Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

giải pháp cho các doanh nghiệp về xúc tiến việc làm, công tác tuyển dụng lao động nông nghiệp nông thôn vào sản xuất


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp cho các doanh nghiệp về xúc tiến việc làm, công tác tuyển dụng lao động nông nghiệp nông thôn vào sản xuất": http://123doc.vn/document/1049424-giai-phap-cho-cac-doanh-nghiep-ve-xuc-tien-viec-lam-cong-tac-tuyen-dung-lao-dong-nong-nghiep-nong-thon-vao-san-xuat.htm


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
- Trình độ chuyên môn không cao.
Do xuất phát từ làm nông nghiệp được truyền từ đời này qua đời khác,
do phong tục tập quán và điều kiện học tập ở nông thôn nên lao động ở khu
vực này vẫn chủ yếu làm việc trong ngành nông nghiệp, và họ ít được đào
tạo về chuyên môn. Vì vậy trong quá trình hội nhập của nền kinh tế trình
độ chuyên môn của lao động nông nghiệp nông thôn tăng lên rất ít so với
các khu vực khác.
II. Lao động nông thôn trong lĩnh vực nông nghiệp
1. Lao động sản xuất nông nghiệp
- Là những lao động chỉ tham gia sản xuất lương thực, hoặc chỉ lao
động trong các ngành nông nghiệp ở nông thôn. Đó là các ngành như trồng
trọt, chăn nuôi ở nông thôn. Những lao động này thường làm việc dựa vào
kinh nghiệm được truyền qua các thế hệ, vốn sản xuất ít và chủ yếu là đầu
tư ngắn hạn. Trình độ chuyên môn không cao, lao động chủ yếu dựa vào
sức khỏe. Vì lao động sản xuất nông nghiệp nên tính chất của lao động
nông nghiệp nông thôn cũng mang tính mùa vụ. Lực lượng lao động nông
nghiệp nông thôn cũng rất đông đảo.
2. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
- Nông nghiệp là ngành sản xuất có lịch sử lâu đời nhất.
Các hoạt động sản xuất nông nghiệp đã có từ hàng nghìn năm nay kể từ khi
con người bỏ săn bắn và hái lượm. Do tính chất lâu đời của nó mà nền kinh
tế nông nghiệp thường được nói đến như nền kinh tế truyền thống. Ngày
nay, mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại nhưng sản xuất nông
nghiệp ở nông thôn vẫn dựa vào những kinh nghiệm truyền thống được
truyền từ hàng trăm ngàn năm nay để sản xuất. Vì xã hội ở nông thôn mang
tính chất truyền thống quá lớn và xâu sắc như vậy nên rất khó thay đổi.
Nông nghiệp cũng là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho con người,
con người không thể thiếu những sản phẩm đó. Vì vậy ở bất cứ quốc gia
nào cũng phải có những chính sách để tự sản xuất các sản phẩm nông
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
nghiệp này hoặc là nhập khẩu lương thực. Nông nghiệp là ngành có lịch sử
lâu đời nhất so với các ngành khác nhưng việc sản xuất nông nghiệp lại
chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố khách quan không thể khắc phục
được.
- Sản xuất nông nghiệp chịu tác động của nhiều yếu tố, nhất là các
nhân tố khách quan.
Đầu tiên là đất đai, đất đai là nguồn tài nguyên không thể thiếu trong
sản xuất nông nghiệp, nó đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp.
Chất lượng của đất cũng ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng lương
thực hay hoa màu, nếu đất màu mỡ và phù hợp với loại cây được trồng thì
năng suất đạt được sẽ rất cao. Nhưng đất bạc màu và không phù hợp với
cây được trồng thì có thể sẽ không cho thu hoạch hoặc năng suất rất thấp.
Ngoài đất đai là yếu tố chủ đạo, thời tiết, khí hậu và nguồn nước sẵn có
cũng là nhân tố khách quan không thể thay đổi tác động đến sản xuất nông
nghiệp. Thời tiết thuận lợi sẽ làm nâng cao năng suất cây trồng và nâng cao
chất lượng của sản phẩm, vì vậy nó phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết và sản
xuất nông nghiệp cũng phải dựa vào những kinh nghiệm được truyền từ
hàng trăm nghìn năm ở từng vùng, với từng loại đất để có kế hoạch sản
xuất sao cho hiệu quả nhất. Cùng một loại cây trồng ở các vùng khác nhau,
thời tiết khác nhau thì phải có những kế hoạch sản xuất khác nhau để có thể
đạt được năng suất cao nhất.
- Chủ yếu sản xuất những sản phẩm thiết yếu.
Mặc dù phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên, nhưng sản phẩm của nông
nghiệp tạo ra có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó là sản phẩm thiết yếu
không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Sản phẩm của nông nghiệp
cũng là nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp như công nghiệp chế
biến… Với nhu cầu của gia tăng dân số, sản xuất lương thực ngày càng
càng cần phải nâng cao năng suất để đáp ứng nhu cầu của người dân. Vì
vậy sản xuất nông nghiệp có xu hướng ngày càng được chuyên môn hóa.
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
- Có xu hướng ngày càng được chuyên môn hóa.
Theo các lý thuyết về mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng thì khi
thu nhập tăng lên tỷ trọng sản phẩm thiết yếu sẽ giảm dần. Tỷ lệ lao động
cũng vậy, khi nền kinh tế chưa phát triển, nông nghiệp là ngành sử dụng
nhiều lao động nhất. Nhưng sau đó, khi nền kinh tế ngày càng phát triển,
nông nghiệp sẽ được chuyên môn hóa và ứng dụng các khoa học kỹ thuật
hiện đại cầu lao động cho sản xuất nông nghiệp sẽ giảm. Nông nghiệp lúc
này chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa cây trồng vật nuôi. Và khi xã hội
phát triển cao, nông nghiệp lúc này sẽ là nền nông nghiệp chuyên môn hóa,
nông nghiệp thương mại hiện đại.
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến lao động nông nghiệp nông thôn
1. Cung, cầu lao động nông nghiệp nông thôn
• Cung lao động nông nghiệp nông thôn
Cung lao động nông nghiệp nông thôn ngày càng tăng cả về quy mô và
cơ cấu. Cung lao động tăng sẽ làm áp lực việc làm tăng. Khu vực nông
thôn là khu vực có tỷ lệ gia tăng dân số nhanh nhất so với các khu vực
khác. Tỷ lệ gia tăng dân số ở khu vực nông thôn thường cao gấp đôi so với
thành thị. Khi dân số gia tăng, đồng thời với nó là số lao động nông nghiệp
nông thôn cũng tăng lên. Mà sản xuất ở khu vực nông thôn chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp thì bị giới hạn bởi các nguồn lực.
Vì vậy áp lực việc làm đối với nông thôn ngày càng tăng.
Cung lao động nông nghiệp nông thôn có cơ cấu thay đổi theo sự phát
triển của nền kinh tế và địa phương. Nhưng tốc độ thay đổi cơ cấu lao động
ở khu vực này chậm hơn so với các khu vực khác trong nền kinh tế. Đối
với thành thị, tỷ lệ gia tăng dân số chậm hơn so với các khu vực khác nên
cung lao động ở khu vực này không lớn như ở các vùng khác. Ngược lại,
đối với khu vực nông thôn tỷ lệ gia tăng dân số cao dẫn đến cung lao động
ở khu vực này cũng tăng nhanh và với số lượng lớn.
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
• Cầu về lao động nông nghiệp nông thôn
Cầu về lao động nông nghiệp nông thôn thì lại giảm do điều kiện sản
xuất nông nghiệp ngày càng khó khăn nhất là sản xuất nông nghiệp thuần
túy:
Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa làm đất sản xuất nông nghiệp
bị thu hẹp. Diện tích đất thì có hạn mà bất kỳ ngành nào trong nền kinh tế
quốc dân cũng cần đất để làm địa điểm sản xuất. Vì vậy đồng thời với sự
phát triển của các ngành khác nhau trong nền kinh tế mà diện tích đất sản
xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Với những diện tích đất nông
nghiệp bị thu hồi thì số lao động cần thiết cho sản xuất nông nghiệp giảm
đi. Vì vậy cầu lao động cho sản xuất nông nghiệp sẽ giảm khi quá trình
CNH – HĐH ảnh hưởng đến nông thôn. Đô thị hóa đất nước làm cho diện
tích đất nông nghiệp giảm đi, trong khi khoa học kỹ thuật lại ngày càng
phát triển, điều đó dẫn tới những lao động trước đây làm việc trong nông
nghiệp giờ đây sẽ không đủ việc làm trong nông nghiệp. Nhưng họ lại có
trình độ chuyên môn không cao, nên việc tìm kiếm việc làm trong các
ngành nghề khác càng khó khăn. Vì vậy khi đô thị hóa gia tăng, áp lực việc
làm cho người lao động nông nghiệp nông thôn càng lớn. Vì vậy chính
sách của nhà nước cần phải có những chương trình đào tạo nghề và hướng
nghiệp cho những lao động đang trong nguy cơ thất nghiệp này.
Chính sách của nhà nước chưa thực sự hướng đến mục tiêu giải quyết
việc làm cho người lao động. Mặc dù cũng có các chính sách được đặt ra
để giải quyết việc làm cho người lao động, song các chính sách đó chưa
được thực hiện hiệu quả và chưa hướng đến các mục tiêu chính là giải
quyết việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, các chính sách này thực
hiện chưa thực sự hiệu quả, nguồn vốn cho các chính sách vẫn hạn chế,
hiệu quả sử dụng vốn thấp. Một số các chính sách của nhà nước và địa
phương ảnh hưởng xấu đến cơ hội tạo việc làm cho người lao động nông
nghiệp nông thôn. Ví dụ như các chính sách phân bổ đất không hỗ trợ cho
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
nông dân tích tụ đất phát triển kinh tế trang trại, hay nhà nước thu hồi đất
để phát triển các khu công nghiệp, trong khi các khu công nghiệp đó lại
không sử dụng lao động nông nghiệp nông thôn ở khu vực này… Vì vậy để
nền kinh tế phát triển một cách bền vững thì nhà nước cần quan tâm hơn
đến lao động nông nghiệp ở nông thôn, giải quyết việc làm cho lao động ở
khu vực này đồng thời nâng cao đời sống của nhân dân ở đây.
Do trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tăng, điều này ảnh hưởng đến
cầu lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm. Khoa
học phát triển, trình độ công nghệ, kỹ thuật được nâng cao nên các công
việc nặng nhọc trong sản xuất dần được thay thế bằng máy móc. Vì vậy
người lao động trong sản xuất nông nghiệp được giải phóng sức lao động.
Công việc nặng nhọc, cần đến sức khỏe đã được sự trợ giúp của máy móc,
cầu về lao động giảm mà năng suất cây trồng vẫn được đảm bảo. Vì vậy
lao động nông nghiệp cũng cần nắm bắt được những khoa học kỹ thuật mới
để có thể ứng dụng vào sản xuất, thời gian dư thừa có thể phát triển các
ngành nghề khác để tăng thu nhập…
2. Các chính sách về lao động nông nghiệp nông thôn
• Các chính sách đất đai
- Chính sách đất đai hiện nay có tác động đến sản xuất nông nghiệp.
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là nguồn lực bắt buộc phải có, vì vậy
nhà nước và các cơ quan chức năng phải có chính sách phù hợp để quá
trình CNH – HĐH đất nước không ảnh hưởng xấu đến diện tích và chất
lượng của đất để tránh ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nông thôn.
Chính sách đất đai vừa phải phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội
của đất nước và địa phương lại vừa phát đảm bảo nông nghiệp phát triển
một cách bền vững. Nếu chính sách đất đai ảnh hưởng đến sản xuất nông
nghiệp quá lớn, làm diện tích sản xuất nông nghiệp giảm đi làm nông
nghiệp suy giảm thì sẽ dẫn đến sản phẩm nông nghiệp tạo ra cũng giảm
không đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội. Điều này không những làm nền kinh
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
tế không những không đảm bảo được mục tiêu phát triển mà còn ảnh
hưởng đến nền kinh tế trong dài hạn. Vì vậy bên cạnh chính sách đất đai
trong quá trình CNH – HĐH đất nước thì nhà nước cần có những chính
sách đi kèm để sự phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như sự phát
triển của ngành nông nghiệp nói riêng được bền vững.
- Chính sách đền bù phải thỏa đáng để người nông dân mất đất có thể
chuyển đổi ngành nghề sản xuất mà không bị ảnh hưởng nhiều đến đời
sống và sản xuất. Chính sách đền bù phải đảm bảo được rằng người nông
dân sau khi được đền bù có thể tự tìm việc làm hoặc tự phát triển ngành
nghề mới để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình. Để làm được
điều này, thì sau khi thu hồi đất nông nghiệp để phát triển ngành nghề khác
thì nhà nước cần có những chương trình đào tạo nghề, chính sách tạo việc
làm mới, khuyến khích phát triển các ngành nghề mới cho nông dân sau khi
mất đất làm việc. Ví dụ như các chương trình cho vay vốn phát triển chăn
nuôi, hỗ trợ các gia đình phát triển nông nghiệp thương mại, phát triển các
mô hình trang trại…
• Các chính sách hỗ trợ về vốn và công nghệ
- Các chương trình hỗ trợ về vốn và công nghệ cho nông dân sẽ giúp
cho sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn, góp
phần phát triển ngành nông nghiệp ngày càng bền vững. Các chương trình
hỗ trợ vốn cho nông nghiệp giúp nâng cao kỹ thuật sản xuất, giải phóng sức
lao động cho nông dân và tiết kiệm thời gian cho người lao động. Các
chương trình hỗ trợ vốn sẽ giúp nông dân có thể phát triển mô hình kinh tế
trang trại hoặc phát triển các ngành nông nghiệp khác mà việc sản xuất
nông nghiệp vẫn hiệu quả.
- Các chương trình đầu tư vào nông nghiệp chủ yếu để chi cho mục
tiêu xã hội, xóa đói và thủy lợi. Mặc dù việc đầu tư vào nông nghiệp là rất
cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Song hiện
nay vốn đầu tư cho nông nghiệp chủ yếu là đầu tư vào xóa đói giảm nghèo
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
và đảm bảo mục tiêu như công bằng xã hội… Vì các đầu tư vào nông
nghiệp chủ yếu là chi cho mục tiêu xã hội, xóa đói giảm nghèo nên số
lượng vốn đầu tư ít và hiệu quả của đầu tư không cao. Hơn nữa các khoản
chi cho nông nghiệp thường phải qua rất nhiều cơ quan, đoàn thể… dẫn
đến tăng chi phí và thất thoát khiến nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp đã
nhỏ lại giảm hơn nữa. Hiệu quả của đầu tư vào nông nghiệp không cao
hoặc không có lãi đã làm mất uy tín đối với các nhà đầu tư. Điều này làm
cho đầu tư vào nông nghiệp không đa dạng và tỷ lệ gia tăng cũng giảm. Vì
vậy nhà nước và các địa phương cần có các chương trình giới thiệu và
khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Các
chương trình này cần có mục tiêu để nhà đầu tư hiểu được lợi ích và hiệu
quả của đầu tư để họ có động lực tham gia đầu tư vào khu vực này.
• Các hỗ chính sách hỗ trợ thị trường đầu ra
- Chính sách này có tác động giúp đời sống của nhân dân không bấp
bênh, Sau khi các chính sách hỗ trợ sản xuất cho sản xuất nông nghiệp đã
thành công, kết quả tất yếu là cần phải tìm kiếm thị trường đầu ra cho các
sản phẩm của nông nghiệp, tránh tình trạng nông dân được mùa thì lại chịu
cảnh mất giá còn mất mùa thì lại không có sản phẩm để bán trong khi giá
cả lại cao. Thực tế hiện nay tình trạng này thường xuyên xảy ra ở các nước
và ở cả nước ta. Lý do của tình trạng này là do nhà nước chưa dự báo được
chính xác tình hình cung cầu về lương thực cũng như các sản phẩm nông
nghiệp của cả nước dẫn đến tình trạng lúc được mùa thì dư cung còn khi
mất mùa thì lại thiếu cung (không đáp ứng đủ cầu).
- Chính sách hỗ trợ thị trường đầu ra cho nông nghiệp cũng là một
hình thức phát triển ngoại thương của đất nước hoặc là tiền đề để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Khi nhà nước có những chính sách
phát triển đầu ra cho nông nghiệp, các chính sách đó có thể là mở rộng thị
trường xuất khẩu sang các nước trong khu vực hoặc ra thị trường quốc tế,
các chính sách này sẽ giúp thúc đẩy quan hệ của nước ta với các nước trên
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
thế giới và có thể là tiền đề cho phát triển xuất nhập khẩu các mặt hàng
khác (hay phát triển ngoại thương của nước ta với các nước trên thế giới).
Nó cũng là tiền đề để nền kinh tế chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực.
Theo phân tích của các nhà kinh tế, khi nông nghiệp phát triển là nguyên
liệu cho các ngành công nghiệp và dịch vụ sử dụng sản phẩm của nông
nghiệp. Đó là các ngành công nghiệp sử dụng các sản phẩm nông nghiệp
như công nghiệp chế biến, công nghiệp hóa chất như các ngành sản xuất
thuốc trừ sâu, công nghiệp cơ khí sản xuất máy móc, trang thiết bị sản xuất
nông nghiệp… Khi các ngành này phát triển nó sẽ kéo theo các ngành khác
trong nền kinh tế phát triển dựa vào mối quan hệ chiều dọc và chiều ngang.
• Các chính sách khuyến khích phát triển các loại hình kinh tế
trong nông nghiệp nông thôn
- Phát triển kinh tế trang trại, thủy sản, hay lâm nghiệp, Nhà nước
cũng có những chính sách nhằm phát triển các loại hình kinh tế trong nông
nghiệp nông thôn như phát triển kinh tế trang trại, nuôi trồng thủy sản…
Điều đó được thể hiện qua các chương trình cho vay vốn để phát triển các
loại hình kinh tế nông nghiệp. Các chương trình giao đất, giao rừng cho các
hộ gia đình quản lý, các chương trình hỗ trợ chăn nuôi như hỗ trợ tiền mua
giống bê, lợn, gia cầm để nâng cao năng suất. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ
thuật chăn nuôi… Ngoài ra còn có các chương trình hỗ trợ về nuôi trồng
thủy sản, hỗ trợ về thiết kế, quy hoạch, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để
có thể chuyển các vùng trũng sang nuôi trồng thủy sản. Hơn nữa các
chương trình này giúp nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực
và phát triển một cách bền vững, nó vừa giúp đa dạng hóa cơ cấu ngành
nghề cũng như thu nhập cho lao động nông nghiệp nông thôn.
- Theo xu hướng của sự phát triển kinh tế, khi thu nhập của người dân
tăng lên, nhu cầu về lương thực, thực phẩm thiết yếu cũng giảm đi. Vì vậy
nông nghiệp cũng cần sự chuyển dịch phù hợp với quá trình đó. Do đó
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngành nông nghiệp ở nông thôn là điều
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
tất yếu xảy ra, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề nông nghiệp cũng giúp nông
dân tăng thu nhập và trình độ sản xuất cũng tăng lên. Khi nông nghiệp ở
nông thôn phát triển sẽ kéo theo các ngành khác ở nông thôn cũng phát
triển theo. Sự chuyển dịch cơ cấu ở nông thôn sẽ có đóng góp lớn vào sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước.
• Các chính sách đào tạo nghề
- Lao động nông thôn có trình độ chuyên môn thường thấp so với các
khu vực khác nên vì vậy những chương trình đào tạo nghề này cho nông
dân là rất cần thiết, đặc biệt là cho lao động nông dân trẻ sẽ giúp nâng cao
trình độ sản xuất của người dân và giúp người dân nông thôn phát huy
được tính năng động, sáng tạo trong sản xuất. Theo nghiên cứu thì trình độ
chuyên môn của lao động cũng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao
năng suất của sản xuất. Ở những vùng lao động có chuyên môn thấp, năng
suất sản xuất ở các vùng này thường thấp hơn các vùng khác có trình độ lao
động cao hơn. Các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp
nông thôn sẽ không chỉ giúp tăng trình độ sản xuất của lao động tại đây mà
còn giúp xã hội ở nông thôn phát triển theo hướng tích cực, tránh các tác
động xấu của kinh tế thị trường…
- Chính sách đào tạo nghề là một giải pháp giúp giải quyết việc làm
cho người lao động thất nghiệp ở nông thôn. Khi lao động nông nghiệp
nông thôn được đào tạo nghề, những lao động này sẽ có trình độ chuyên
môn, các lao động này sẽ tự tìm kiếm được việc làm hoặc qua các chương
trình tuyển dụng, giới thiệu việc làm họ sẽ được nhận vào làm việc tại các
công ty, doanh nghiệp dựa vào chuyên môn mà họ đã được học. Khi trình
độ lao động tăng lên cơ hội làm việc của họ cũng tăng. Khi đó lao động thất
nghiệp ở nông thôn sẽ giảm bớt. Chính sách đào tạo nghề là một chính sách
có tác động tốt đến nông thôn và lao động nông thôn, vì vậy nó cần được
phát huy và quan tâm thực hiện.
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Vũ Thị Tuyết Mai
3. Các yếu tố khách quan.
Các yếu tố khách quan mà lao động nông nghiệp nông thôn thường bị
ảnh hưởng đó là:
- Đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu: đó là tính chất của đất, thổ nhưỡng
ở vùng, nó là yếu tố dễ di chuyển trong công nghiệp hay dịch vụ, nhưng lại
khó di chuyển trong nông nghiệp. Ở các vùng có tính chất thổ nhưỡng tốt
và diện tích đất lớn sẽ phát triển ngành nông nghiệp, và tại vùng này sẽ thu
hút được nhiều lao động nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên ở các vùng có
tính chất thổ nhưỡng không tốt thì ở vùng này sản xuất nông nghiệp không
phát triển, không yêu cầu nhiều lao động nông nghiệp. Khi đó tại vùng này
lao động nông thôn sẽ phải tự tìm ra hướng giải quyết việc làm cho mình
bằng cách tham gia vào các loại hình kinh tế khác hoặc đến các vùng khác
để làm việc. Như vậy ta thấy chất lượng của đất hay diện tích đất có thể
canh tác ảnh hưởng rất lớn đến số lượng cũng như chất lượng lao động
nông nghiệp nông thôn. Đồng thời cũng ảnh hưởng lớn đến thu nhập của
người lao động, tỷ lệ thất nghiệp cũng như có việc làm tại đây. Thu nhập
của người lao động và tỷ lệ thất nghiệp cũng là nguyên nhân trực tiếp ảnh
hưởng đến sự ổn định hay bất ổn ở địa phương.
- Các yếu tố như nguồn nước, khí hậu cũng tác động mạnh đến sản
xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên như thiên tai lũ lụt sẽ ảnh hưởng đến
sản xuất làm giảm năng suất của cây trồng. Ngành nông nghiệp ở những
vùng có nguồn nước và khí hậu thuận lợi sẽ phát triển, nếu đất đai tại đây
có tính chất không phù hợp với một số loại cây trồng thì con người có thể
tìm ra các loại cây trồng phù hợp để sản xuất và mang lại năng suất cao
nhất. Ngành nông nghiệp tại đây phát triển sẽ mang lại thu nhập, và việc
làm cho lao động nông nghiệp nông thôn tại đây. Góp phần lớn vào việc
tạo sự ổn định trong đời sống xã hội ở nông thôn. Như vậy khí hậu hay
nguồn nước cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự ổn định trong đời sống
của nông thôn.
SV: Nguyễn Thị Hằng Lớp: KTPT 47B-QN
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét