ma
Các vùng trồng điều trên thế giới có lợng ma thay đổi từ 4000 - 5000
mm/năm và tập trung vào mùa ma dài từ 4 6 tháng đồng thời có mùa khô
kéo dài tơng đơng. Những vùng có lợng ma duới 800 mm/năm thì năng suất
không ổn định. Yêu cầu về nớc của cây cũng khác nhau. Thời kỳ sinh trởng cây
cần nhiều nớc, nhất là cây mới trồng. Còn thời kỳ ra hoa quả cây nếu gặp ma,
hoa quả sẽ rụng nhiều, năng suất giảm.[6]
ở Miền Nam và Tây Nguyên nớc ta có mùa ma kéo dài từ tháng 5 đến
tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Đây là điều kiện rất phù
hợp với cây điều. Lợng ma tập trung vào những tháng mùa ma
thuận lợi cho thời kỳ sinh trởng, phát triển của cây còn vào mùa khô tiếp theo
sẽ thuận lợi cho thời kỳ cây ra hoa kết trái.
- Về ánh sáng
Vũ Thu Huyền A6 K38B 5
Khoá luận tốt nghiệp
Cây điều là loài cây a sáng nên các cây thờng đợc trồng đơn lẻ hay trồng
với mật độ tha thích hợp. Nếu đảm bảo đợc ánh sáng cây cho năng suất khá
cao. Đặc biệt trong thời kỳ nở hoa kết trái, cây cần nhiều ánh sáng để thụ phấn
và đậu quả.
ở Miền Nam và Tây Nguyên, các tháng mùa khô ít ma, nhiều nắng.
Trung bình các nơi vào thời gian này đều có số giờ nắng trên 2000 giờ nên đều
có thể đáp ứng đợc yêu cầu về ánh sáng của cây.
- Về độ ẩm không khí
Cây điều ra hoa quả thuận lợi trong điều kiện độ ẩm không khí tơng đối
thấp. Nếu độ ẩm không khí cao đều quanh năm và nhất là vào mùa ra hoa quả
sẽ làm cản trở quá trình mở bao phấn, đầu nhụy không đợc thụ phấn, hoa sẽ bị
thối và rụng. Những vùng trồng điều thuận lợi trên thế giới đều có độ ẩm tơng
đối trung bình từ 46% 50%, độ ẩm buổi tối cao trung bình từ 68% 77%.
[6]
Miền Nam nớc ta có độ ẩm tơng đối trung bình dao động từ 67% -70%
nên việc ra hoa quả của điều cũng khá thuận lợi.
- Về đất đai
Điều có thể thích hợp với nhiều loại đất mà năng suất không thay đổi,
đây là loại cây ít đòi hỏi về điều kiện đất đai. Tuy nhiên loại đất thích hợp nhất
cho cây là đất cát pha, tầng dày, xốp tiêu nớc tốt, không có lớp đất cứng ở phía
dới, mực nớc ngầm sâu khoảng 5 10 m. Điều không chịu đợc đất thoát nớc
kém, ngập lụt. Chịu hạn tốt với đất pha cát có tầng dày. Rễ điều ăn sâu. phát
triển tốt khi gặp loại đất này, sau 10 ngày rễ xuyên sâu 32 38cm, 4 tháng
xuyên sâu hơn 80cm và đến khi trên 4 tuổi rễ có thể xuyên sâu tới hơn 5m.[6]
ở Miền Nam cây điều đợc trồng và phát triển khá tốt trên đất cát ven
biển, đất xám trên phù sa cổ, dất đỏ vàng. Vùng Bắc Tây Nguyên cây điều đợc
trồng trên đất xám phù sa cổ, đất nâu đỏ. Thực tế cho thấy từ nhiều năm nay
cây điều ở các vùng này sinh trởng và phát triển tốt.
2. Đặc điểm và tác dụng một số bộ phận của cây điều:
Vũ Thu Huyền A6 K38B 6
Khoá luận tốt nghiệp
2.1. Quả :
Dạng hạt hình thận chính là quả thật của điều còn phần gọi là quả thực
ra là quả giả do cuống hoa phồng to lên, có thể to gấp 5-10 lần quả thật. Vỏ quả
thật có một lớp vỏ quả dai, vỏ trong lại cứng và dòn, lớp vỏ giữa xốp và chứa
nhiều dầu vỏ hạt. Nhân hạt trắng và nhẵn, đợc bọc bởi một lớp vỏ lụa màu nâu
đỏ hay hồng. Sau khi thụ phấn, noãn sào to dần và sau một tuần có thể nhận ra
hạt bằng mắt thờng. Lớp vỏ quả phát triển nhanh hơn phôi trong hai tuần đầu.
Sau đó phôi phát triển nhanh hơn và chiếm hết xoang trống lúc hạt đạt kích th-
ớc tối đa sau thời gian 5 7 tuần. Sau đó hạt co lại, vỏ cứng dần, màu lục trở
thành màu xám.
Quả điều có chứa nhiều vitamin nhất là vitamin C và các loại muối
khoáng cần thiết cho cơ thể con ngời. Từ quả điều có thể chế biến thành bánh,
mứt, nớc giải khát, rợu, làm dợc liệu [1], [6].
2.2. Hạt
Kích thớc, hình dạng và tỷ lệ của hạt thay đổi nhiều. Có nhiều giống
khác nhau về kích thớc và trọng lợng hạt, nhân và vỏ. Giống hạt lớn, nặng 10
13 g, có giống hạt nhỏ chỉ nặng 3 4 g. Có giống vỏ hạt nhẵn, có giống vỏ
hạt lại xù xì hoặc nháp. Có giống nhân chiếm 25% trọng lợng hạt, có giống chỉ
chiếm 20 21 %.[6]
Gần đây, các nhà khoa học ấn Độ đã chế tạo đợc chất polyme từ chất
lỏng chiết tách từ hạt điều và sợi amiăng. Chất polime này có thể chịu đợc nhiệt
độ cao đến 3000
0
C trong 3 phút. Họ cho rằng các polyme làm từ chất chiết ra từ
hạt điều với khả năng mở ra triển vọng làm các chất chống cháy cho tên lửa và
tầu vũ trụ dùng nhiều lần.[1]
2.3 Nhân
Nhân điều chiếm trung bình 25% trọng lợng hạt, có hình hạt đậu, màu
trắng, là thức ăn ngon, có giá trị dinh dõng cao nhất là hàm lợng đạm, chất béo
và đờng. Thành phần chung của nhân điều gồm protein, chất béo và
cacbonhydrat. Theo một số tác giả phân tích thành phần nhân điều thế giới và
Vũ Thu Huyền A6 K38B 7
Khoá luận tốt nghiệp
phân tích của viện khảo cứu nông lâm Đông Dơng (IRAFI) về điều ở Việt
Nam cho thấy : Chất béo đạt từ 44- 47%; Protein 15 21 % ngoài ra vỏ hạt
còn chứa nhiều vitamin B
1
, B
2
, B
6
[6]
Theo tài liệu của Nair M.K. về cung cấp năng lợng (calo) Nhân điều vợt
xa so với ngũ cốc, thịt và trái cây : nhân điều cung cấp 6000 calo/kg, ngũ cốc
cung cấp 3600 calo/kg, thịt cung cấp 1800 calo/ kg, trái cây cung cấp trung
bình khoảng 650 calo/kg.[6]
Bảng 1 :Thành phần các chất dinh dỡng có trong nhân hạt điều
Đơn vị :%
Thành phần
Theo phân tích
của Viện IRAFI
Theo phân tích
của
Metafredini
Theo phân tích
của Adriano
Wealth và Parpia
Protein 15,78 21 21
Chất béo 44,90 44 47
Cacbonhydrat 2,05 29 22
Đờng khử 7,78 - -
Saccharose 5,70 - -
Tinh bột 19,82 - -
Cellulose 3,97 - -
Nguồn: Cashew, Ohler J.G., Amsterdam
(chú ý : - cha có con số cụ thể)
Nhân điều là một loại thực phẩm cao cấp, bao gồm nhiều chất và tơng
đối cân đối trong thành phần dinh dỡng. Nhân điều có hàm lợng calo cao hơn
ngũ cốc, thịt và các loại hoa quả tơi. Nhu cầu về nhân điều trong tiêu dùng
ngày càng cao và có giá trị xuất khẩu lớn. Từ nhân điều ngời ta có thể ép ra dầu
rán, magarin là những sản phẩm có giá trị đồng thời là thức ăn hạn
chế và chữa đợc nhiều loại bệnh hiểm nghèo nh chảy máu não, sơ cứng động
mạch, huyết áp, thần kinh
2.4. Vỏ hạt điều
Trong vỏ hạt điều có một chất rất giá trị đó là dầu vỏ hạt điều. Dầu vỏ
hạt điều là chất lỏng giống nh chất nhựa, tỷ khối cao khoảng 920 980 g/cm
3
.
Vũ Thu Huyền A6 K38B 8
Khoá luận tốt nghiệp
Màu từ vàng nhạt đến nâu sậm, có vị đắng, ăn da, làm dộp da, khi đun lên bốc
khói cay và ngạt thở. Dầu vỏ hạt điều có hàm lợng thay đổi nhiều ở các vùng.
Dầu vỏ hạt điều có công dụng tơng đối đa dạng và đợc dùng nhiều trong
các ngành công nghiệp quan trọng. Dầu vỏ hạt điều là một trong những nguồn
cho phenol thực vật quan trọng. Nó chứa đến 90% axit anacardic là chất làm
phỏng da. Do có bản chất phenol nên có thể dùng trực tiếp dầu vỏ hạt điều làm
chất bảo quản gỗ và sợi dệt thô vì có khả năng chống côn trùng và nấm dùng
làm thuốc trừ sâu dùng hoá dẻo các loại nhựa cứng. Từ dầu vỏ hạt điều có thể
chế biến thành véc ni, sơn chống thấm, sơn cách điện, Ngời ta đã thấy dầu vỏ
hạt điều có nhiều tác dụng trong ngành công nghiệp mà đến nay cha có loại
dầu thực vật nào có thể so sánh với nó.
Vỏ cây điều chứa nhiều tanin (4 9%) có thể chiết xuất để sử dụng
trong công nghệ thuộc da hoặc làm mực không phai màu.
2.5. Quả giả:
Kích thớc và hình dạng của quả giả cũng biến đổi nhiều nh ở hạt. Quả có
thể có dạng hình tròn, thon dài hoặc có dạng hình tim. Thờng trọng lợng quả
lớn gấp 5 10 lần trọng lợng hạt. Khi quả non có màu nâu hồng hay nâu lục,
về sau trở thành màu lục. Khi chín có màu đỏ hoặc vàng, cũng có màu trung
gian giữa đỏ và vàng. Quả chín rất mọng nớc, có ít sơ, vỏ mỏng dễ bị dập. Quả
chín có mùi đặc biệt, chứa 85% nớc, 10% đờng. Theo tài liệu của Viện khảo
cứu nông lâm Đông Dơng (IRAFI), thành phần của quả điều Việt Nam gồm
chủ yếu là đờng, chất xơ, muối khoáng và tanin. Nh vậy nếu đợc chế biến thì
đây cũng là nguồn thực phẩm rất giàu dinh dỡng.[1]
Bảng 2 :Thành phần của quả điều
Đơn vị :%
Thành phần Quả màu đỏ Quả màu vàng
Nớc 85,92 86,38
Tro 0,44 0,57
Đờng 7,72 7,30
Đạm 0,68 0,52
Dầu béo 0,30 0,27
Vũ Thu Huyền A6 K38B 9
Khoá luận tốt nghiệp
Hydroxit carbon 0,86 0,98
Tanin 0,42 0,48
Cellulose 3,46 3,34
Axit citric 0,20 0,16
Nguồn: Cây đào lộn hột, Phạm Văn Nguyên, Tổng công ty Vinalimex
2.6. Gỗ điều:
Theo tài liệu của Nair cho thấy gỗ điều có tỷ trọng 500kg/m
3
, sợi gỗ dài
gấp hai lần sợi gỗ thông hai và ba lá nên có thể làm nguyên liệu giấy sợi. Gỗ
điều không bị mối mọt nên có thể sản xuất đồ gỗ, ván sàn và trang trí nội thất.
Ngoài ra còn đợc dùng làm trục bánh xe, ách trâu bò, làm củi đun, đốt than.
Than gỗ điều có hàm lợng KOH cao nên đợc dùng làm phân bón cho cây và
bón cải tạo đất.
Tóm lại, có thể thấy rằng điều là loại cây có rất nhiều giá trị. Mỗi một bộ
phận của cây đều đem đến những giá trị nhất định. Tuy nhiên, hiện nay chúng
ta cha khai thác hết các tác dụng này. Hầu nh ở các nớc sản xuất điều trên thế
giới mới chỉ chú trọng vào việc chế biến nhân hạt điều thành một thực phẩm bổ
dỡng chứ cha chú trọng đến các tác dụng khác của nó. Đây thực sự là một sự
lãng phí rất lớn. Do đó cần phải tập trung nghiên cứu hơn nữa vào các tác dụng
khác của cây điều để có thể tận dụng một cách triệt để những lợi ích mà loại
cây này đem lại.
II. Tình hình cung - cầu điều trên thị trờng thế giới:
1.Nhu cầu về điều trên thị trờng thế giới
Nh đã trình bày ở trên, điều là một sản phẩm có giá trị rất cao, đem đến
nhiều công dụng. Tuy nhiên phải đến tận đầu thế kỷ 20 mới xuất hiện nhu cầu
về điều. Một lợng nhỏ nhân điều đã đợc nhập vào Mỹ năm 1905. Mậu dịch
quốc tế về điều bắt đầu sau khi đại diện của các công ty thực phẩm khám phá ra
hạt này trong chuyến đi của họ ở Nam ấn đầu năm 1920. Đến lúc này nhu cầu
về điều mới thực sự phát triển. Tuy nhiên trong giai đoạn này mới chỉ xuất hiện
nhu cầu về điều nh là một thực phẩm. Đến năm 1928, ngời ta đã phát hiện ra
cách bảo quản hạt trong thùng kín có chứa CO
2
, do đó có thể vận chuyển đợc
Vũ Thu Huyền A6 K38B 10
Khoá luận tốt nghiệp
điều đi xa và dài ngày hơn. Ngoài các chuyến hàng gửi sang Mỹ, còn gửi sang
các nớc châu Âu nh Anh, Hà Lan, Năm 1941 tổng lợng nhân điều nhập khẩu
thế giới lên đến gần 20 tấn.[8].
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sản lợng và mức tiêu thụ điều của thế
giới tăng lên rất nhanh. Nhờ có thành phần dinh dỡng cao và lại có hơng vị
thơm ngon, nó trở thành món ăn tráng miệng quan trọng, chỉ đứng sau hạnh
nhân. Năm 1969, Liên Xô đã chiếm vị trí của Mỹ để trở thành nớc mua nhiều
nhân hạt điều nhất của ấn Độ. Các nớc Đông Âu khác nh Đông Đức và Nam T
đã trở thành các nớc nhập khẩu điều lớn. Mức tiêu thụ của Nhật Bản cũng tăng
nhiều. Trong giai đoạn 1971 1975 lợng nhập khẩu điều trên thế giới đạt trên
400.000 tấn tức là tơng đơng 100.000 tấn nhân.[1],[8].
Những năm gần đây số lợng nhập khẩu nhân điều ở các nớc tăng mạnh.
Nớc nhập khẩu lớn nhất là Hoa kỳ (năm 1994 nhập 59.671 tấn, năm 1997 nhập
61.236 tấn) tiếp đó là Hà Lan (năm 1994 nhập 6.282 tấn, năm 1997 nhập
14.288 tấn). Chính vì nhu cầu ở các nớc nay tăng mạnh nên tổng sản lọng tiêu
thụ nhân điều của thế giới cũng tăng lên đáng kể: năm 1994 lợng nhập khẩu là
120.862 tấn, năm 1997 tăng lên đến 147.647 tấn.[1], [8], [35]
Bảng 3 :Số lợng nhập khẩu nhân điều của các nớc trên thế giới
Đơn vị : tấn
Nớc 1994 1995 1996 1997
Mỹ 59.671 52.663 59.309 61.236
Canada 4.785 4.150 4.536 4.990
Hà Lan 6.282 8.550 12.406 14.288
Đức 7.983 9.616 10.818 12.474
Anh 5.511 5.126 6.373 6.577
Pháp 2.087 2.880 3.924 4.990
Các nớc Tây âu
4.377 4.137 2.994 3.856
Trung Quốc 7.507 14.991 12.497 12.474
Nhật Bản 5.625 6.192 6.418 6.577
Các nớc châu á khác
4.536 5.602 5.239 4.763
ểc
4.491 5.534 5.148 5.443
Trung Đông 3.493 3.901 4.491 4.536
Các nớc khác 4.513 4.922 5.375 5.443
Thế Giới 120.862 128.301 139.255 147.647
Vũ Thu Huyền A6 K38B 11
Khoá luận tốt nghiệp
Nguồn : Hiệp hội nghiên cứu và phát triển điều ấn Độ - ICARD
Theo thống kê kể từ năm 2000 trở lại đây, hàng năm lợng nhập khẩu
điều trên thế giới dao động khoảng 350.000 đến 400.000 tấn (ICARD). Mỹ vẫn
là nớc nhập khẩu điều lớn nhất thế giới với mức nhập khẩu hàng năm khoảng
70.000 80.000 tấn, tiếp đó là các nớc châu Âu nh Anh, Pháp, Đức, Hà
Lan,úc, , các nớc Trung Đông, Trung Quốc, Nhật Bản Theo nguồn tin từ
Hội đồng xúc tiến xuất khẩu điều mấy năm gần đây nhu cầu về điều trên thế
giới tăng trung bình 4% mỗi năm đặc biệt tăng mạnh ở các nớc Tây Âu. Riêng
về dầu vỏ hạt điều, mấy năm gần đây lợng giao dịch khoảng 30.000 40.000
tấn/năm. Trong đó các nớc nhập khẩu chủ yếu là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu.[8],
[35]
Nhu cầu tiêu thụ về các sản phẩm về điều chắc chắn sẽ còn tăng vì đây là
một loại thực phẩm có hàm lợng dinh dỡng cao đợc đa số ngời dân trên thế giới
chấp nhận và a chuộng, ngoài ra ngời ta còn phát hiện ra một số công dụng
khác của điều trong các ngành công nghiệp hứa hẹn một nhu cầu lớn hơn nữa
về các sản phẩm của điều.
2.Tình hình cung về điều trên thế giới
2.1 Tình hình sản xuất
Cây điều là loại cây dễ trồng và đợc phân bố rộng rãi. Hiện nay đã đợc
trồng khá phổ biến ở các vùng rộng lớn ở châu Phi, châu á gồm
Mozămbich,Tazania, Kenya, ấn Độ, Việt Nam, Indonexia, Thái Lan
Ngay từ những năm 20 của thế kỷ 20, ngành công nghiệp ấn Độ đã bắt
đầu phát triển và nhiều nhà máy chế biến hạt điều đợc thành lập. ấn Độ chiếm
vị trí độc tôn trong việc chế biến và xuất khẩu hạt điều. Nhờ có nhân công rẻ
nên trong giai đoạn đầu ấn Độ đã giữ vững vị trí này. Tuy nhiên, sản lợng hạt
điều tơi ở Đông Phi phát triển nhanh hơn ở ấn Độ. Năm 1960 Mozămbich đã v-
ợt ấn Độ để đợc xem là nhà cung cấp hạt điều tơi chính cho ngành chế biến
điều. Các nớc Đông Phi đã triển khai các kỹ thuật chế biến với máy móc riêng.
Vũ Thu Huyền A6 K38B 12
Khoá luận tốt nghiệp
Năm 1960 các nhà máy chế biến hạt điều đã phát triển triển ở Mozămbich và
Tây Phi, Braxin cũng đã tăng nhanh khả năng chế biến của mình. Trong thập
niên 60 Mozămbich chiếm tới một nửa sản lợng điều toàn thế giới với sản lợng
60.000 tấn năm 1964. Một thập kỷ sau, chính phủ nớc này đã cấm xuất khẩu
điều thô và Mozămbich trở thành nớc châu Phi đầu tiên chế biến điều với quy
mô lớn. Năm 1980, Mozămbich có 14 nhà máy chế biến điều. Đến năm 1992
lệnh cấm xuất khẩu gây nhiều tranh cãi trên mới đợc dỡ bỏ theo một phần ch-
ơng trình cải cách của Ngân hàng thế giới. Tuy nhiên trong thời gian này các
nhà máy chế biến điều hoạt động không có hiệu quả làm giảm sức cạnh tranh
của điều xuất khẩu. Để giúp ngành điều phục hồi lại thời kỳ hoàng kim, chính
phủ đã thành lập một cơ quan nghiên cứu và marketing Viện điều. Hiện nay,
Viện điều đang nghiên cứu các giống lai có khả năng kháng bệnh để đẩy mạnh
sản lợng. Ngoài ra, nỗ lực của chính phủ giúp nông dân tiếp cận đợc với những
khoản tín dụng lãi suất thấp cũng có tác động tích cực. Năm 2002 lợng điều
chào bán của Mozămbich đã đạt 60.000 tấn. Con số này cho thấy thực tế ngành
điều nớc này đang dần phục hồi.[8], [35], [17]
Bảng 4: Sản lợng hạt điều ở một số nớc trồng điều
Đơn vị : 1000 tấn
Tên nớc 1962-1966 1970-1971 1980-1981 1991 1993 1997
ấn Độ
130 177 185 110 120 350
Braxin 14 15 75 130 180 180
Việt Nam - - - 31 60 150
Indonexia - - - 38 27 30
Mozămbich 120 175 70 30 18 30
Tazania 60 115 60 36 25 30
Nigienia - - - 27 15 80
Kenya 6 23 16 13 8 -
Thái Lan - - - 12 12 50
Philippin - - - 5 5 -
Ghine Bitxao - - - 16 10 40
Các nớc khác - - 5 5 3 -
Thế giới 330 505 410 457 495 900
Nguồn : Hiệp hội nghiên cứu và phát triển điều ấn Độ - ICARD
Các nớc sản xuất và có khả năng sản xuất lớn hiện nay là ấn Độ, Braxin,
Việt Nam, Madargascar, Kenya, Mozămbich
Vũ Thu Huyền A6 K38B 13
Khoá luận tốt nghiệp
ở ấn Độ, năm 1975 đã trồng điều với diện tích 362.000 ha và sản lợng
139.900 tấn, năng suất đạt 0.384 tấn/ha. ấn Độ là nớc xuất khẩu nhân hạt điều
đầu tiên. Ngay từ năm 1920, công nghiệp chế biến đã phát triển đến mức các
nhà sản xuất trong nớc không đủ khả năng cung ứng hạt thô và phải nhập từ
Mozămbich. Năm 1980, khu vực dành cho cây điều khoảng 100.000 ha. Các kế
hoạch 5 năm đã dành cho cây điều với diện tích rất lớn. Xuất khẩu nhân điều
qua các năm gần đây : năm 1994 xuất khẩu78.260 tấn, năm 1997 xuất khẩu
72.576 tấn. ấn Độ đã thành lập Cục phát triển cây điều, đa các chơng trình cải
tiến nông trờng trồng điều, khuyến nông và sản xuất bằng cách chiết ghép, tăng
cờng các kỹ thuật nông nghiệp nh khai hoang, trồng xen, bón phân xanh, phân
hoá học và các biện pháp bảo vệ thực vật, cây chiết lấy từ các giống chọn lọc
để tăng sản lợng và tính thuần nhất về chất lợng hạt.[8], [24]
ở Braxin, cây điều mọc trên các vùng đất rộng lớn gồm các bang Para,
Marahao, Piaui, Ceara, Paraiba, Alagoas Cho đến năm 1970, sản lợng chủ
yếu thu hoạch từ các cây mọc hoang và cây trồng quanh vờn nhà nông dân.
Ngay từ năm 1970, Nhà nớc đã khuyến khích việc sản xuất hạt điều và tài trợ
cho những ai trồng đợc trên 100 gốc. Gondins A.D.F. và cộng sự (1973) đã
nghiên cứu tình hình sản xuất và chế biến điều đã nhận xét: tốc độ gia tăng sản
xuất điều đã tăng lên nhanh chóng, từ 5.500 tấn năm 1960 lên 37.000 tấn năm
1970 và năm 1972 là 90.000 tấn. Thị trờng nội địa tiêu thụ một phần đáng kể l-
ợng sản phẩm làm ra. Nhân điều không những đợc xuất khẩu sống mà còn đợc
rang muối và đóng hộp.[8], [35]
Hiện nay, diện tích trồng điều trên thế giới là 1,2 triệu ha với mức sản l-
ợng điều của thế giới dao động ở mức trên 1.000.000 tấn mỗi năm trong đó ấn
Độ và Braxin chiếm hơn nửa. Niên vụ 2001/2002, tổng sản lợng điều của thế
giới là 1.178.000 tấn trong đó ấn Độ chiếm tới 32%. ấn Độ cũng là nớc chế
biến điều thô lớn nhất trên thế giới (khoảng 600.000 tấn mỗi năm), với hơn 500
nhà máy chế biến điều trong đó có đến 44 nhà máy nằm ở bang duyên hải nhỏ
bé vốn tự hào là nơi chế biến điều tiên phong. Hiện nay chất lợng điều xuất
Vũ Thu Huyền A6 K38B 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét