LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nội dung của công nhiệp hoá hiện đaị hoá nước ta": http://123doc.vn/document/1053666-noi-dung-cua-cong-nhiep-hoa-hien-dai-hoa-nuoc-ta.htm
1.3.1. Cung cấp lương thực thực phẩm cho xã hội
Lương thực thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của xã hội,do vậy việc thoã
mãn nhu cầu lương thực thực phẩm cho xã hội đã trở thành một điều kiện
quan trọng để ổn định xã hội , ổn định kinh tế , nó còn là cơ sở để phát triển
các mặt cơ bản khác của xã hội
1.3.2. Cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ
Các nghành công nghiệp nhẹ như chế biến lương thực ,thợc phẩm ,chế
biến hoa quả ,công nghiệp dệt ,giấy…phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ
yếu của nông nghiệp ,quy mô,tốc độ tốc tăng trưởng của nguồn nguyên lệu là
nhân tố quan trọng quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của ngành công
nghiệp hiện nay
1.3.3. Cung cấp một phần vốn để công nhiệp hoá
Để công nghiệp hoá hiện đại hoá thành công đất nước càn phải giải
quyết rất nhiều vấn đề và cần phải có vốn ,là nước nông nghiệp thông qua
việc xuất khẩu nông phẩm , để có thể góp vốn vào giải quyết các nhu cầu vốn
cho kinh tế
1.3.4. Nông nghiệp nông thôn là thi trường quan trọng của các nghành
công nghiệp dịch vụ
Nông nghiệp nông thôn phát triển thì nhu cầu hàng hoá ,tư liệu sản xuất
như:thiết bị nông nghiệp , điện năng phân bón ,thuốc trừ sâu ….càng tăng ,
đồng thời nhu cầu về dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp như vốn ,thông tin
giao thông vận tải ,thương mại …cũng tăng ,mặt khác sự phát triển cảu nông
nghiệp,nông thôn làm cho mức sống của người dân được nâng cao do đó nhu
cầu v4ề sử dụng các mặt hàng như:ti vi ,tủ lạnh ,xe máy và cá nhu cầu về
văn hoá ,giáo dục ,y tế ,du lịch…cũng tăng ,sự phát triển này là điều kiện
thuận lợi cho công nghiệp dịch vụ phát triển
5
1.3.5. Phát triển nông nghiệp nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế xã hội
Nông thôn là khu vợc kinh tế rộng lớn tập trung nhiều dân cư của đất
nước ,phát triển kinh tế nông thôn một phần đảm bảo nhu cầu cho xã
hội:nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ ,là thị trường công nghiệi dịch vụ do
đó phát triển kinh tế nông thôn là là cơ sở ổn định ,phát triển nền kinh tế quốc
dân,do đó nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nông thôn ,do đó là cơ sở
ổn định kinh tế chính trị xã hội ,phát triển nông thôn còn góp phần củng cố
liên minh công nông ,tăng cường sức mạng của chính quyền vôn sản
6
Chương2: Nội dung của công nhiệp hoá hiện đaị hoá nước ta
Phát triển nông nghiệp nông thôn là một chủ trương lớn của nước ta hiện
nay .Văn kiện Đại hội Đảng X của Đảng nhấn mạnh” Đẩy mạnh công nghiệp
hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ,giải quyết đồng bộ các vấn đề nông
nghiệp ,nông thôn và nông dân”
Một số nội dung chủ yếu cần tập trung sức chỉ đạo, thực hiện có hiệu
quả là:
2.1) Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế ở nông thôn theo hướng công
nghiệp hoá ,hiện đaị hoá
-Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và
hiệu quả kinh tế cao; phát triển mạnh chăn nuôi với tốc độ và chất lượng cao
hơn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao
công nghệ sản xuất,khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát. Tiếp tục
rà soát, bổ sung, điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất nông nghiệp: phát huy lợi
thế tự nhiên của từng vùng, từng loại cây trồng, con gia súc, tăng tỷ trọng
chăn nuôi và dịch vụ; hình thành vùng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường
và công nghiệp chế biến, bảo đảm hiệu quả bền vững và an ninh lương thực
quốc gia…
- Tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường, coi trọng và phát triển thị
trường trong nước, tổ chức tốt việc tiêu thụ nông, lâm sản, thủy sản cho nông
dân.
- Ðưa nhanh khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là việc nghiên cứu
và chuyển giao khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng giống cây trồng,
giống vật nuôi, kỹ thuật canh tác và môi trường, công nghệ sau thu hoạch;
ứng dụng mạnh công nghệ sinh học và xây dựng các khu nông nghiệp công
7
nghệ cao; nâng cao khả năng phòng ngừa và khắc phục dịch bệnh đối với cây
trồng, vật nuôi…Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp
và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nông, lâm thủy
sản…
- Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, đa dạng hóa các nguồn vốn ,đầu tư
phát triển mạnh hơn cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Ưu tiên nâng cấp
và xây dựng mới các hệ thống thủy lợi, đi đôi với đổi mới và nâng cao hiệu
quả quản lý. Củng cố hệ thống hồ đập, nâng cấp các hệ thống cảnh báo, chủ
động phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường nước, bảo
đảm các xã đều có đường ô-tô tới khu trung tâm, từng bước phát triển đường
ô-tô tới thôn bản; bảo đảm hơn 90% số dân cư nông thôn có điện sinh hoạt;
hơn 75% số dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch.
- Rà soát bổ sung, điều chỉnh chính sách về đất đai, thuế, tín dụng, đầu
tư nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện việc hình thành các khu và cụm công
nghiệp, cụm làng nghề ở nông thôn để thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp
và kinh doanh dịch vụ sử dụng nhiều lao động và nguồn nguyên liệu từ nông,
lâm thủy sản…
- Tập trung giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho nông dân và cho lao
động nông thôn, đặc biệt giải quyết việc làm và thu nhập cho nông dân có đất
bị thu hồi để sử dụng vào mục đích phát triển khu công nghiệp, khu đô thị, cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc
làm.Có chính sách trợ giúp để đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông dân và lao
động nông thôn, đáp ứng cho yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn và tìm việc làm ngoài khu vực nông thôn, kể cả đi lao động
ở nước ngoài.
-Tiếp tục đầu tư nhiều hơn cho chương trình xóa đói giảm nghèo, trợ
giúp thiết thực cho các vùng và cộng đồng dân cư còn nhiều khó khăn, xây
8
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển hệ thống khuyến nông, nâng
cao dân trí và có chính sách tín dụng cho người nghèo
_ Thực hiện tốt hơn chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng; thực
hiện ngày càng có nền nếp và chất lượng về quy chế dân chủ ở nông thôn; đẩy
mạnh phong trào xây dựng làng xã văn hóa, giữ gìn và phát triển truyền thống
văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta….
2.3) Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế
tri thức
Sau 20 năm đổi mới thế và lực của đất nước ta đã mạnh hơn nhiều, tuy
"từng bước phát triển" nhưng một số thành phần của kinh tế tri thức như công
nghệ thông tin, in-tơ-nét, điện thoại di động trong giai đoạn 2001 - 2005 đã
phát triển khá nhanh. Nhiều nước phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc,
Phần Lan, Ấn Độ biết kết hợp phát triển kinh tế tri thức đều đạt tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá cao. Do đó, tranh thủ thời cơ mà bối cảnh quốc tế tạo ra,
kết hợp nội lực với các thuận lợi bước đầu về phát triển kinh tế tri thức, Đảng
ta đã đề ra đường lối: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế tri thức".Do đ ó phát triển kinh tế tri thức là một xu thế tất yếu:
Lao động sản xuất bao giờ cũng phải dựa vào tri thức, khoảng giữa thế kỷ
XX, kinh tế công nghiệp cổ điển hết tiềm năng phát triển và bắt đầu suy thoái,
vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, chiến tranh
hủy diệt đe dọa thường xuyên Trong bối cảnh đó cuộc cách mạng khoa học
công nghệ hiện đại xuất hiện và phát triển bùng nổ, dựa trên những khối tri
thức khổng lồ. Lực lượng sản xuất mới được hình thành dựa trên nguồn lực
chủ yếu là tri thức, tạo nên hệ thống công nghệ cao với máy móc thông minh
mà điển hình là máy tính điện tử (máy điện toán) mô phỏng não người
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới này đã dẫn tới một
hình thái kinh tế mới .Đó là một nền kinh tế trong đó việc sáng tạo tri thức, sự
lan truyền và quảng bá nhanh tri thức đưa vào ứng dụng là động lực chủ yếu
9
của tăng trưởng kinh tế, tạo rNhà kinh tế học P.F.Durker gọi đó là nền kinh tế
tri thức và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử dụng chính
thức của Ngân hàng thế giới. Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản xuất
chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thứ, tạo ra việc làm,của cải
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa thế kỷ XX, dựa
trên những tri thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế giới vi mô, dẫn
tới sự phát minh ra các máy móc, thuộc loại hoàn toàn mới, gọi là máy móc
thông minh điển hình là máy điện toán,
. Máy móc thông minh kết hợp với tri thức sáng tạo trở thành nguồn lực
của các công nghệ cao như: công nghệ thông tin hoặc công nghệ thông tin và
truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến - nano , trong
đó công nghệ thông tin và truyền thông giữ vai trò dẫn đầu. Hệ thống công
nghệ cao là cốt lõi của lực lượng sản xuất mới
Theo kinh nghiệm của nhiều nước, phát triển kinh tế tri thức phải tập
trung nguồn lực vào bốn hướng
Thứ nhất, Nhà nước phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách kinh tế
năng động, rộng mở, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu quả những
tri thức mới. Thúc đẩy kinh doanh, tác động cho nở rộ doanh nghiệp mới làm
ăn phát đạt. Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả, tránh phiền hà,
tham nhũng. Giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần tăng sức cạnh
tranh.
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực tài năng sáng tạo, biết phối hợp và chia
sẻ ứng dụng những thông tin, tri thức thành sản phẩm có sức cạnh tranh cao.
Thứ ba, xây dựng một hệ thống đổi mới hiệu quả bao gồm: các doanh
nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức tư vấn và
các tổ chức khác liên kết, trao đổi thông tin, tri thức với nhau theo những mục
tiêu đã xác định
10
Thứ tư, tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và truyền
thông, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển ngành công nghệ cao dẫn đầu này.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, phổ biến và sáng tạo tri thức.
Bảng dưới đây trình bày một số chỉ số công nghệ thông tin và truyền
thông trong một số năm qua
Bảng các chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
Năm
Các chỉ số ICT
2001 2003 2005 2007
(dự kiến)
Tháng 5
năm
2007
Số vi tính/1000 dân 8.9 9.85 >11
Số điện thoại/100 dân 4.18 9.19 19 43 42
Trong đó số đthdđ/100 dân 0.99 2.34 9.5 32 30
Số TV/100 dân 180 185 190 >200
Tỷ lệ số người sử dụng In-ter-
net
4.3 12.9 22.0 18.96
2.4) Phát triển du lịch với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn
Nhằm gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn với phát triển du lịch
bền vững, cần tập trung phát triển du lịch ở khu vực nông thôn bằng các biện
pháp sau:
Một là, bằng nhiều hình thức, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho
lĩnh vực du lịch ở các vùng nông thôn có nhiều tiềm năng du lịch theo hướng
khai thác các nguồn vốn trong nước, ngoài nước, đặc biệt là vốn trong dân.
Từ đó tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù mang đậm bản sắc nông thôn
Việt Nam (như du lịch đồng quê, du lịch làng nghề, du lịch sinh thái, văn hóa
và sông nước).
Hai là, phục hồi và phát triển các nghề truyền thống của làng quê Việt
Nam, tạo ra những sản phẩm phục vụ khách du lịch. đẩy mạnh xuất khẩu tại
11
chỗ và xuất khẩu ra nước ngoài, mà còn kết hợp để mở rộng phát triển dịch vụ
du lịch, tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho đời sống nông dân,
Ba là ,đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ và xuất khẩu ra nước ngoài, mà còn
kết hợp để mở rộng phát triển dịch vụ du lịch, tạo thêm công ăn việc làm,
nâng cao thu nhập cho đời sống nông dân
Bốn là, nâng cao ý thức của nhân dân ở các vùng nông thôn trong việc
bảo vệ môi trường sinh thái, làm đẹp quê hương, bản làng, giữ gìn nếp văn
hóa làng quê Việt Nam để tạo ra những sản phẩm du lịch văn hóa làng quê,
văn hóa lễ hội nông thôn Việt Nam
Năm là, gắn quy hoạch vùng du lịch với quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội nói chung nhằm bảo đảm phát triển du lịch và kinh tế bền vững.
Sáu là, cần có các đề án thiết thực về đào tạo nguồn nhân lực cho ngành
du lịch, sao cho để mỗi vùng quê, mỗi bản làng có đủ năng lực phát triển du
lịch
Bảy là, mở rộng mối liên kết giữa các hãng du lịch trong nước và quốc
tế với các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực du lịch ở các vùng nông thôn để
tăng lượt khách du lịch, nhận sự hỗ trợ về công nghệ, vốn đầu tư thêm cho
phát triển du lịch.
Tám là, tuyên truyền và cung cấp thông tin bằng nhiều phương thức
thích hợp để nâng cao dân trí vùng nông thôn, từ đó hòa chung với sự phát
triển, văn minh của các vùng đô thị, chủ động ngăn ngừa những luồng văn
hóa xấu, phá hoại của các thế lực thù địch
Chương 3: Những thành tựu đã đạt được
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã có bước chuyển dịch tích
cực theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa có nhu cầu thị
trường và có giá trị kinh tế cao. Tiếp tục bảo đảm tốt an ninh lương thực quốc
12
gia, tuy diện tích trồng lúa giảm (khoảng hơn 300 nghìn ha), để chuyển sang
nuôi trồng thủy sản và các cây trồng khác có giá trị cao hơn, nhưng sản lượng
lương thực vẫn tăng từ 34,5 triệu tấn (năm 2000) lên 39,12 triệu tấn (năm
2004), trong đó, sản lượng lúa tăng từ 32,5 lên 35,8 triệu tấn, bình quân mỗi
năm lương thực tăng hơn một triệu tấn. Hàng năm vẫn xuất khẩu khoảng 3,5-
4 triệu tấn gạo.
Diện tích, sản lượng cây công nghiệp tăng nhanh so với năm 2000, cao-
su diện tích tăng 9,5%, sản lượng tăng 37,6%; hồ tiêu diện tích tăng 83,2%,
sản lượng tăng 87,8%; hạt điều diện tích tăng 44,3%, sản lượng tăng 205,3%;
chè diện tích tăng 35,3%, sản lượng tăng 54,9%; diện tích cây ăn quả tăng
1,4 lần; bông vải diện tích tăng 42,5%, sản lượng tăng 57,4%; đậu tương diện
tích tăng 47,1%, sản lượng tăng 62,2%. Các loại cây công nghiệp có lợi thế
xuất khẩu hầu hết đều tăng về diện tích, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu.
Chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm; tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong
nông nghiệp tăng từ 19,3% lên 21,6%. Ðàn bò, nhất là bò sữa tăng nhanh, đạt
95 nghìn con, sản lượng sữa tươi tăng gấp 3 lần. Sản lượng thủy sản nuôi
trồng tăng 2,0 lần, sản lượ chế biến nông, lâm, thủy sản và ngành nghề nông
thôn: Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng trưởng
bình quân 12-14%/năm. Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp và ngành nghề nông
thôn tăng bình quân 15%/năm. Hiện cả nước có 2.971 làng nghề, khoảng 1,35
triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, với khoảng 1,4 triệu hộ, thu hút hơn 10
triệu lao động (trong đó có khoảng 1,5 triệu người làm hàng mỹ nghệ).s ản l ư
ợng khai th ác t ăng 1,2 lần
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng trưởng liên tục và đạt
mức cao (5,4%/năm, chỉ tiêu Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX đề ra là
4,8%/năm). Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2004 đạt gần
7 tỷ USD, tăng 1,5 lần so với năm 2000, trong đó nông, lâm sản tăng gần 1,5
lần, thủy sản tăng 1,6 lần. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt sản lượng
13
và giá trị lớn như: gạo, cà-phê, cao-su, hạt điều. Ðặc biệt, xuất khẩu đồ gỗ gia
dụng và lâm sản tăng mạnh, đạt hơn 1,2 tỷ USD, tăng gấp 3,3 lần so với năm
2000.
Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2004 trong tổng GDP của
cả nước, tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản đã giảm từ 24,53% xuống
21,76%; lao động nông nghiệp giảm từ 59,04% xuống 57,9%, lao động công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm khoảng 17%, dịch vụ chiếm 25,1%. Năm
2003, hộ thuần nông đã giảm còn 68,8%, hộ kiêm nghề tăng lên, chiếm 12,7%
và phi nông nghiệp 18,4%. Nguồn thu của hộ nông dân từ nông, lâm, ngư
nghiệp chiếm 77,5%; công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nông thôn đã dần
tăng lên, chiếm 22,5% tổng thu.
Trình độ khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, thủy sản từng
bước được nâng cao theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học,
phương thức canh tác tiên tiến.Ðến nay, có hơn 90% diện tích lúa, 80% diện
tích ngô, 60% diện tích mía, 100% diện tích điều trồng mới được sử dụng
giống mới. Ngành thủy sản đã sản xuất và đưa vào sản xuất một số loài thủy
sản có giá trị kinh tế cao. Nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp được cơ giới
hóa như: tưới nước, tuốt lúa, xay xát đạt hơn 80%, vận chuyển làm đất đạt
hơn 60%. Trong ngành thủy sản, tổng công suất tàu thuyền đánh bắt đạt hơn 4
triệu sức ngựa, một số cơ sở nuôi trồng thủy sản được trang bị các máy móc,
thiết bị bảo đảm cho công nghệ nuôi trồng tiên tiến.
Cả nước hiện có 72 nghìn trang trại, tăng bình quân 10%/năm, kinh tế
trang trại đã góp phần đáng kể vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Thành lập mới được 524 hợp tác xã nông nghiệp, chủ yếu hoạt động theo
hướng dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm, hiện có hơn 10 nghìn hợp tác xã ở nông
thôn (9.255 HTX nông nghiệp, hơn 500 HTX thủy sản, 800 quỹ tín dụng nhân
dân ) và hàng trăm nghìn tổ kinh tế hợp tác, so với năm 2000, số hợp tác xã
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét