GVHD : TS: Châu Quốc An 5 Chuyên Đề Thực Tập
LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình - hạt nhân cốt lõi của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người,
là môi trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào
việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì
gia đình lại càng tốt hơn. Sự tác động và chi phối lẫn nhau giữa gia đình và xã
hội được khẳng định rõ nét trong hôn nhân. Bởi lẽ, nền tảng vững chắc để xây
dựng gia đình chủ yếu là xuất phát từ quan hệ hôn nhân
Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật độc lập trong hệ thống
pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam , gồm tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh các quan hệ Hôn nhân và gia đình và các vấn đề khác liên
quan đến Hôn nhân và gia đình. Hay nói cách khac luật Hôn nhân và gia đình
là một văn bản quy phạm pháp luật được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam
ban hành quy định chế độ Hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của công dân,
Nhà nước và Xã hội trong việc xây dựng, củng cố Hôn nhân và gia đình Việt
Nam.
Xuất phát từ việc đánh giá đúng vai trò quan trọng của Hôn nhân và
Gia đình trong mọi thời kì, Đảng và Nhà nước ta luôn giành sự quan tâm to
lớn đối với vấn đề Hôn nhân và gia đình và sớm đã có chủ trương thể chế hóa
bằng pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng về vấn đề này. Sau khi cách
mạng tháng 8 thành công Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, trên cơ
sở hiến pháp năm 1959, một trong những đạo Luật được ban hành sớm nhất là
Luật Hôn nhân và Gia đình công cụ góp phần quan trọng để Nhà nước xây
dựng và thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản:
Xóa bỏ chế độ Hôn nhân và gia đình phong kiến, lạc hậu.
Xây dựng chế độ Hôn nhân và gia đình mới Xã Hội Chủ Nghĩa, góp
phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng trong phạm vi cả nước.
Tùy từng giai đoạn phát triển của Xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình có
những nhiệm vụ củ thể khác nhau đáp ứng những đòi hỏi của giai đoạn lịch
sử đó nhằm phục vụ cho việc xây dựng những quan hệ Xã hội mới của chế độ
Xã hội chủ nghĩa.
Chính vì vậy sau khi Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 ra đời thì nhà
nước ta đã hai lần thay đổi bổ sung một số nội dung cơ bản của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1959. Đó là vào năm 1986 năm đầu của thời kì đổi
mới,qua hơn 13 năm thi hành, những quy định pháp luật chung của Luật vẫn
được phát huy hiệu lực trong đời sống Xã hội, được nhân dân tôn trọng và
chấp hành. Tuy nhiên, bên cạnh Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng
bộc lộ những vấn đề bất cập cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với
tình hình thực tế. Cho nên năm 2000 thì Nhà nước ta đã ban hành Luật Hôn
GVHD : TS: Châu Quốc An 6 Chuyên Đề Thực Tập
nhân và gia đình năm 2000 để thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập - quốc tế hoá ngày càng được mở
rộng thì hòa vào sự phát triển của nền kinh tế, quan hệ hôn nhân cũng được
hình thành dưới nhiều góc độ khác nhau của xã hội, dựa trên những nguyên
tắc nhất định. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc tôn giáo,
giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt
Nam và người nước ngoài, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ trên cơ
sở nguyên tắc tiến bộ, một vợ , một chồng bình đẳng.
Cơ sở thiết lập quan hệ hôn nhân hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi
lãnh thổ quốc gia, chịu tác động và chi phối bởi các yếu tố nước ngoài. Do
tính chất phức tạp vốn có của quan hệ này, nhà nước đã kịp thời thừa nhận và
bảo vệ bằng cách thông qua hình thức ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật để điều chỉnh và có những sửa đổi bổ sung để hoàn thiện nội dung của
chế định trên thực tế. Cụ thể, những văn bản ra đời trước như Luật Hôn nhân
và Gia đình năm 1986, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài, và hiện nay là Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính Phủ quy định
chi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 về quan hệ
Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002. Đây là cơ sở pháp lý
vững chắc hướng các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài phát huy tối đa quyền tự do bình đẳng trong quan hệ hôn nhân và
đảm bảo trật tự cũng như sự ổn định xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình áp
dụng pháp luật đã bộc lộ không ít những thiếu sót và bất cập, ảnh hưởng lớn
đến cuộc sống của chủ thể trong quan hệ hôn nhân và những giá trị đạo đức
truyền thống của xã hội xưa nay, kết hôn có yếu tố nước ngoài một mặt thể
hiện ý nghĩa tích cực, thúc đẩy giao lưu hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực
nhưng vẫn không thể phủ nhận những hạn chế đang tồn tại trong trong đó.
Thực tiễn cho thấy qua hơn mười một năm áp dụng Luật Hôn nhân
và gia đình ở nước ta, bên cạnh những điểm phù hợp thì Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 còn có môt số điểm hạn chế nhất định
Là một sinh viên được đi thực tiễn ở tòa án nhân dân thành phố Hồ
Chí Minh tôi muốn tìm hiểu về các vấn đề thuộc lĩnh vực Hôn nhân và gia
đình đặc biệt là về các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Từ suy nghĩ này của bản thân tôi mong muốn được học tập, tìm hiểu
và vận dụng những kiến thức đã biết vào thực tế để góp phần nhỏ bé vào việc
xây dựng, củng cố chế độ Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Chính vì vậy tôi
quyết định chọn đề tài “Thực trạng giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước
GVHD : TS: Châu Quốc An 7 Chuyên Đề Thực Tập
ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh” làm bài viết thu hoạch thực tập tốt
nghiệp cho bản thân mình.
Trong phạm vi bài báo cáo này tôi xin phân tích một số quy định của pháp
luật hiện hành để cho thấy được những khó khăn và vướng mắc trong việc áp
dụng và thực trạng của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay tại thành
phố Hồ Chí Minh. Trên những cơ sở đó sẽ tổng kết và rút ra những tồn tại và
giải pháp để từ đó tiến tới khắc phục vấn đề và từ những tài liệu, thực tiễn tại
tòa có một số kiến nghị và đề xuất.
Về kết cấu đề tài được xây dựng với hai chương :
• Chương 1. Những quy định pháp luật về Hôn nhân và gia đình
• Chương 2. Thực tiễn và áp dụng pháp luật Hôn nhân và gia đình
và những vướng mắc-kiến nghị
Trong quá trình thực hiện, bài viết khó thể tránh khỏi những thiếu sót
. Rất mong các thầy giáo, cô giáo cùng với bạn đọc tham khảo và góp ý để bài
viết được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
GVHD : TS: Châu Quốc An 8 Chuyên Đề Thực Tập
CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.
1.1. Khái niệm và đặc trưng pháp lý về vụ án Hôn nhân và gia đình.
1.1.1. khái niệm về vụ án Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Vụ án hôn nhân và gia đình là những việc phát sinh tại Tòa án do các đương
sự khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, hay
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp và mối quan hệ
hôn nhân và gia đình này có yếu tố nước ngoài.
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là việc kết hôn, nhận cha,
mẹ, con và việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau và giữa công dân
Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
- Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam
cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài, không kể người đó đã nhập
quốc tịch nước ngoài hay chưa.
- Công dân Việt Nam đang tạm trú có thời hạn ở nước ngoài (nhằm mục đích
công tác, học tập, lao động .) hoặc đã hết thời hạn tạm trú ở nước ngoài mà
không được nước ngoài cho phép cư trú thì không thuộc diện “định cư” ở
nước ngoài (sau đây gọi là công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài). Việc kết
hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam tạm trú ở
nước ngoài với nhau hoặc với công dân Việt Nam thường trú ở trong nước.
Vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài xảy ra khi các quan hệ trên
sảy ra tranh chấp giữa quyền và nghĩa vụ của các bên và có đơn khởi kiện ra
tòa có thẩm quyền và được tòa thụ lý.
1.1.2. Đặc trưng pháp lý về vụ án Hôn nhân và gia đình có yêu tố
nước ngoài
Có tranh chấp và phải được tòa án thụ lý thì mới phát sinh vụ án
Cuộc sống gia đình thường xảy ra mẫu thuẫn, tranh cãi, thậm chí bạo lực gia
đình… Những mâu thuẫn này ngày càng trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và để giải quyết các mâu
thẫn đó thì các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình đó khởi kiện ra tòa án
để yêu cầu giải quyết tranh chấp cần giải quyết
Khởi kiện dân sự về hôn nhân gia đình là những hoạt động trong quá trình tố
tụng về Hôn nhân gia đình bao gồm: Khởi kiện Ly hôn, Phân chia tài sản vợ -
chồng, Chia di sản thừa kế hoặc các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình
như: Yêu cầu xác định cha mẹ cho con, Yêu cầu xác định con cho cha mẹ,
Yêu cầu tuyên bố một người đã chết, mất tích … và các Yêu cầu khởi kiện
khác có yếu tố Hôn nhân gia đình.
GVHD : TS: Châu Quốc An 9 Chuyên Đề Thực Tập
Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, đương sự có quyền khởi kiện để
Tòa án giải quyết vụ án dân sự và quyền yêu cầu để Tòa án giải quyết các
việc dân sự. các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình có mâu thuẫn
phát sinh không thể giải quyết có đơn yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp.
Như vậy, khi muốn Tòa án giải quyết một tranh chấp, các bên phải làm đơn
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đó gửi tới tòa án nhân dân có
thẩm quyền. Sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu Thẩm
phán được phân công xem xét đơn khởi kiện xét thấy vụ án hành chính thuộc
thẩm quyền giải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền
tạm ứng án phí; trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án
phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi
kiện biết về việc thụ lý vụ án. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền
tạm ứng án phí. Toà án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên
lai nộp tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không
phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông
báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý.” vụ án hôn nhân và gia đình phát
sinh khi các yêu cầu giải quyết đó được tòa án ra quyết định thụ lý.
Tranh chấp trong quan hệ hôn nhân và gia đình là mâu thuẫn giữa quyền và
nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Tranh chấp Hôn nhân gia đình là nguyên nhân cơ bản dẫn tới hậu quả ly hôn.
Một số dạng tranh chấp chủ yếu như tranh chấp về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng chủ yếu mọi tranh chấp về hôn nhân gia
đình xảy ra khi hôn nhân tan vỡ. Tranh chấp hôn nhân gia đình xảy ra khi mọi
thành viên trong gia đình không thống nhất giải quyết được các vấn đề về tài
sản, con cái .
Tranh chấp hôn nhân gia đình là một lĩnh vực có thể nói là rất phức tạp, liên
quan đến nhiều cá nhân, nhiều thế hệ. Đơn giản vì ai cũng có gia đình ( cha
mẹ, vợ chồng, con cái) và mọi sự biến động liên quan đến gia đình đều làm
phát sinh hàng loạt các vấn đề pháp lý phức tạp.
Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình:
- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ
- Tranh chấp về cấp dưỡng.
- Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định
Chủ thể trong vụ án hôn nhân và gia đình.
GVHD : TS: Châu Quốc An 10 Chuyên Đề Thực Tập
Chủ thể tham gia vào quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài rất đa dạng bao
gồm một trong những đối tượng sau:
- Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm: Công
dân nước ngoài là người không quốc tịch. Trên cơ sở kế thừa những quy định
của pháp luật trước đó, Nghị định số 68/2002/NĐ- CP ngày 10/7/2002 của
Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 về quan hệ một cách cụ thể bằng cách liệt kê rõ ràng. Trong
đó:
+ Công dân nước ngoài được hiểu là người có quốc tịch nước ngoài, không
phải là người có quốc tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
+ Người không quốc tịch là người không có quốc tịch của bất kỳ quốc gia
nào.
Cả hai đối tượng nêu trên đều được Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam điều
chỉnh trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, không có sự phân biệt khi
xác lập quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau.
- Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và người
không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam (khoản 2 điều 9
Nghị định 68). Do điều kiện cuộc sống hay tính chất công việc họ đang làm
mà những người này đã đến và sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Và theo đó
một nhu cầu hoàn toàn có khả năng phát sinh đó chính là việc đăng ký kết
hôn. Những đối tượng đó sẽ trở thành chủ thể trong vụ án hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài khi họ có yêu cầu giải quyết tại cơ quan có thẩm
quyền tại Việt Nam.
- Ngoài ra, những công dân Việt Nam ra nước ngoài sinh sống một cách hợp
pháp và kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại cũng được đặt ra
và xem đây là một trong những trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
Khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp tại cơ quan có thẩm quyền thì đây là vụ
án hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Căn cứ để xác lập mối quan hệ hôn nhân ở
đây là theo pháp luật nước ngoài mặc dù chủ thể tham gia là người Việt Nam.
Tóm lại, vụ án hôn nhân có yếu tố nước ngoài được hiểu là là việc giải quyết
tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật về điều kiện
có yêu cầu giải quyết giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, giữa
người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, và công dân Việt Nam
với nhau tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.
Quan hệ này được quy định cụ thể trong pháp luật hiện hành, cụ thể là Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 và hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 68 và
Nghị định số 69 của Chính phủ. Tạo cơ sở pháp lý để điều chỉnh các quan hệ
mới phát sinh, đảm bảo sự ổn định và trật tự xã hội.
GVHD : TS: Châu Quốc An 11 Chuyên Đề Thực Tập
1.2. Những quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp có yêu tố nước
ngoài.
1.2.1. Căn cứ phát sinh vụ án hôn nhân gia đình.
1.2.1.1. Về chủ thể khởi kiện trong vụ án hôn nhân gia đình.
Địa vị tố tụng của mỗi đương sự trong một vụ kiện phản ánh quan hệ giữa các
đương sự với nhau trong một quan hệ pháp luật nhất định nào đó: người có
quyền lợi bị xâm phạm ra trước Toà án với tư cách là nguyên đơn và người có
nghĩa vụ liên quan hoặc phải chịu trách nhiệm tham gia vụ kiện ở vị trí bị đơn
Chủ thể khởi kiện là một trong hai bên của mối quan hệ hôn nhân có đơn yêu
cầu giải quyết tranh chấp, nguyên đơn trong vụ kiện yêu cầu ly hôn là vợ hoặc
người chồng ; người có yêu cầu trong việc huỷ hôn nhân trái pháp luật, không
công nhận quan hệ vợ chồng chỉ thuộc về các bên có quan hệ hôn nhân; người
yêu cầu thực thụ với tư cách là đương sự trong việc chấm dứt quan hệ nuôi
con nuôi là người con nuôi đã thành niên hoặc cha, mẹ nuôi ; nguyên đơn
trong vụ kiện xác định cha, mẹ cho con là người con và ngược lại, nguyên
đơn là người cha, người mẹ trong vụ kiện xác định con cho cha, mẹ ; người
con chưa thành niên là đương sự với tư cách người có yêu cầu trong việc yêu
cầu hạn chế quyền của mẹ, cha đối với con chưa thành niên. có thể là người
quốc tịch việt nam, nước ngoài, chủ thể này nộp đơn yêu cầu tại giải quyết tại
việt nam, hay bắt buộc phải giải quyết theo quy định pháp luật việt nam
1.2.1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước
ngoài
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế thì các
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra ngày càng tăng, kéo theo đó là các
tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều. Khi một tranh chấp
dân sự có yếu tố nước ngoài được khởi kiện tại Tòa án của một quốc gia, vấn
đề đầu tiên là Tòa án phải xác định xem mình có thẩm quyền thụ lý giải quyết
hay không? Ở Việt Nam, thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài của Tòa án trước hết được xác định theo các điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên; trong trường hợp không có điều ước quốc tế điều
chỉnh thì xác định theo các quy định của Bộ luật Dân sự; Chương XXXI,
XXXV của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Đặc biệt, Khoản 2, Điều 410
của Bộ luật Tố tụng dân sự đã có những quy định chung về thẩm quyền của
Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương huỷ việc kết hôn trái
pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu
tố nước ngoài, xem xét việc công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết
định về hôn nhân và gia đình của Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác
GVHD : TS: Châu Quốc An 12 Chuyên Đề Thực Tập
của nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp
luật Việt Nam.
Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công
dân Việt Nam huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ,
con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên
giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với
Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt
Nam.
1.2.1.3. Về hình thức đơn khởi kiện
Khởi kiện dân sự về hôn nhân gia đình là những hoạt động trong quá trình tố
tụng về Hôn nhân gia đình bao gồm: Khởi kiện Ly hôn, Phân chia tài sản vợ -
chồng, Chia di sản thừa kế hoặc các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình
như: Yêu cầu xác định cha mẹ cho con, Yêu cầu xác định con cho cha mẹ,
Yêu cầu tuyên bố một người đã chết, mất tích … và các Yêu cầu khởi kiện
khác có yếu tố Hôn nhân gia đình. Để khởi kiện một vụ án mà được tòa án thụ
lý đương sự phải làm đơn theo đúng thủ tục theo quy định của pháp với hình
thức và nội dung sau:
• Hình thức, nội dung đơn khởi kiện
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.
Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
- Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
- Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;
- Tên, địa chỉ của người bị kiện;
- Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;
- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;
- Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp
pháp;
- Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết
vụ án;
- Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức
khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng
dấu vào phần cuối đơn.
1.2.1.4. Về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí
GVHD : TS: Châu Quốc An 13 Chuyên Đề Thực Tập
Tiền tạm ứng án phí gồm có tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm.
Việc nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
Số tiền đương sự phải nộp ngân sách nhà nước khi khởi kiện được gọi là tạm
ứng án phí dân sự sơ thẩm.
Theo pháp lệnh án phí lệ phí năm 2009, nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu đối
với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
phải nộp tiền tạm ứng án phí trừ trường hợp họ được miễn án phí hoặc được
miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp vụ án có nhiều nguyên đơn mà mỗi nguyên đơn có yêu cầu độc
lập thì mỗi nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của
mỗi người; nếu các nguyên đơn cùng chung một yêu cầu thì các nguyên đơn
phải nộp chung tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp vụ án có nhiều bị đơn mà mỗi bị đơn có yêu phản tố độc lập thì
mỗi bị đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của mỗi người;
nếu các bị đơn cùng chung một yêu cầu phản tố thì các bị đơn phải nộp chung
tiền tạm ứng án phí.
Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giá
ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự
sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự
sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị
tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết.
Nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn một tháng kể từ ngày
nộp đơn, trừ trường hợp được miễn án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng
án phí. Toà án có thể gia hạn nộp tiền tạm ứng án phí một tháng. Hết thời hạn
đó mà nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng án phí thì toà án không thụ lý vụ
án.
Người đã nộp tiền tạm ứng án phí được trả lại toàn bộ, nếu theo quyết định
của toà án họ không phải chịu án phí hoặc được trả lại phần chênh lệch nếu
theo quyết định của toà án họ phải chịu án phí ít hơn số tiền tạm ứng án phí
mà họ đã nộp.
Người đã nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm nếu rút đơn khởi kiện khi mở phiên
toà sơ thẩm thì được trả lại năm mươi phần trăm (50%) số tiền tạm ứng án phí
đã nộp
Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự
sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án
về việc nộp tiền tạm ứng án phí.
GVHD : TS: Châu Quốc An 14 Chuyên Đề Thực Tập
Việc nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm
Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo theo mức án phí dân sự phúc thẩm , trừ
trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp án phí.
Khi nhận đơn kháng cáo toà án phải báo cho người kháng cáo biết số tiền tạm
ứng án phí dân sự phúc thảam họ phải nộp, thời hạn nộp và hậu quả pháp lý
của việc không nộp hoặc nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm không
đúng hạn. Nếu đã được thông báo hợp lệ mà người kháng cáo không nộp đủ
tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm hoặc nộp đủ nhưng không đúng hạn thì
coi như không kháng cáo. Tuy nhiên, đối với những trường hợp người kháng
cáo nộp tiền tạm ứng án phí quá hạn mà có lý do chính đáng thì có thể được
toà án cấp phúc thẩm xét chấp nhận.
Người đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nếu rút đơn kháng cáo trước khi
mở phiên toà phúc thẩm thì được trả lại 50% số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Tiền tạm ứng án phí được nộp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để gửi
vào tài khoản tạm giữ mở tại kho bạc nhà nước và được rút ra để thi hành án
theo quyết định của Toà án.
Người đã nộp tiền tạm ứng án phí phải chịu án phí thì ngay sau khi bản án,
quyết định của Toà án có hiệu lực thi hành, số tiền tạm ứng đã thu được phải
được nộp vào ngân sách nhà nước.
Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí được hoàn trả một phần
hoặc toàn bộ số tiền đã nộp theo bản án, quyết định của Toà án thì cơ quan thi
hành án đã thu tiền tạm ứng án phí phải làm thủ tục trả lại tiền cho họ.
Trong trường hợp việc giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ thì tiền tạm ứng án phí
đã nộp được xử lý khi vụ án được tiếp tục giải quyết.
1.2.2 Căn cứ xác định vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố có nước ngoài
1.2.2.1. Về đương sự
Trong quá trình giải quyết vụ án thì đương sự là chủ thể không thể thiếu.
đương sự được hiểu là người, là đối tượng trong một sự việc nào đó được đưa
ra giải quyết. Như vậy theo nghĩa chung nhất thì đương sự trong vụ án hôn
nhân gia đình là người, là đối tượng trong một vụ việc nào đó được đưa ra
giải quyết trong cuộc sống hôn nhân.
Đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình khá phong phú, đa dạng gồm:
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án hôn
nhân và gia đình
• Nguyên đơn:
Là một bên của quan hệ tranh chấp, là người khởi kiện khi người khởi kiện
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, là chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài có hành vi khơi kiện tranh chấp đến tòa án để yêu cầu giải
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét